Công tác xã hội nhóm đối với người cao tuổi cô đơn từ thực tiễn trung tâm bảo trợ xã hội số III, thành phố hà nội - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI TIẾN THÀNH

CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
CÔ ĐƠN TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI
SỐ III, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số

: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BÙI THỊ MAI ĐÔNG

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Công tác xã hội nhóm đối với người cao tuổi cô
đơn từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội số III, thành phố Hà Nội” là công
trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là
trung thực, đúng với thực tiễn nghiên cứu, chưa từng được công bố trong bất kỳ
công trình nào khác và thông tin trích dẫn trong luận văn cũng được chỉ rõ nguồn
gốc trích dẫn.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.

III, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ........................................................................................ 57
3.1. Lý do sử dụng công tác xã hội nhóm đối với người cao tuổi cô đơn Trung
tâm Bảo trợ xã hội III, thành phố Hà Nội ............................................................ 57
3.2. Tiến trình công tác xã hội nhóm đối với người cao tuổi cô đơn Trung tâm
Bảo trợ xã hội III, thành phố Hà Nội .................................................................... 57
3.3. Khuyến nghị ................................................................................................... 74
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................... 81
PHỤ LỤC .................................................................................................................... 83


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CBNV

Cán bộ nhân viên

CTXH

Công tác xã hội

NCT

Người cao tuổi

NVCTXH

Nhân viên công tác xã hội

TP



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Có tuổi thọ cao, đó là xu thế mà con người muốn hướng tới trong cuộc sống
và trên thực tế, tuổi thọ trung bình của con người trên thế giới ngày càng cao hơn.
Liên hợp quốc đã lưu ý rằng “kỷ nguyên của người cao tuổi” sẽ nổi lên trong thế kỷ
XXI. Những dự báo trên đã thành hiện thực khi nhóm người cao tuổi nhất thế giới
tại thời điểm năm 2005 chiếm 18% tổng dân số toàn thế giới, 24% tại các quốc gia
phát triển và 15% tại các quốc gia kém phát triển. Dự kiến đến năm 2025 sẽ đạt tới
1,2 tỷ NCT chiếm khoảng 20% dân số thế giới. Sự gia tăng số lượng NCT trong
tổng số dân số toàn cầu là vấn đề đáng quan tâm. Nó mang lại nhiều cơ hội song
cũng không ít thách thức. Hàng triệu người cao tuổi ở các nước phát triển trung bình
và thu nhập thấp đang đối mặt với những vấn đề nghèo đói và bệnh tật.
Nhìn từ góc độ cuộc sống, chúng ta nhận thấy “Sinh-Lão-Bệnh-Tử” đó là
quy luật của cuộc đời con người, gần như ai cũng phải trải qua các giai đoạn như
thế. Tuổi già dẫn đến sự thay đổi theo chiều hướng suy giảm về sức khỏe, trí nhớ,
khả năng lao động, sự thay đổi về tâm sinh lý. Điều đó khiến NCT cảm thấy hụt
hẫng, có tâm lý tiếc nuối tuổi trẻ, hoài cổ, trầm tư, cô đơn. Ngay cả khi sống trong
gia đình có điều kiện kinh tế, vợ chồng, con cái đầy đủ thì nhiều khi NCT vẫn cảm
thấy mình lạc lõng, như người thừa trong gia đình và xã hội, bản thân không còn
hữu ích. Bởi thế, họ mong muốn được động viên, chia sẻ, được tôn trọng từ phía
con cái, gia đình và xã hội. Tục ngữ Việt Nam có câu “Trẻ cậy cha, già cậy con”,
đối với NCT, lúc “xế chiều” rất cần sự giúp đỡ của con cái, đặc biệt là những NCT
có sức khỏe yếu hay không đủ thu nhập nuôi sống bản thân.
Như vậy đối với NCT cô đơn thì sẽ ra sao? Chắc chắn mọi thứ sẽ khó khăn
hơn rất nhiều. Những NCT với các hoàn cảnh kém may mắn như không chồng (vợ),
không con cái, hoặc có con nhưng con đã chết vì bệnh tật, tai nạn... Nhiều người
không có nhà cửa, không có thu nhập nuôi sống bản thân, có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn, nhiều người phải đi tha phương cầu thực, làm thuê, nhặt rác, lang thang đầu

