VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ MAY
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM NUÔI DƯỠNG TRẺ EM
MỒ CÔI HÀ CẦU, QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số
: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THANH BÌNH
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Công tác xã hội nhóm đối với trẻ em
mồ côi từ thực tiễn Trung tâm nuôi dưỡng trẻ em mồ côi Hà Cầu, quận Hà
Đông, thành phố Hà Nội” là đề tài nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nghiên
cứu và số liệu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài
khác.
Học viên
Vũ Thị May
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu 1.1 Tháp nhu cầu của Abraham Maslow ......................................................... 18
Biểu 1.2 Mô hình hệ thống sinh thái ở trẻ em .......................................................... 25
Biểu 2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức Trung tâm .............................................................. 38
Biểu 2.2. Đánh giá sau bữa ăn của trẻ em ................................................................ 41
Biểu 2.3. Tỷ lệ trẻ em khám bệnh định kỳ ............................................................... 44
Biểu 2.4. Tỷ lệ trẻ em bị bắt nạt ............................................................................... 51
Biểu 2.5.Tỷ lệ thành phần trẻ bị bắt nạt ................................................................... 51
Biểu 2.6. Tỷ lệ về đối tượng bảo vệ trẻ khi bị bắt nạt .............................................. 52
Biểu 2.7. Tình trạng đi học của trẻ em tại Trung tâm .............................................. 53
Biểu 2.8. . Mạng lưới bảo vệ trẻ em do Trung tâm thiết lập .................................... 55
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CTXH
Công tác xã hội
BTXH
Bảo trợ xã hội
NVCTXH
Nhân viên công tác xã hội
HIV/AIDS
UBND
Human Insuffisance Virus/ Acquired Immune
HIV trong năm 2005 [1].
Thể hiện sự quan tâm đặc biệt dành cho trẻ em, Việt Nam là nước đầu tiên ở
châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền trẻ
em của Liên hợp quốc (Việt Nam phê chuẩn ngày 20/02/1990). Bốn nhóm quyền
cơ bản của trẻ trong Công ước của Liên hợp quốc đã được luật hóa trên cơ sở phù
hợp với điều kiện, hoàn cảnh và pháp luật Việt Nam. Cùng với việc hoàn thiện
nhiều văn bản pháp lý liên quan như Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em,
Luật Nuôi con nuôi, Luật phòng chống mua bán người… Đảng và Nhà nước ta
cũng đã ban hành nhiều chương trình, chính sách, kế hoạch hành động nhằm gắn
mục tiêu bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em với các chiến lược phát triển kinh tếxã hội. Trong đó, hệ thống cơ sở BTXH dành cho trẻ em được hình thành rộng khắp
trên cả nước là sự cụ thể hóa hành động của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong
công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, nhất là những trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt trong đó có trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi.
1
Tính đến năm 2009, trên địa bàn cả nước có tất cả 262 [5, 362] cơ sở bảo trợ xã hội
công lập và ngoài công lập hoạt động dưới nhiều hình thức tên gọi khác nhau như trung
tâm (bảo trợ, cứu trợ, hỗ trợ, nuôi dưỡng, điều trị, điều dưỡng, giáo dục, dạy nghề),
làng trẻ em SOS, nhà trẻ, nhà tình thương, nhà nuôi dưỡng, nhà an toàn, mái ấm tình
thương, cô nhi viện, cơ sở nuôi dưỡng, khu bảo trợ… Trong đó, mạng lưới cơ sở
BTXH ở Hà Nội ngày càng phát triển và đa dạng. Theo số liệu thống kê, Hà Nội có 20
cơ sở bảo trợ xã hội, trong đó có đến 14 cơ sở BTXH dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt và 02 trung tâm có đối tượng bảo trợ trọng tâm là trẻ em mồ côi không nơi nương
tựa, trẻ em bị bỏ rơi [5, 6]. Tuy vậy, mạng lưới cơ sở bảo trợ xã hội vẫn chưa thể đáp ứng
kịp thời sự gia tăng nhanh chóng về số lượng đối tượng trẻ em cần được bảo vệ.
