Công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ từ thực tiễn trường tiểu học mai dịch, quận cầu giấy, thành phố hà nội - Pdf 37

TRẦN THỊ MINH KHƯƠNG

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

CÔNG TÁC XÃ HỘI

TRẦN THỊ MINH KHƯƠNG

KHOÁ V ĐỢT 2 - NĂM 2014

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỀ GIÁO DỤC HÒA NHẬP ĐỐI VỚI


TRẺ TỰ KỶ TỪ THỰC TIỄN TRƯỜNG TIỂU HỌC MAI
DỊCH, QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2016


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ MINH KHƯƠNG

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỀ GIÁO DỤC HÒA NHẬP ĐỐI VỚI
TRẺ TỰ KỶ TỪ THỰC TIỄN TRƯỜNG TIỂU HỌC MAI


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

GDHN
CTXH
NNC
TTK
GVCN
NVXH
TC

Giáo dục hoà nhập
Công tác xã hội
Người nghiên cứu
Trẻ tự kỷ
Giáo viên chủ nhiệm
Nhân viên xã hội
Thân chủ


DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU, SƠ ĐỒ
TT
1

Tên các bảng, sơ đồ
Bảng 2.1: Số lượng trẻ tự kỷ tham gia học hòa nhập tại Trường Tiểu
học Mai Dịch, quận Cầu Giấy, Hà Nội

2



6

Trang

42

Bảng 2.6: Kết quả thực hiện nhiệm vụ đánh giá nhu cầu, cùng xây
dựng kế hoạch trợ giúp trẻ tự kỷ và gia đình

44

Bảng 2.7: Hoàn cảnh kinh tế của gia đình trẻ tự kỷ

45

Biểu đồ 2.1: Nhiệm vụ tham vấn đối với phụ huynh, giáo viên và
những người tham gia hỗ trợ giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ

47

Biểu đồ 2.2: Bộ ba đặc điểm của trẻ tự kỷ khiếm khuyết

49

Biểu đồ: 2.3: Trình độ chuyên môn của nhân viên xã hội

50

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ sinh thái

sống ổn định, có điều kiện học tập, chăm sóc sức khỏe, tự vươn lên trong cuộc
sống. Để thực hiện điều đó, nhiều chủ trương pháp luật về CTXH đã được Đảng và
Nhà nước ban hành như: Bộ Luật Lao động, Luật người cao tuổi, Luật người khuyết
tật, Luật chăm sóc và bảo vệ trẻ em…Trên cơ sở chính sách được ban hành đã phần
nào đáp ứng được một số nhu cầu cơ bản cho các đối tượng nói trên.
Trong những năm gần đây, công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật nói
chung và trẻ tự kỷ (TTK) nói riêng được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng.
Để tạo cơ hội cho các em được tới trường học tập như mọi trẻ em bình thường khác,
nhiều văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng, ban hành như: Thông tư Liên
tịch số 42 (2013 BGDĐT, BTC và BLĐTBXH) đã ban hành hướng dẫn về việc
nhập học, tuyển sinh, miễn giảm học phí và một số nội dung môn học và cho phép
các trường yêu cầu nguồn kinh phí để hỗ trợ giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật;
Năm 2006, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy định về giáo dục hòa nhập
dành cho người khuyết tật (23/2006/QĐ- BGD&ĐT);… Những văn bản pháp lý nói
trên đã quy định về vấn đề GDHN cho trẻ khuyết tật ở nước ta. Song điều đáng nói
ở đây là trẻ tự kỷ lại chưa được pháp luật chính thức công nhận là một dạng khuyết
tật. Do vậy, các em chưa có điều kiện để được tham gia vào quá trình GDHN như