Chính vì vậy, việc thành lập các nhóm các cụ tham gia theo nhu cầu nguyện
vọng về lĩnh vực các cụ quan tâm là rất cần thiết trong Trung tâm Bảo trợ xã hội.
Tham gia vào nhóm sẽ tạo cơ hội cho các cụ sinh hoạt nhóm nề nếp, có điều kiện

2


thuận lợi cùng chia sẻ tâm tư nguyện vọng, tình cảm, hỗ trợ, động viên nhau trong
cuộc sống, đồng thời làm phong phú đời sống tinh thần, giải tỏa những phiền muộn,
nỗi buồn vơi đi và niềm vui được nhân lên. Thiết nghĩ, CTXH nhóm đối với NCT
tại Trung tâm Bảo trợ xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng
cuộc sống của các cụ, đồng thời là phương pháp hoạt động phù hợp góp phần tạo
nên hiệu quả của CTXH, nâng cao chất lượng dịch vụ CTXH, góp phần đổi mới tổ
chức hoạt động CTXH. Từ đó góp phần hướng tới phát triển dịch vụ đối với NCT
mang tính chuyên nghiệp hơn, nhất là khi Nhà nước đang có chính sách dịch vụ mở
rộng các loại hình dịch vụ trong đó có dịch vụ tự nguyện đóng góp kinh phí. Bởi
vậy, tác giả chọn đề tài nghiên cứu là: “Công tác xã hội nhóm đối với người cao
tuổi cô đơn từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội số III, thành phố Hà Nội”.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1. Một số nghiên cứu về người cao tuổi và người cao tuổi cô đơn
Nhà tâm lý học người Mỹ Ann Bowling (1998) dẫn ra một số nghiên cứu về
sự lão hóa có liên quan đến chất lượng sống của tuổi già: đó là sự tách rời, sự tiếp
tục hoạt động và sự liên tục. Tổng hợp kết quả nghiên cứu thực nghiệm về các kiểu
hình về chất lượng sống tuổi già của một số tác giả, ông đã kết luận về việc nâng
cao chất lượng cuộc sống chính là tăng sức khỏe, niềm vui của tuổi già [22, pg.43].
Năm 1998, các nhà tâm lý học M. Pinquart, H. Newman đã chứng minh tuy
người cao tuổi có sức khỏe kém hơn những người trẻ tuổi nhưng trạng thái hạnh
phúc không giảm đi ở tuổi già, có nghĩa là trạng thái hạnh phúc ở người cao tuổi
không hề thấp hơn trạng thái hạnh phúc ở người trẻ tuổi hơn [24].
Tác giả Arnold Rose đã nghiên cứu về văn hóa thế hệ, cho rằng NCT có xu

cực và tiêu cực, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường các yếu tố ảnh hưởng đến
tâm trạng tích cực và hạn chế các yếu tố dẫn đến tâm trạng tiêu cực, góp phần cải
thiện đời sống tinh thần cho phụ nữ đơn thân.
Đi sâu nghiên cứu về đời sống tâm lý của NCT, năm 2003 và 2004, các tác
giả Thiện Nhân và Phạm Đi cho rằng, đối với NCT, vấn đề quan tâm đến tâm linh,
thờ cúng tổ tiên là quan trọng. Ngoài ra, trong mối quan hệ với con cháu thì nhu cầu
chăm sóc, yêu thương làm cho niềm vui của họ được nhân lên, tuổi thọ kéo dài.
NCT tự thấy mình già đi, sức khỏe giảm sút, cảm giác bị con cháu bỏ rơi, sống “thu
mình” và xa cách người thân, hạn chế giao tiếp xã hội. Chính vì vậy, NCT cảm thấy