Mặt khác, hoạt động chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em tại các cơ sở BTXH hiện
nay diễn ra như thế nào, liệu các hoạt động chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em đó có trở
thành dịch vụ xã hội chuyên nghiệp không hay còn mang nặng tính từ thiện, nhân đạo,
cứu của tác giả Christian Salazar Volkmann. Tác giả đã làm rõ những yếu tố cơ hội
và thách thức cơ bản nhất liên quan đến chương trình đảm bảo quyền và sự tham gia
của phụ nữ và trẻ em Việt Nam trên cơ sở tiếp cận từ quyền con người. Đồng thời cho
thấy, thực hiện đầy đủ quyền đối với phụ nữ và trẻ em mang lại động lực cần thiết để
họ tham gia đầy đủ, có hiệu quả vào các hoạt động xã hội.
“Báo cáo Phân tích tình hình trẻ em ở Việt Nam” do NICEF thực hiện năm
2010. bình đẳng, không phân biệt đối xử và trách nhiệm giải trình. Kết quả nghiên
cứu đã làm rõ tình hình trẻ em nam và nữ, nông thôn và thành thị, dân tộc Kinh và
dân tộc thiểu số, trẻ em giàu và trẻ em nghèo hiện nay ở Việt Nam. Trong đó, nhóm
trẻ em thiếu sự chăm sóc của bố mẹ ở Việt Nam có diễn biến phức tạp. Tình trạng
số lượng cho con nuôi ra nước ngoài cao trong khi đây được quy định là biện pháp
cuối cùng chỉ sử dụng khi không còn cách nào khác. Ngoài ra, báo cáo cũng chỉ ra
rằng Việt Nam còn thiếu các quy định cụ thể cho việc truy tố những đối tượng hoạt
động môi giới cho nhận con nuôi trái pháp luật.
Tác giả Trịnh Hòa Bình với nghiên cứu “Sự hiểu biết giữa gia đình và trẻ em
về vấn đề quyền trẻ em hiện nay” đăng trên Tạp chí Xã hội học số 4/2005. Qua
nghiên cứu tác giả đã cho thấy một vấn đề hết sức quan trọng đó là sự thấu hiểu
giữa cha mẹ và con cái còn nhiều bất cập thể hiện qua những mâu thuẫn cơ bản
trong gia đình Việt Nam hiện nay qua việc phân tích những thông tin định tính và
định lượng từ cuộc khảo sát.
3
Bài viết “Kinh nghiệm của một số nước về hệ thống bảo vệ trẻ em” của tác giả
Nguyễn Hải Hữu cho thấy thực tế ở một số nước phát triển thì việc hình thành hệ
thống bảo vệ trẻ em liên quan rất nhiều đến các quy định của pháp luật và chính
sách hiện hành. Trong bài viết tác giả có đề cập đến một khái niệm mới đó là “tư
pháp thân thiện với trẻ em”. Khi trẻ em vi phạm pháp luật thì áp dụng các hình thức
điều tra, xét hỏi, xử lí tại toà án như thế nào để không gây tổn hại cho trẻ em đặc
“Khảo sát trẻ em mồ côi trên địa bàn Hà Nội” và “Mô hình chăm sóc trẻ
em mồ côi ở Hà Nội” của nguyên Giám đốc làng trẻ SOS Hà Nội Nguyễn Thị
Thanh là hai công trình cấp thành phố đề cập đến TEMC và những mô hình
tương ứng chăm sóc đối tượng này một cách phù hợp. Công trình đã góp phần
nêu cái nhìn tổng quan tình hình TEMC và công tác chăm sóc TEMC trên địa
bàn Thành phố.
Nghiên cứu “Tìm hiểu việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ trong công ước
quốc tế về quyền trẻ em của các gia đình người dân thành phố Hà Nội hiện nay”
của tác giả Lê Thị Vân đã phân tích, đánh giá việc thực hiện nhóm quyền được
bảo vệ trong Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em, các nhân tố cơ bản tác động đến
việc thực hiện nhóm quyền được bảo về của trẻ em tại gia đình và các yếu tố ảnh
hưởng đến việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ ở trẻ em của người dân thành
phố Hà Nội. Tác giả đã đưa ra những nhóm giải pháp, khuyến nghị giúp người dân
nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi trong việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục con
cái trong gia đình.
“Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn với các lớp học linh hoạt” là bài viết của tác
giả Trần Thị Minh Đức giới thiệu mô hình lớp học linh hoạt phù hợp với các em có
hoàn cảnh đặc biệt không thể đến trường học văn hóa hay học nghề dẫn tới chậm
phát triển về trí tuệ và có nguy cơ cao lây nhiễm các tệ nạn xã hội. Đối tượng của
các lớp học linh hoạt này là các em thuộc những gia đình nghèo hoặc có bố mẹ
nghiện hút, buôn bán ma tuý, đánh bạc, bị tù v.v... hoặc các em là trẻ mồ côi được ở
trong các Mái ấm, Nhà tình thương của cộng động. Tác giả chỉ ra một khó khăn lớn
trong hoạt động triển khai mô hình các lớp học linh hoạt một cách rộng rãi trên địa
bàn TP. Hà Nội đó là vấn đề về sự phụ thuộc vào các nguồn tài trợ...
