VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ MINH KHƢƠNG
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỀ GIÁO DỤC HÒA NHẬP ĐỐI
VỚI TRẺ TỰ KỶ TỪ THỰC TIỄN TRƢỜNG TIỂU HỌC
MAI DỊCH, QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số
: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS NGUYỄN THỊ MAI LAN
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “ Công tác xã hội về giáo dục hòa nhập
đối với trẻ tự kỷ từ thực tiễn Trường Tiểu học Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành
phố Hà Nội” (Nghiên cứu thực hiện tại địa bàn Trường Tiểu học Mai Dịch) là đề
tài nghiên cứu của riên tôi. Các kết quả nghiên cứu và số liệu trong luận văn là
trung thực và không trùng lặp với đề tài khác.
Tác giả luận văn
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................77
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GDHN
Giáo dục hoà nhập
CTXH
Công tác xã hội
NNC
Người nghiên cứu
TTK
Trẻ tự kỷ
GVCN
Giáo viên chủ nhiệm
NVXH
Nhân viên xã hội
TC
công tác xã hội về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ tại Trường Tiểu học Mai Dịch 50
Bảng 2.14: Mức độ ảnh hưởng thuộc về nhân viên xã hội đến thực hiện nhiệm vụ
công tác xã hội về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ tại Trường Tiểu học Mai Dịch 52
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ: 2.1: Chuyên ngành được đào tạo của giáo viên hỗ trợ trẻ tự kỷ ...... 35
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ sinh thái ............................................................................... 59
Sơ đồ 3.2: Sơ đồ phả hệ .................................................................................. 60
Sơ đồ 3.3: Cách tiếp cận trong Công tác xã hội cá nhân ................................ 61
Sơ đồ 3.4: Vấn đề của thân chủ....................................................................... 63
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công tác xã hội (CTXH) là một nghề còn mới mẻ, non trẻ và được xem như
một vùng đất lạ mới được khai hoang ở Việt Nam. Nhưng chỉ qua 5 năm hình thành
và phát triển, CTXH đã phần nào khẳng định được vai trò và vị thế của mình trong
việc giải quyết các vấn đề của xã hội.
Khi xã hội ngày một phát triển, Đảng và Nhà nước ta càng quan tâm nhiều hơn
nữa đối với những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trong đó có người già, trẻ
em, người khuyết tật và các đối tượng yếu thế khác nhằm giúp họ có cuộc sống ổn
định, có điều kiện học tập, chăm sóc sức khỏe, tự vươn lên trong cuộc sống. Để
thực hiện điều đó, nhiều chủ trương pháp luật về CTXH đã được Đảng và Nhà nước
ban hành như: Bộ Luật Lao động, Luật người cao tuổi, Luật người khuyết tật, Luật
chăm sóc và bảo vệ trẻ em…Trên cơ sở chính sách được ban hành đã phần nào đáp
ứng được một số nhu cầu cơ bản cho các đối tượng nói trên.
Trong những năm gần đây, công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật nói
chung và trẻ tự kỷ (TTK) nói riêng được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng.
trợ giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ chưa được đào tạo chuyên sâu về vấn đề củatrẻ
tự kỷ ; chưa có hệ thống giáo trình hỗ trợ dạytrẻ tự kỷ; thiếu sự hợp tác của gia đình
trẻ tự kỷ; do vốn kinh nghiệm của bản thân về GDHN cho trẻ tự kỷ còn hạn chế; ít
được đào tạo ngắn hạn, tập huấn, học hỏi kinh nghiệm về giáo dục hòa nhập cho trẻ
tự kỷ. Trước hàng loạt những khó khăn và thách thức về công tác GDHN cho trẻtự
kỷ, cần có sự phối hợp liên ngành bao gồm cả ngành CTXH mới có thể giải quyết
một cách tốt nhất các vấn đề còn tồn tại đó.