4


sống những chuỗi ngày còn lại trống trải, cô đơn, vô dụng [14]. [4].
Các nghiên cứu vào những năm 1997, 1999 ở Việt Nam cho thấy vấn đề hôn
nhân và gia đình của NCT đang là vấn đề cần được quan tâm. Cuộc điều tra dân số
năm 1989 cho biết trong số 1,9 triệu cụ ông và 2,7 triệu cụ bà (từ 60 tuổi trở lên), có
282.307 cụ ông góa vợ và 1.414.077 cụ bà góa chồng. Sự “ra đi” của một người làm
cho người kia choáng váng, hụt hẫng. Bởi vì họ có nhiều thời gian rỗi trong khi con
cái đã trưởng thành và luôn bận rộn với những lo toan riêng; có phạm vi hoạt động
hẹp, giao tiếp với bên ngoài ít nên khi phải sống một mình họ cảm thấy trống trải,
buồn bã và cô đơn [1], [16].
2.2. Một số nghiên cứu về công tác xã hội với người cao tuổi
Tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa (2012) trong cuốn tài liệu “Công tác xã hội
trợ giúp người cao tuổi” đã trình bày một số nội dung về CTXH với NCT như: Các
khái niệm, hệ thống lý thuyết áp dụng, các chương trình, chính sách, một số mô
hình trợ giúp NCT hiện nay. Đây là kiến thức rất cần thiết để NVCTXH vận dụng
thực hành trợ giúp NCT [7].
Tác giả Bảo Khang [9, 2009], cho rằng “già” chỉ là sự khủng hoảng tinh thần
trong giá trị cuộc sống: mất đi sự tôn trọng, nói con cái không chỉ không nghe,

Theo tác phẩm “Tiếp cận văn hóa người cao tuổi” của tác giả Nguyễn
Phương Lan (2000): “Người cao tuổi chuyển đổi từ môi trường hoạt động tích cực
sang môi trường nghỉ ngơi hoàn toàn. Với thời gian rỗi qúa nhiều trong khi sức
khỏe ngày càng kém đi đã khiến cho họ rơi vào trạng thái tâm lý cô lập với thế giới
xung quanh, đòi hỏi cần có nhu cầu giao tiếp mãnh liệt. Do kinh nghiệm sống của
các cụ nhiều khi hơn lớp trẻ, được tiếp xúc với nhiều nên văn hóa mang tính truyền
thống. Khác với lớp trẻ, văn hóa của người cao tuổi không chỉ có đơn thuần là giao
tiếp xã hội mà mang tính truyền thống với ba loại giao tiếp cơ bản: Giao tiếp với tự
nhiên, với thế giới xung quanh; giao tiếp với thần linh, lực lượng siêu nhiên; giao
tiếp với xã hội, con người”. [11]. Tác giả đã nhận định đối với các cụ trong đời
sống hiện nay thì nhu cầu giao tiếp xã hội, với con người ta là quan trọng nhất.
Đề tài “Tìm hiểu mức độ trầm cảm ở người già sống trong trung tâm bảo trợ
xã hội thành phố Đà Nẵng” của hai sinh viên Nguyễn Thị Hoa và Nguyễn Thị Sánh
lớp 06CTL - Khoa Tâm lí - Giáo dục, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, cho thấy
được mức độ trầm cảm và những yếu tố ảnh hưởng đến trầm cảm ở NCT sống trong

6


Trung tâm bảo trợ xã hội Đà Nẵng, giúp hiểu rõ và sâu sắc hơn về vấn đề trầm cảm
ở NCT sống trong các trung tâm bảo trợ xã hội. Từ đó có các biện pháp ngăn ngừa
và chữa trị phù hợp, các mô hình hỗ trợ có hiệu quả đối với NCT ở hoàn cảnh này.
Nhìn chung, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào đối tượng NCT nói chung,
ít nghiên cứu đi sâu về NCT cô đơn, đặc biệt là NCT cô đơn tại các Trung tâm Bảo
trợ xã hội. Hiện nay, với nguồn kinh phí bảo trợ xã hội còn hạn hẹp, cơ sở vật chất
của các trung tâm Bảo trợ xã hội còn khó khăn, thiếu thốn, bên cạnh đó phương
pháp tổ chức hoạt động CTXH, tronng đó có CTXH nhóm tại các Trung tâm Bảo
trợ xã hội chưa đa dạng phong phú, nề nếp, chuyên sâu và tính chuyên nghiệp chưa
cao. Điều kiện sống của NCT cô đơn mới chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu, đời sống
vật chất, tinh thần chưa cao, các cụ ít có cơ hội được tham gia các hoạt động nhóm,