1


trẻ khuyết tật khác. Trẻ tự kỷ chưa có chế độ miễn giảm một số khoản phí như trẻ
khuyết tật khi học hòa nhập tại các trường.
Theo Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Nội, năm học 2011-2012, có hơn 1.000 trẻ tự
kỷ đang học cấp tiểu học và con số này không ngừng gia tăng. Tuy nhiên, để trẻ tự
kỷ được đi học hòa nhập lại không hề đơn giản, việc xin vào học tại các trường tiểu
học phần lớn phụ thuộc vào mối quan hệ cá nhân của cha mẹ, hoặc phải thông qua
các Trung tâm hỗ trợ GDHN do tư nhân thành lập. Trên thực tế, nhiều trường
không muốn nhậntrẻ tự kỷ, nhiều giáo viên không muốn dạy vì lo ảnh hưởng đến
thành tích chung của trường, của lớp. Khi trẻ tự kỷ đi học, cha mẹ các em phải chi

Công tác xã hội đã phát triển trên thế giới từ những năm đầu của thế kỷ XX,
tiêu biểu như là ở Anh, Mỹ, Canada, Úc… Đến nay CTXH đã có mặt ở hầu hết các
quốc gia trên thế giới, với nỗ lực trợ giúp các nhóm người yếu thế (trẻ em, phụ nữ,
người cao tuổi, người khuyết tật…), những cộng đồng nghèo để họ vươn lên hòa
nhập với sự phát triển chung của xã hội, đảm bảo an sinh cho mọi người dân, tất cả
vì sự tiến bộ của nhân loại và công bằng xã hội. Đã có nhiều hội thảo, hội nghị, bài
báo, công trình khoa học nghiên cứu hoạt động của CTXH đối với nhóm yếu thế.
Trong đó, có các nghiên cứu cụ thể về CTXH đối với người khuyết tật như: Dark
and Light Blind Care (2008), “Inclusion of disabled people in Vocational Training
and income.” Trong cuốn báo cáo tổng kết chương trình công tác xã hội với người
khuyết tật, nhóm tác giả đã nêu lên được các chương trình chính sách, quyền của
người khuyết tật; Các phương pháp, cách thức hỗ trợ người khuyết tật trong vấn đề
việc làm và hòa nhập với đời sống xã hội, giảm sự phụ thuộc tối đa của người
khuyết tật đối với xã hội. Trong những năm gần đây, trẻ tự kỷ cũng được coi là
nhóm yếu thế trong xã hội và là đối tượng của ngành công tác xã hội. Hiện nay tự
kỷ là một vấn đề toàn cầu, dành được nhiều sự quan tâm của các cơ quan đoàn thể
của nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, mới chỉ có những chương trình hoạt
động mang tính chất CTXH dành cho trẻ tự kỷ [19].

3


Một tổ chức chuyên nghiên cứu về biện pháp can thiệp giúp cải thiện nhận
thức ở trẻ tự kỷ đã ghi nhận hiệu quả của phương pháp tương tác xã hội đối với trẻ
tự kỷ. Nghiên cứu này được thực hiện tại đại học ở Washington, nằm trong chuỗi
chương trình chuyên biệt nhằm tìm hiểu về phương pháp cải thiện nhân thức và
phản ứng của não bộ trẻ tự kỷ. Đứng đầu nhóm nghiên cứu bà Geraldine Dawson
cho biết: “Quá trình lớn lên và tiếp thu của một đứa trẻ đang tập đi ảnh hưởng rất
nhiều đến khả năng tương tác xã hội hàng ngày của các em. Riêng đói với những
đứa trẻ mắc chứng tự kỷ thì sự can thiệp sớm của cộng đồng sẽ giúp các bé nhận