5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Nhân viên công tác xã hội trong việc trợ giúp trẻ mồ côi tại Trung tâm nuôi
dưỡng trẻ em mồ côi Hà Cầu, Hà Đông trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc, giáo
dục và bảo vệ.
6
4.3 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu các văn bản pháp luật, các chủ trương, chính sách của Đảng,
Nhà nước,...về chăm sóc và bảo vệ trẻ em nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng.
- Nghiên cứu thực trạng về hoạt động chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em
mồ côi tại trung tâm Hà Cầu.
ng dụng lý thuyết công tác xã hội nhóm vào việc
can thiệp một nhóm trẻ mồ côi về khả năng tiếp cận các dịch vụ giáo dục nhằm nâng
cao nhận thức về tệ nạn xã hội và rèn luyện kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ. Trên cơ sở đó đề
xuất những biện pháp nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc, giáo dục, bảo vệ
cho trẻ em mồ côi tại Trung tâm.
- Phạm vi không gian nghiên cứu: Khảo sát được tiến hành ở Trung tâm nuôi
dưỡng trẻ em mồ côi Hà Cầu, Hà Đông, Hà Nội.
- Phạm vi về thời gian nghiên cứu Nghiên cứu từ tháng 10 năm 2015 tới
tháng 05 năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Với đề tài này chúng tôi sử dụng một số thuyết để phục vụ cho việc nghiên cứu. Các
thuyết đó là Thuyết nhu cầu của Maslow, thuyết quyền con người, thuyết vai trò và
thuyết hệ thống sinh thái. Các thuyết này được trình bày cụ thể trong chương 1 ở nội
dung 1.2. Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu. Việc sử dụng các thuyết trên
vào trong nghiên cứu nhằm giúp chúng ta có cơ sở, hiểu sâu hơn về tâm, sinh lý, quá
- Quan sát thái độ, hành vi của cán bộ, nhân viên đối với các em trong các hoạt
động hằng ngày.
5.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
- Đối tượng Cán bộ quản lý, chăm sóc và trẻ em tại trung tâm bảo trợ
- Dung lượng mẫu 12 mẫu
- Cơ cấu mẫu Cán bộ quản lý (01), nhân viên chăm sóc (03), trẻ em có hoàn
cảnh mồ côi không nơi nương tựa, bị bỏ rơi (08).
5.2.4. Phương pháp thảo luận nhóm
Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi thực hiện 02 thảo luận nhóm đối với trẻ
em sống tại trung tâm bảo trợ xã hội:
- Thảo luận 1 Đối tượng là những em có thể tự chăm sóc, bảo vệ có độ tuổi
từ 12 đến dưới 16 tuổi nhằm mục đích thu thập ý kiến về các chế độ ăn, mặc, ở, đi
lại, học tập, chăm sóc sức khỏe, các vấn đề liên quan đến sự an toàn như nguy cơ
8
gây thương tích, lây nhiễm tệ nạn xã hội, bị xâm hại, các vấn đề về tâm sinh lý, nhu
cầu, nguyện vọng, sự tham gia giáo dục kỹ năng tự bảo vệ.
- Thảo luận 2 Đối tượng là các em chưa thể tự chăm sóc, bảo vệ có độ tuổi
từ 8 cho đến 12 tuổi nhằm mục đích thu thập thông tin trực quan về điều kiện cơ sở
vật chất, ước mơ, mong muốn, nhu cầu, thói quen thông qua hoạt động tiếp xúc,
tương tác trực tiếp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ lý luận về công tác xã hội,
công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi tại các trung tâm bảo trợ xã hội, qua đó
bổ sung và làm phong phú thêm cách nhìn nhận, đánh giá trong việc trẻ em mồ côi
được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc, giáo dục và bảo vệ.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
quyền con người nói chung ở mỗi quốc gia.
Theo quan điểm của một số tổ chức quốc tế trực thuộc Liên hiệp quốc như
Quỹ Dân số ( NFPA), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Tổ chức Giáo dục, Khoa
học và Văn hóa ( NESCO) xác định trẻ em là người dưới 15 tuổi.