-Đề xuất khuyến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động chuyên môn CTXH nhóm
đối với NCT cô đơn Trung tâm Bảo trợ xã hội III, TP Hà Nội và các Trung tâm Bảo
trợ xã hội ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội nhóm đối với NCT cô đơn tại Trung tâm Bảo trợ xã hội.
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Người cao tuổi cô đơn Trung tâm Bảo trợ xã hội III, thành phố Hà Nội.
- Cán bộ nhân viên Trung tâm Bảo trợ xã hội III, thành phố Hà Nội.
- Một số người thân (họ hàng, bạn bè…) của NCT cô đơn.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Các số liệu thu thập làm dữ liệu nghiên cứu là những số
liệu từ năm 2012 đến nay.
Phạm vi không gian: Trung tâm Bảo trợ xã hội III, thành phố Hà Nội.
Giới hạn nội dung nghiên cứu:
- Chỉ tập trung vào nghiên cứu việc sử dụng loại hình nhóm can thiệp.
- Chỉ nghiên cứu trong tổ chức các hoạt động nhóm đối với NCT cô đơn
đang được chăm sóc nuôi dưỡng tại Trung tâm Bảo trợ xã hội III, TP Hà Nội.
Giới hạn về khách thể nghiên cứu:
- Chỉ nghiên cứu NCT cô đơn được chăm sóc nuôi dưỡng tại Trung tâm Bảo
trợ xã hội (Không nghiên cứu NCT cô đơn tại cộng đồng).

8


5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: từ những đánh giá thực tế về
NCT cô đơn, nhu cầu của NCT cô đơn trên cơ sở thực tiễn để đúc rút lý luận và
những đề xuất thực tiễn, hoạch định chính sách về CTXH.

được thực hiện bởi những quan sát trong điều kiện gây biến đổi đối tượng khảo sát
và môi trường xung quanh đối tượng khảo sát một cách có chủ định. Vận dụng
phương pháp này, tác giả ứng dụng CTXH nhóm vào thực tiễn thông qua thành lập
một nhóm NCT cô đơn và tổ chức thực hiện hoạt động nhóm thực tế tại Trung tâm.
-Phương pháp thảo luận nhóm: Tác giả tổ chức 2 cuộc thảo luận nhóm: một
nhóm nhiệm vụ gồm 3 nhân viên chăm sóc NCT cô đơn và một nhóm thân chủ gồm
8 cụ là NCT cô đơn tại Trung tâm Bảo trợ xã hội III, TP Hà Nội nhằm thu thập các
thông tin về việc thành lập, tổ chức hoạt động nhóm.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1.Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu góp phần bổ sung và
làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về CTXH nhóm nói chung, CTXH nhóm đối với
NCT cô đơn nói riêng, như: khái niệm, mục đích của CTXH đối với NCT cô đơn,
tiến trình CTXH nhóm với NCT; vai trò, các yếu tố ảnh hưởng đến CTXH nhóm
đối với NCT cô đơn. Thông qua nghiên cứu này, có thể nhìn nhận về CTXH nhóm
đối với NCT cô đơn từ góc độ khoa học, mô tả, đánh giá vấn đề bằng những lý
thuyết khoa học liên quan ngành CTXH. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu có thể là
nguồn tư liệu tham khảo cho nghiên cứu về sau trong lĩnh vực này.
6.2.Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu thực trạng CTXH nhóm đối với NCT cô đơn từ thực tiễn
Trung tâm Bảo trợ xã hội III, TP Hà Nội, đặc biệt, kết quả thử nghiệm ứng dụng
phương pháp CTXH nhóm đối với NCT cô đơn tại Trung tâm đã góp phần khẳng
định CTXH nhóm đối với NCT cô đơn là hoạt động mang tính chuyên nghiệp, đòi
hỏi NVCTXH phải có những kiến thức nhất định về nhóm, về NCT cô đơn; có các
kỹ năng làm việc nhóm mới có thể giúp NCT cô đơn giải quyết các vấn đề của bản
thân để sống vui, sống khỏe.
Những khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của CTXH nhóm đối với NCT