Từ thực tiễn và lý luận nêu trên, tôi lựa chọn đề tài: “Công tác xã hội về giáo
dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ từ thực tiễn Trường Tiểu học Mai Dịch, quận Cầu
Giấy, thành phố Hà Nội” để làm luận văn thạc sỹ. Luận văn nhằm làm sáng tỏ lý
luận công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ; Thực trạng công tác xã
hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ tại trường tiểu học, đồng thời chỉ ra sự
cần thiết của CTXH về giáo dục hòa nhập trong việc hỗ trợ trẻ tự kỷ cũng như gia
đình các em. Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả thực hiện
công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ tại trường tiểu học nói chung
và Trường Tiểu học Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội nói riêng.
2
2.Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ
trên thế giới
Công tác xã hội đã phát triển trên thế giới từ những năm đầu của thế kỷ XX,
tiêu biểu như là ở Anh, Mỹ, Canada, Úc… Đến nay CTXH đã có mặt ở hầu hết các
quốc gia trên thế giới, với nỗ lực trợ giúp các nhóm người yếu thế (trẻ em, phụ nữ,
người cao tuổi, người khuyết tật…), những cộng đồng nghèo để họ vươn lên hòa
nhập với sự phát triển chung của xã hội, đảm bảo an sinh cho mọi người dân, tất cả
vì sự tiến bộ của nhân loại và công bằng xã hội. Đã có nhiều hội thảo, hội nghị, bài
báo, công trình khoa học nghiên cứu hoạt động của CTXH đối với nhóm yếu thế.
cho suốt cuộc đời một đứa trẻ tự kỷ là 3,4 triệu đô la Mỹ, trong đó chi phí lớn nhất là
mất sức lao động chiếm 60% tổng chi phí. Do vậy, cần có sự phối hợp liên ngành đặc
biệt là sự tham gia của CTXH trong việc nghiên cứu, hỗ trợ trẻ tự kỷ.
Tính cho đến thời điểm hiện tại, trên thế giới chỉ có những hoạt động mang
tính chất công tác xã hội dành cho trẻ tự kỷ, chưa có nghiên cứu nào đề cập đến sự
kết hợp của lĩnh vực CTXH trong việc trợ giúp trẻ tự kỷ nói chung, và trợ giúp về
giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ. Sự tham gia của công tác xã hộitrong việc nghiên
cứu, hỗ trợ trẻ tự kỷ về các mặt nói chung và hỗ trợ trẻ tự kỷ về giáo dục hòa nhập
là rất cần thiết.
2.2. Tình hình nghiên cứu công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ
Việt Nam
Ở Việt Nam, công tác xã hội đã phát triển và đi vào hoạt động chuyên nghiệp
hơn một thế kỷ trên thế giới, tuy nhiên nghề công tác xã hội vẫn mới chỉ bắt đầu,
nhiều người còn chưa biết đến công tác xã hội. Khi nhắc đến lĩnh vực công tác xã
hội, người ta thường nghĩ ngay đó là các hoạt động công tác xã hội được thực hiện
ở các Trung tâm Bảo trợ Xã hội đối với các nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội
như: người cao tuổi, người già cô đơn, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người khuyết
tật… Tuy nhiên, trong những năm gần đây trẻ tự kỷ và công tác GDHN cho các em
được coi là vấn đề nóng của xã hội , các em chính là những nhóm người yếu thế cần
được sự bảo trợ của xã hội để có cơ hội phát triển theo khả năng thế mạnh của
mình, các em đang cần sự chung tay giúp đỡ của toàn xã hội, trong đó có vai trò đặc
biệt quan trọng của công tác xã hội. Công tác xã hội đối với nhóm yếu thế nói
chung và trẻ tự kỷ là lĩnh vực còn khá mới mẻ, các công trình nghiên cứu trong
4
nước còn hạn chế, tác giả xin khái quát một số công trình, kết quả khoa học đã được
thực hiện ở Việt Nam.