Theo Điều 1, Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em của Liên hiệp quốc công
bố năm 1989 xác định “Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là dưới 18
tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm
hơn” [19].
Tại Việt Nam, theo Điều 11, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì
“Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [25].
Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi vận dụng khái niệm Trẻ em theo Điều
11, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục. Trên cơ sở đó, nhóm trẻ trong phạm vi
nghiên cứu là những em có hoàn cảnh mồ côi không nơi nương tựa, bị bỏ rơi dưới
16 tuổi tại Trung tâm Nuôi dưỡng trẻ em mồ côi Hà Cầu, quận Hà Đông.
1.1.2. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
TECHCĐB là một vấn đề xã hội, xuất hiện và tồn tại trong những bối cảnh
kinh tế - xã hội cụ thể. Hoàn cảnh đặc biệt ở đây được hiểu theo nghĩa là nhóm trẻ
em này gặp những trở ngại khó vượt qua để thực hiện những quyền cơ bản như
10
quyền được sống cùng cha mẹ, gia đình; quyền được bảo vệ; quyền được học tập,
chăm sóc về thể chất, sức khoẻ; quyền được vui chơi giải trí… nếu không có sự
giúp đỡ của Nhà nước, cộng đồng xã hội, gia đình và người thân.
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
sửa đổi năm 2004 “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hiểu là trẻ em có hoàn cảnh
không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện
quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng” [24]. Cũng trong Luật này,
Điều 40 quy định “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm trẻ em mồ côi không nơi
đã chết và người kia không xác định được
- Trẻ em bị bỏ rơi là trẻ em không xác định được cha mẹ đẻ.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xác định, trẻ em mồ côi không
nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi là những em dưới 16 tuổi và có hoàn cảnh Mồ côi
cả cha lẫn mẹ, mồ côi cha hoặc mẹ; và/hoặc không đủ nguồn lực nuôi dưỡng (cha,
mẹ đẻ; cha, mẹ nuôi hợp pháp; ông, bà nội, ngoại; anh, chị, em ruột không đủ năng
lực dân sự, năng lực kinh tế để nuôi dưỡng); và/hoặc không xác định được những
người thân thích (gồm có cha, mẹ đẻ; cha, mẹ nuôi hợp pháp; ông, bà nội, ngoại;
anh, chị, em ruột).
1.1.4. Khái niệm công tác xã hội
Tháng 7 năm 2011 Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH
quốc tế thống nhất định nghĩ về CTXH như sau “ Công tác xã là nghề nghiệp tham
gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự
thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao
chất lượng sống của con người. CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người
và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với môi
trường sống”.
Xuất phát từ hoạt động thực tế tại Việt Nam, Thạc sỹ Nguyễn Thị Oanh định
nghĩa công tác xã hội như sau “ Công tác xã hội là một hoạt động thực tiễn, mang
tính tổng hợp cao được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định
nhằm hỗ trợ cá nhân và nhóm người trong việc giải quyết các vấn đề đời sống của
họ. Qua đó công tác xã hội theo đuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và
tiến bộ xã hội.CTXH là hoạt động thực tiễn bởi họ luôn làm việc trực tiếp với đối
12
tượng, với nhóm người cụ thể và mang tính tổng hợp cao bởi làm CTXH là phải
làm việc với nhiều vấn đề khác nhau như bạo lực, tệ nạn xã hội, nghèo đói...CTXH
không giải quyết mọi vấn đề của con người và xã hội mà chỉ nhằm vào những vấn
Mục đích của công tác xã hội với trẻ em mồ côi
- Giúp cho gia đình và bản thân trẻ em mồ côi có cơ hội được tiếp cận với
các nguồn lực hỗ trợ của xã hội, các địch vụ của xã hội đề từ đó đáp ứng được các
nhu cầu cơ bản của trẻ và cải thiện chất lượng cuộc sống.
- Tăng cường sự tương tác, các mối quan hệ của trẻ em mồ côi với các thành
viên trong xã hội nhằm tạo sự phát triển một cách hài hòa giữa trẻ với gia đình và
xã hội.
- Góp phần phòng ngừa và giải quyết những vấn đề khó khăn của trẻ và gia
đình trẻ.
- Đảm bảo một nền an sinh xã hội tốt cho trẻ em mồ côi và gia đình từ đó
tiến đến đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội.