được sự bảo trợ của xã hội để có cơ hội phát triển theo khả năng thế mạnh của
mình, các em đang cần sự chung tay giúp đỡ của toàn xã hội, trong đó có vai trò đặc
biệt quan trọng của công tác xã hội. Công tác xã hội đối với nhóm yếu thế nói
chung và trẻ tự kỷ là lĩnh vực còn khá mới mẻ, các công trình nghiên cứu trong
nước còn hạn chế, tác giả xin khái quát một số công trình, kết quả khoa học đã được
thực hiện ở Việt Nam.
Phạm Văn Quyết (2012), “Công tác hỗ trợ nhóm yếu thế ở Việt Nam.” Trong
bài viết của mình tác giả đã nêu lên thực trạng đời sống xã hội của các nhóm người
yếu thế ở Việt Nam hiện nay, nhu cầu của nhóm người yếu thế, những rào cản làm
ảnh hưởng đến đời sống và hòa nhập của nhóm người yếu thế trong cộng đồng [12].
Một nghiên cứu khác về vấn đề việc làm cho thanh niên tự kỷ của Trần Thị
Minh Thư với nhan đề "Những cơ hội việc làm cho các bạn thanh niên tự kỷ - một
trường hợp của Việt Nam" . Đây là luận văn thạc sĩ chuyên ngành CTXH tại đại
học Linnaeus (Thụy Điển).Tác giả nghiên cứu đã tìm hiểu vấn đề cơ hội việc làm
cho thanh niên tự kỷ trên khía cạnh hòa nhập xã hội đối với thanh niên tự kỷ để họ
có một nghề nghiệp (công việc) thích hợp. Tại thời điểm này, các thanh niên tự kỷ
và cha mẹ các em (người đóng vai trò là người đào tạo nghề và là người vận động,
người biện hộ cho các em) gặp rất nhiều khó khăn. Khó khăn, trở ngại chính bao
gồm: bản thân thanh niên tự kỷ thiếu hỗ trợ của luật/chính sách và người sử dụng
lao động, hạn chế của các mô hình việc làm. Đây là một trong số rất ít nghiên cứu

5


tại Việt Nam về vấn đề hòa nhập xã hội của người mắc tự kỷ từ cách tiếp cận của
ngành công tác xã hội [15].
Nguyễn Thị Thanh Tâm (2014) , “Hoàn thiện mô hình Công tác xã hội hỗ trợ
trẻ tự kỉ thích nghi với quá trình hoà nhập tại trường tiểu học” (Luận văn chuyên
ngành Công tác xã hội, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội). Tác giả nghiên cứu tìm hiểu mô hình công tác xã hội hỗ trợ trẻ tự kỷ thích

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ.
- Phân tích thực trạng công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ.
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội về giáo dục hòa
nhập đối với trẻ tự kỷ.
4. Đối tượng và Phạm nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ .
4.2. Khách thể nghiên cứu
Các khách thể nghiên cứu là 30 trẻ tự kỷ đang học hòa nhập ; 32 cha mẹ có trẻ
tự kỷ đang học hòa nhập; 18 giáo viên trực tiếp hỗ trợ trẻ tự kỷ (giáo viên đi kèm)
học hòa nhập ; 16 giáo viên chủ nhiệm lớp có trẻ tự kỷ học hòa nhập và 2 cán bộ
quản lý tại Trường Tiểu học Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
4.3.1. Phạm vi nội dung
- Xây dựng cơ sở lý luận công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ.
- Phân tích thực trạng công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ.
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội về giáo dục hòa
nhập đối với trẻ tự kỷ.
4.3.2. Phạm vi không gian

7


Đề tài nghiên cứu được tiến hành trên các đối tượng là trẻ tự kỷ đang học hòa
nhập tại Trường Tiểu học Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Nghiên cứu công tác xã hội trên cơ sở cách tiếp cận đa ngành, liên ngành giáo
dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ. Sau đó đánh giá thực trạng CTXH về giáo dục hòa

cha mẹ trẻ; môi trường giáo dục trẻ tại trường học.
5.2.5. Phương pháp chuyên gia
- Thực hiện để triển khai xây dựng công cụ đánh giá vấn đề tự kỷ, trẻ tự kỷ,
giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ, công tác xã hội về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ.
- Để xây dựng các biện pháp nâng cao hiệu quả CTXH về giáo dục hòa nhập
đối với trẻ tự kỷ.
5.2.6. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Sau khi đã xử lý các kết quả điều tra khảo sát thông qua bảng hỏi, phỏng vấn
sâu sẽ được kiểm tra kỹ càng rồi lập các bảng số liệu thực trạng, bảng số liệu về sự
liên quan giữa các biến số về độ tin cậy của các số liệu điều tra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa về mặt lý luận
Nghiên cứu sẽ xác định khung lý thuyết nghiên cứu công tác xã hội về giáo
dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ: Các khái niệm, nhiệm vụ, phương pháp của công tác
xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ, các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện
nhiệm vụ công tác xã hội. Đồng thời bổ sung một số vấn đề lý luận cơ bản về công
tác xã hội cá nhân với đối tượng là trẻ tự kỷ.
6.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn

9


Kết quả nghiên cứu sẽ nâng cao nhận thức của toàn xã hội, cộng đồng về vị trí
vai trò của nghề công tác xã hội, các nhân viên công tác xã hội, đặc biệt là tầm quan
trọng của nhân viên xã hội trong các trường học đang thực hiện giáo dục hòa nhập
cho trẻ tự kỷ. Những phát hiện của nghiên cứu sẽ làm cơ sở khoa học cho việc
hoạch định cơ chế chính sách và xây dựng các chương trình hỗ trợ GDHN cho trẻ
tự kỷ tại các trường phổ thông nói chung, đặc biệt là tại các trường tiểu học.
Bên cạnh đó đề tài nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo dành cho
người làm công tác xã hội, giáo viện dạy trẻ tự kỷ, các lực lượng tham gia hỗ trợ

một môn khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người,
tạo ra những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội
[9], [16].
Các khái niệm nêu trên đều khẳng định tác động của công tác xã hội nhằm tạo
ra thay đổi xã hội và đảm bảo an sinh xã hội cho mọi người dân. Đây là một cách
hiểu về công tác xã hội theo một nghĩa khá rộng và tổng quát.
Hội đồng Đào tạo công tác xã hội Mỹ định nghĩa: công tác xã hội là một nghề
nhằm tăng cường các chức năng xã hội của cá nhân, hay nhóm người bằng những
hoạt động tập trung vào can thiệp mối quan hệ xã hội để thiết lập sự tương tác giữa
con người và môi trường có hiệu quả . Hoạt động này bao gồm ba nhóm: phục hồi
năng lực bị hạn chế, cung cấp nguồn lực cá nhân và xã hội, và phòng ngừa sự suy
giảm chức năng xã hội [9], [16].

12


Nhìn chung, công tác xã hội đã trở thành một khoa học và một nghề chuyên
môn từ lâu đời ở các nước. Hoạt động trợ giúp của CTXH thúc đẩy sự thực hiện
chức năng của cá nhân, gia đình và cộng đồng qua việc đáp ứng nhu cầu của họ.
Còn công tác xã hội ở Việt Nam được các tác giả xem xét từ những khía cạnh
khác nhau.
Tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng: CTXH là một hoạt động thực tiễn, mang
tính tổng hợp cao được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định
nhằm hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề. Qua đó CTXH theo
đuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội. công tác xã hội là
hoạt động thực tiễn bởi vì nhân viên xã hội luôn làm việc trực tiếp với các đối
tượng, với nhóm người cụ thể. Công tác xã hội không phải hướng tới giải quyết mọi
vấn đề xã hội mà chỉ hướng vào giải quyết những vấn đề thiết yếu trong cuộc sống
hàng ngày của con người. Thực hành CTXH được diễn ra ở những lĩnh vực khác nhau
nhằm giải quyết các vấn đề khác như : tệ nạn xã hội như: tệ nạn xã hội, vấn đề người

họ, từ đó giúp họ hòa nhập xã hội. Công tác xã hội thúc đẩy các điều kiện xã hội để
cá nhân, gia đình tiếp cận được với chính sách, nguồn lực xã hội nhằm đáp ứng nhu
cầu cơ bản; Vấn đề mà cá nhân, gia đình hay cộng đồng gặp phải và cần tới sự can
thiệp của CTXH là những vấn đề có thể xuất phát từ yếu tố chủ quan cá nhân như
sự hạn chế về thể chất, khiếm khuyết về sức khỏe, tâm thần, thiếu việc làm, không
được đào tạo chuyên môn, nghèo đói, quan hệ xã hội suy giảm. Vấn đề của họ cũng
có thể nảy sinh từ phía khách quan đó là cộng đồng, môi trường xung quanh bởi môi
trường đó không cung cấp hay không tạo điều kiện cơ hội để cá nhân, gia đình hay cộng
đồng được tiếp cận nguồn lực nhằm giải quyết vấn đề nảy sinh trong cuộc sống .
Trong các khái niệm đã nêu trên, tôi sẽ sử dụng khái niệm của tác giả Bùi Thị
Xuân Mai làm khái niệm công cụ để nghiên cứu.
1.1.2. Nhiệm vụ của công tác xã hội