10


nhau về lứa tuổi và có các biểu hiện về già của mỗi nước khác nhau.
Theo Pháp luật Việt Nam tại điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009 quy định:
Người cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên.
Đặc điểm tâm lý cuả NCT
Về trí tuệ: Ở NCT, tính ham hiểu biết vẫn còn, chẳng hạn như họ hứng thú
theo dõi tin tức, thời sự, khoa học kỹ thuật, những trào lưu mới trong xã hội. Song
về mặt trí nhớ, tư duy có sự thay đổi rõ rệt:
Về trí nhớ: trí nhớ ngắn hạn giảm sút, trí nhớ dài hạn thì vẫn ở mức độ tương
đối cao. Do dó, NCT có tính hay quên, họ có thể quên ngay điều họ vừa thấy, hoặc
quên những điều mình vừa làm. Nhưng những kỷ niệm cũ có thể nhớ tương đối rõ.
Vì thế họ thường sống nặng về nội tâm, nhớ về quá khứ, hoài cổ.
Về tư duy: Hoạt động tư duy để ra quyết định chậm, nhưng do có nhiều kinh
nghiệm sống, sự trải nghiệm nên quyết định của họ thường chín chắn hơn.
Về tính cách: Thay đổi tính cách, họ thường khó tính hơn, kỹ tính, dễ cáu
gắt, tủi thân, mủi lòng. Nhiều người bị gọi là “lẩm cẩm” vì hay lo lắng chuyện
không đâu, quá lo xa, quá cẩn thận, vì họ bị lạc hậu so với cuộc sống của giới trẻ

12


Đặc điểm thể chất của NCT
Hiện tượng lão hóa xuất hiện, cường độ trao đổi chất giảm. Hệ hô hấp, hệ
tuần hoàn kém hơn. Độ nhạy cảm giác quan kém (mắt mờ, tai nghễnh ngãng, trí nhớ
giảm). Khả năng chống đỡ tác nhân ngoại cảnh kém, khả năng tình dục giảm.
Đời sống xã hội của NCT
NCT đã kết thúc giai đoạn lao động chính thức. Nhiều người sau khi nghỉ
hưu vẫn tham gia lao động dưới nhiều hình thức. Một số người tiếp tục tạo thu nhập
bằng nghề nghiệp cũ, hoặc nhận công việc mới phù hợp với sức lực, hoặc đảm
đương công việc nội trợ gia đình, quản lý nhà cửa, trông nom các cháu. Những suy
nghĩ, việc làm của NCT có xu hướng không nhằm lợi ích kinh tế mà hướng vào các

dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở bảo
trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng.
Tại Điều 25, Khoản 1, Điểm b, Nghị định 136 2013 NĐ-CP cũng quy định
đối tượng được chăm sóc nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội: Người
cao tuổi thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội
theo quy định của pháp luật về người cao tuổi. [3, 2013].
Có thể hiểu NCT cô đơn được chăm sóc nuôi dưỡng trong Trung tâm Bảo
trợ xã hội là NCT thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng
dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, được tiếp nhận vào Trung tâm Bảo
trợ xã hội hưởng chế độ chăm sóc nuôi dưỡng tập trung.
NCT cô đơn trong đề tài này là những NCT được chăm sóc, nuôi dưỡng tại
Trung tâm Bảo trợ xã hội theo quy định trong Nghị định 136 2013 NĐ-CP ngày
21/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ.
1.1.2. Vai trò của người cao tuổi
Vai trò là người trụ cột trong gia đình; vai trò là người lao động, góp phần
tạo thu nhập cho gia đình; vai trò là người chăm sóc, giáo dục con cháu; vai trò là
người dung hòa các mối quan hệ và bảo tồn các giá trị văn hóa gia đình; vai trò
nòng cốt trong các phong trào, các cuộc vận động ở địa phương. [5, 2014].
1.1.3. Đặc điểm của người cao tuổi cô đơn
Đặc tâm lý, thể chất cuả NCT cô đơn
Người cao tuổi cô đơn cũng có những đặc điểm tâm lý, thể chất như những
NCT khác, bên cạnh đó họ còn có một số đặc điểm riêng sau:

14


Họ thường có hoàn cảnh cô đơn, éo le, không chồng (vợ), không con. Khó
khăn về kinh tế, không có nơi ở ổn định, sống bằng lều tạm ở gầm cầu, vỉ hè, không
có thu nhập, phải bươn trải lo kiếm cái ăn qua ngày, nhiều người lang thang ăn xin,
nhặt rác. Khi được vào trung tâm bảo trợ xã hội, họ rất biết ơn Đảng và Nhà nước,

tham gia các hoạt động xã hội, bên cạnh đó, do mặc cảm, sống khép mình nên họ
thường ngại giao lưu, tham gia các hoạt động tập thể.
- Nhu cầu cơ bản của người cao tuổi cô đơn
Nhu cầu về nơi ở: Nhiều người chỉ cần có chỗ ở ổn định, không phải sống
cảnh lang thang, “Gầm cầu, góc chợ”. Nhu cầu được có cơm ăn, áo mặc thường
xuyên hàng ngày: Những điều kiện thiết yếu phục vụ cho con người sinh tồn. Nhu
cầu được chăm sóc sức khỏe y tế: được khám, tư vấn và điều trị bệnh. Nhu cầu
được động viên, chia sẻ về tinh thần, tâm lý: giúp họ vượt qua sự mặc cảm, tự ti,
nhìn vào nỗi đau, mất mát nhẹ nhàng hơn và sống vui vẻ, thanh thản hơn. Nhu cầu
được cảm thông, tôn trọng: Tuy hoàn cảnh khó khăn, bất hạnh nhưng mỗi con
người đều có lòng tự trọng, bởi vậy NCT cô đơn cần được cảm thông, tôn trọng như
những NCT khác trong xã hội. Nhu cầu được tham gia các hoạt động xã hội: Tham
gia các hoạt động xã hội giúp NCT cô đơn hòa nhập vào cộng đồng xã hội, không bị
tách rời cộng đồng, họ cảm thấy mình không cô đơn, lẻ loi và vẫn có ích cho xã hội.
1.2. Một số vấn đề lý luận về công tác xã hội nhóm đối với người cao tuổi cô đơn
1.2.1. Khái niệm, các loại nhóm người cao tuổi cô đơn
- Khái niệm nhóm
Theo quan điểm giải thích cổ điển, “Một nhóm được định nghĩa như là hai
hay nhiều người có tương tác với một người khác theo cách mỗi một người đều gây
ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng của mỗi người khác” (Từ điển xã hội học, tr.299).
- Khái niệm nhóm xã hội
Theo các nhà xã hội học: “Nhóm xã hội là một tập hợp của những cá nhân
được gắn kết với nhau bởi những mục đích nhất định. Những cá nhân có những hoạt
động chung với nhau trên cơ sở cùng chia sẻ và giúp đỡ nhau nhằm đạt được những
mục đích cho mọi thành viên” (Từ điển Xã hội học phương Tây hiện đại, 1990).
- Khái niệm nhóm người cao tuổi cô đơn
Có thể hiểu, nhóm người cao tuổi cô đơn là một tập hợp NCT cô đơn có từ
hai người trở lên, giữa họ có sự tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình thực