- Vận động và huy động sự ủng hộ và đóng góp của cộng đồng và toàn xã
hội vào việc hỗ trợ và giúp đỡ cho trẻ em mồ côi hòa nhập được với xã hội và có
thêm nhiều cơ hội để phát triển bản thân.
Vai trò của nhân viên công tác xã hội với trẻ em
- Vai trò là người vận động nguồn lực nhân viên công tác xã hội có vai trò
giúp cho bản thân trẻ và gia đình trẻ tìm kiếm các nguồn lực (về cở vật chất, về
chính sách, về sự ủng hộ…) để họ có thể giải quyết vấn đề của mình .
- Vai trò là người biện hộ nhân viên công tác xã hội bằng những kiến thức
và hiểu biết của mình bảo vệ quyền lợi cho trẻ em và gia đình họ được hưởng
những dịch vụ, chính sách, quyền lợi chính đáng của họ.
- Nhân viên công tác xã hội với vai trò là người kết lối trẻ với các dịch vụ,
chính sách, các nguồn tài nguyên sẵn có từ các cá nhân, các cơ quan tổ chức để trẻ
có thể tiếp cận được với các chính sách, các dịch vụ và sự trợ giúp của cộng đồng từ
đó có thêm sức mạnh để giải quyết vấn đề mà trẻ đang gặp phải.
- NVCTXH là người giáo dục cung cấp những kiến thức, kỹ năng mà trẻ
còn thiếu hụt, để trẻ có hiểu biết, tự tin và sáng suốt nhìn nhận, phân tích và đánh
giá mọi vấn đề xảy ra với mình từ đó có thể linh hoạt hơn trong cách giải quyết vấn
đề mà mình gặp phải.
đề liên quan về tâm lý tình cảm cho các cá nhân mà còn tạo nên môi trường để họ trao
15
đổi thông tin, phát triển kỹ năng xã hội, thay đổi định hướng giá trị, làm chuyển biến
những hành vi không mong muốn.
Tóm lại có thể hiểu CTXH nhóm là một phương pháp trợ giúp các cá nhân
thông qua hoạt động nhóm. Khi tham gia vào nhóm đó, các thành viên đều là những
người có cùng vấn đề, nhu cầu, mục đích và đặc biệt họ có sự phân chia vai trò và
có sự tương tác qua lại với nhau cùng với sự hỗ trợ của các nhân viên xã hội, từ đó
các thành viên trong nhóm có thể vượt qua khó khăn và tự vươn lên phát triển.
Mục đích của công tác xã hội nhóm: có 3 mục đích chính mà công tác xã hội
nhóm hướng đến đó là
- Mục đích phòng ngừa đó là chú trọng đến việc trang bị những kiến thức, kỹ
năng cho các thành viên trong nhóm để từ đó giúp các thành viên nhóm có thể
phòng ngừa được các vấn đề xảy ra với mình.
- Mục đích phục hồi là giúp các cá nhân trong nhóm nâng cao năng lực vượt qua
khó khăn và phát triển.
- Mục đích phát triển là giúp các thành viên nhóm được học hỏi và tiếp cận với
các dịch vụ tốt của xã hội để có cơ hội hoàn thiện và phát triển.
Kỹ năng cần có của NVCTXH khi thực hiện tiến trình CTXH nhóm:
- Kỹ năng lãnh đạo: NVCTXH phải có khả lăng linh hoạt, điều phối, lãnh đạo và
tạo ra sự tương tác giữa các thành viên nhóm để tăng cường sự trao đổi, liên kết và
phát huy tiềm năng của các cá nhân trong nhóm cũng như tiềm năng của cả nhóm.
- kỹ năng lấy ý kiến: NVCTXH cần có thái độ cởi mở, khéo léo để các thành viên
trong nhóm có thể thoải mái chia sẻ, đóng góp ý kiến của mình. Tránh bày tỏ thái
độ trách móc hay chê bai đối với bất kỳ thành viên nào trong nhóm.
- Kỹ năng xử lý các mâu thuẫn, xung đột nhóm NVCTXH cần phải có kỹ điều
hòa các mối quan hệ của các thành viên nhóm để hạn chế xảy ra mâu thuẫn, xung
việc chia sẻ thông tin, cảm xúc giữa các thành viên trong nhóm với nhau. Đặc điểm của
bước này là sự bộc lộ, mong mỏi được phản hồi. trong bước này, các thành viên nhóm
trao đổi thông tin về cá nhân, về công việc, tìm hiểu hành vi và ý nghĩ hành vi của
nhau, bắt tay vào thực hiện các công việc cũng như lượng giá các công việc đó. Nếu
hướng đi chưa đúng sẽ có những điều chỉnh nhất định để đạt được mục tiêu của nhóm.