14


Công tác xã hội có nhiệm vụ rất quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề
của thân chủ:
- Công tác xã hội trợ giúp cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng vượt qua khó
khăn, trang bị cho họ những kiến thức, kỹ năng nhằm thực hiện tốt các chức năng xã hội.
- Triển khai các hoạt động cung cấp dịch vụ cho con người, một mặt giúp đỡ
những người gặp khó khăn, nâng cao năng lực của con người trong giải quyết các
vấn đề, đương đầu và hành động có hiệu quả.
- Công tác xã hội giúp những người trong hoàn cảnh khó khăn nối kết các
nguồn lực xã hội cần thiết để tự họ đáp ứng các nhu cầu, góp phần giảm bớt những
khác biệt về kinh tế, xã hội giữa các thành viên và phòng chống các vấn đề xã hội
có thể xảy ra.
- Thúc đẩy mạng lưới cung cấp dịch vụ xã hội; Thúc đẩy sự công bằng xã hội
thông qua phát triển chính sách xã hội.
- Công tác xã hội còn có nhiệm vụ trợ giúp nhóm xã hội yếu thế để giúp họ có

pháp CTXH cá nhân được thực hiện theo tiến trình gồm 7 bước: Bước 1: Tiếp cận
thân chủ; Bước 2: Xác định vấn đề; Bước 3: Thu thập thông tin; Bước 4: Đánh giá
chuẩn đoán; Bước 5: Lên kế hoạch giải quyết vấn đề; Bước 6: Thực hiện kế hoạch;
Bước 7: Lượng giá và kết thúc.
1.1.3.2.Công tác xã hội nhóm
Phương pháp công tác xã hội nhóm là một phương pháp can thiệp chính của
công tác xã hội. Đây là một tiến trình trợ giúp mà trong đó các thành viên trong

16


nhóm được tạo cơ hội và môi trường có các hoạt động tương tác lẫn nhau, chia sẻ
những mối quan tâm hay những vấn đề chung, tham gia vào các hoạt động nhóm
nhằm đặt được mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết những mục đích
của cá nhân thành viên giải tỏa những vấn đề khó khăn. Trong hoạt động công tác
xã hội nhóm, một nhóm thân chủ được thành lập, sinh hoạt thường kỳ dưới sự điều
phối của nhân viên CTXH (trong trường hợp trưởng nhóm là thành viên của nhóm)
[6, tr. 28 - 29].
1.1.3.3.Công tác xã hội cộng đồng
Phát triển cộng đồng là một phương pháp can thiệp của CTXH nhằm trợ giúp
một cộng đồng phát triển những tiềm năng sẵn có của họ, hướng tới sự phát triển
không ngừng về đời sống vật chất, tinh thần của người dân thông qua việc nâng cao
năng lực, tăng cường sự tham gia, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa người dân với
nhau, giữa người dân với tổ chức và giữa tổ chức với nhau trong khuôn khổ cộng
đồng [14, tr. 63 - 64].
Như vậy, công tác xã hội là một nghề chuyên nghiệp sử dụng 3 phương pháp
can thiệp chính là công tác xã hội cá nhân, công tác xã hội nhóm và công tác xã hội
với cộng đồng. Mỗi phương pháp công tác xã hội là một tiến trình giải quyết các
vấn đề khác nhau của từng nhóm đối tượng, đòi hỏi người nhân viên CTXH biết
ứng dụng phương pháp phù hợp với từng trường hợp cụ thể trong quá trình trợ giúp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status