16


17


đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng
cường sự trao quyền, giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con
người. CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống
xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với môi trường sống. [19, tr.4].
CTXH là một nghề thúc đẩy xã hội thay đổi, bằng cách giải quyết vấn đề
trong mối quan hệ giữa người với người, thúc đẩy trao quyền, giải phóng con người.
Mục đích cuối cùng của CTXH là đảm bảo hạnh phúc cho mọi người. Người làm
CTXH sử dụng lý thuyết hành vi con người, các hệ thống xã hội để can thiệp vào
những thời điểm khi con người tương tác với môi trường sống của mình. [8, tr.2].
Khái niệm 3: Theo từ điển Bách khoa ngành CTXH: “Công tác xã hội là một
ngành khoa học xã hội ứng dụng nhằm giúp con người thực hiện chức năng tâm lý
xã hội của mình có hiệu quả và tạo ra những thay đổi trong xã hội để đem lại sự an
sinh cao nhất cho con người”, là “Một nghệ thuật, một khoa học, một nghề giúp
người dân giải quyết vấn đề từ cấp độ cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng”.
Khái niệm 4: Quan điểm của Philippin: CTXH là một nghề chuyên môn,
thông qua các dịch vụ xã hội nhằm phục hồi, tăng cường mối quan hệ qua lại giữa
các cá nhân và môi trường vì nền an sinh của cá nhân và toàn xã hội. [19, tr.57].
Khái niệm 5: Tác giả Bùi Thị Xuân Mai định nghĩa: “Công tác xã hội là một
nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng
đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng
thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá
nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần
đảm bảo an sinh xã hội”. [10, tr.63].
CTXH dưới nhiều hình thức đa dạng, nhằm vào vô số các tương tác phức
hợp giữa con người và môi trường của họ. Sứ mạng của nó là tạo năng lực giúp
người dân phát triển tối đa tiềm năng, làm phong phú đời sống và ngăn ngừa các

chất và tinh thần, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và
dịch vụ tăng cường trợ giúp thực hiện quyền của người cao tuổi, góp phần đảm bảo
an sinh xã hội”.
1.2.2.3. Khái niệm công tác xã hội nhóm
Có nhiều cách định nghĩa về công tác xã hội nhóm khác nhau:
Trong Từ điển CTXH của Barker (1995, tr.85), CTXH nhóm được định nghĩa là:

19


“Một định hướng và phương pháp can thiệp CTXH, trong đó các thành viên chia sẻ
những mối quan tâm và những vấn đề chung họp mặt thường xuyên và tham gia vào
các hoạt động được đưa ra nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể. Đối lập với trị
liệu tâm lý nhóm, mục tiêu CTXH nhóm không chỉ là trị liệu những vấn đề tâm lý,
tình cảm, mà còn là trao đổi thông tin, phát triển kỹ năng xã hội, lao động, thay đổi
các định hướng giá trị và làm chuyển biến các hành vi chống lại xã hội thành các
nguồn lực hiệu quả. Các kỹ thuật can thiệp đều được đưa vào quá trình CTXH
nhóm nhưng không hạn chế kiểm soát những trao đổi về trị liệu”. [17, tr.85].
Khái niệm trên có đưa ra sự khác biệt giữa CTXH nhóm và trị liệu tâm lý
nhóm ở việc “phát triển các kỹ năng xã hội vào lao động, thay đổi định hướng giá
trị và làm chuyển biến hành vi chống lại xã hội”. Để kiểm chứng cho khác biệt trên,
chúng ta tìm hiểu khái niệm về trị liệu tâm lý, trong đó bao gồm cả trị liệu tâm lý
nhóm. Từ điển CTXH của Barker (1995) nêu: “Trị liệu tâm lý là một hoạt động
tương tác đặc biệt và chính thức giữa một nhân viên xã hội hay các chuyên môn về
sức khỏe tâm thần khác với thân chủ cá nhân, hai người, gia đình hay nhóm, ở đó
mối quan hệ trị được thiết lập để giải quyết những biểu hiện của rối nhiễu tâm thần
căng thẳng tâm lý xã hội, các vấn đề quan hệ và những khó khăn gặp phải trong môi
trường xã hội”. Như vậy có thể thấy sự khác biệt lớn trong trị liệu tâm lý nhóm và
CTXH nhóm là ở những hoạt động mang tính chất chuyên sâu hơn và thường được
các nhà tâm lý học hay tâm thần học sử dụng trong quá trình hỗ trợ, trị liệu thân chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status