Bước 4: Kết thúc – Giải quyết vấn đề và đạt mục đích.
17
Sau khi các thành viên nhóm thực hiện các công việc đã đặt ra và họ cảm thấy
thoải mái khi làm việc với nhau thì tới giai đoạn 4 là giai đoạn kết thúc và các vấn
đề của nhóm được giải quyết.
Vào giai đoạn kết thúc này có nhiều trường hợp xảy ra, có thể nhóm tiếp tục
duy trì, cũng có thể nhóm đã hoàn thành mục tiêu và họ có thể tan dã. Tới giai đoạn
cuối này có một công việc rất quan trọng đó là hoạt động lượng giá. Hoạt động
lượng giá sẽ được thực hiện theo giai đoạn và khi kết thúc tiến trình CTXH nhóm.
Việc lượng giá giúp cho NVCTXH cũng như các thành viên nhóm nhìn lại những gì
mình đã làm được, các công việc đó có đúng với mục đích đề ra không và những gì
chưa làm được, nguyên nhân do đâu, cần phải rút kinh nghiệm như thế nào…
1.2. Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu
Nhu cầu là cái gì đó được cho là cần thiết, đặc biệt khi nó được cho là thiết yếu cho sự
sinh tồn của một con người, một tổ chức hay bất kỳ thứ gì khác [8, 416].
Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow được xem là cha đẻ của lý thuyết
nhu cầu. Theo ông, hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ. Nhu cầu tự
nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau theo thứ tự từ thấp đến
cao về tầm quan trọng. Thang nhu cầu của ông chia làm hai cấp cấp thấp và cấp cao.
Biểu 1.1. Tháp nhu cầu của Abraham Maslow
cầu của nhân viên chăm sóc, bảo vệ trẻ em tại Trung tâm là gì và họ có được đáp ứng
hay không khi làm việc tại Trung tâm. Ngoài ra, với tư cách là đại diện pháp lý của
Trung tâm, Giám đốc Trung tâm thể hiện những nhu cầu gì để công tác chăm sóc,
bảo vệ trẻ em tại Trung tâm ngày một tốt hơn.
1.2.2. Lý Thuyết quyền con người
Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề quyền con người. Xuất
phát từ quan niệm coi con người vừa là sản phẩm tự nhiên vừa là sản phẩm của xã hội.
Xét về mặt tự nhiên, C. Mác cho rằng con người là động vật xã hội có khả
năng “ tái sinh ra con người”. Con người là động vật cao cấp nhất trong quá trình
tiến hóa. Do đó, về mặt này quyền con người trước hết là một thuộc tính tự nhiên.
19
Quyền con người không phải là một tặng vật, do giai cấp thống trị ban phát thông
qua nhà nước mà quyền con người trong hình thức lịch sử tự nhiên của nó mang bản
chất tự nhiên, được thể hiện ở quyền được sống quyền tự do, quyền được sáng tạo,
phát triển, quyền được đối sử như con người, xứng đáng với con người.
Về mặt xã hội, con người mặc dù là động vật cao cấp nhất của tự nhiên,
nhưng ngay khi tiến hóa trở thành động vật cao cấp, con người đã sống thành bầy
đàn và trở thành sản phẩm của lịch sử xã hội. Trong luận cương thứ VI về Phoi-ơbắc, C.Mác cho rằng “ Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa
những quan hệ xã hội”. Do đó xét về mặt xã hội, thì quyền con người có ngay từ khi có
xã hội loài người, bên cạnh bản tính tự nhiên còn in đậm bản tính xã hội. Theo Mác”
Quyền con người là những đặc quyền chỉ có ở con người mới có, với tư cách là con
người, là thành viên xã hội loài người”.
Ở Việt Nam, đã có những định nghĩa khác nhau về quyền con người. Học giả
Nguyễn Bá Diến cho rằng “ Quyền con người là các khả năng của con người được
đảm bảo bằng pháp luật về sử dụng và chi phối các phúc lợi xã hội, các giá trị vật chất,
văn hóa và tinh thần, sử dụng quyền tự do trong xã hội trong phạm vi luật định và
quyền quyết định các hoạt động của mình và của người khác trên cơ sở pháp luật”.