Phạm Văn Quyết (2012), “Công tác hỗ trợ nhóm yếu thế ở Việt Nam.” Trong
CTXH). Tác giả nghiên cứu về lĩnh vực công tác xã hội học đường, tìm hiểu những
rào cản khó khăn trong vấn đề hòa nhập của trẻ tự kỷ ở trường tiểu học, với mục
đích xây dựng giải pháp cũng như phương án trợ giúp từ góc độ của nhân viên công
tác xã hội chuyên nghiệp đối với đối tượng này [10].
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hà (2015): “ Công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ từ
thực tiễn tỉnh Quảng Ninh” (Luận văn thạc sĩ CTXH). Tác giả nghiễn cứu về lĩnh
vực đối với trẻ tự kỷ, tác giả tìm hiểu những khó khăn về mặt chăm sóc, giáo dục.
Đồng thời đưa ra các hoạt động công tác xã hội nhằm trợ giúp trẻ tự kỷ và gia đình,
tập trung nâng cao kỹ năng giao tiếp cho thân chủ thông qua ứng dụng phương pháp
công tác xã hội cá nhân cá nhân [2].
Các nghiên cứu có liên quan về tự kỷ, về vấn đề giáo dục hòa cho TTK ở các
trường tiểu học theo khía cạnh của CTXH còn ít và chưa có tính ứng dụng cao.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng công tác xã hội về giáo
dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ tại Trường Tiểu học Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành
phố Hà Nội và các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề này. Trên cơ sở đó, đề xuất một số
biện pháp nâng cao hiệu quả thực hiện công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với
trẻ tự kỷ tại Trường Tiểu học Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ.
- Phân tích thực trạng công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ.
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội về giáo dục hòa
nhập đối với trẻ tự kỷ.
4. Đối tƣợng và Phạm nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội về giáo dục hòa nhập đối với trẻ tự kỷ .
4.2. Khách thể nghiên cứu
Các khách thể nghiên cứu là 30 trẻ tự kỷ đang học hòa nhập ; 32 cha mẹ có trẻ
tự kỷ đang học hòa nhập; 18 giáo viên trực tiếp hỗ trợ trẻ tự kỷ (giáo viên đi kèm)
đối với 16 giáo viên chủ nhiệm lớp có trẻ tự kỷ học hòa nhập; 32 phụ huynh có trẻ
tự kỷ; 18 giáo viên đi kèm hỗ trợ trẻ tự kỷ đang học hòa nhập để đánh giá thực
trạng những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ công xã hội xã hội
về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ tại trường tiểu học.
7
5.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Sử dụng phương pháp này nhằm làm rõ các biểu hiện của trẻ tự kỷ, các vấn đề
của việc giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ.
Phỏng vấn sâu gia đình có trẻ tự kỷ đang theo học hòa nhập tiểu học, giáo
viên chủ nhiệm dạy tại các lớp có TTK học hòa nhập , giáo viên đi kèm hỗ trợ trẻ tự
kỷ học hòa nhập , cán bộ quản lý tại trường có trẻ tự kỷ học hòa nhập để đánh giá
thực trạng những khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội về GDHN cho
trẻ tự kỷ và đánh giá nhu cầu của trẻ và gia đình trẻ.
5.2.4. Phương pháp quan sát
Quan sát trẻ tại môi trường lớp học, sân trường, gia đình… để thu thập thông
tin; đánh giá thái độ của bạn bè, thầy cô, phụ huynh về trẻ tự kỷ; nhu cầu của trẻ và
cha mẹ trẻ; môi trường giáo dục trẻ tại trường học.
5.2.5. Phương pháp chuyên gia
- Thực hiện để triển khai xây dựng công cụ đánh giá vấn đề tự kỷ, trẻ tự kỷ,
giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ, công tác xã hội về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ.
- Để xây dựng các biện pháp nâng cao hiệu quả CTXH về giáo dục hòa nhập
đối với trẻ tự kỷ.
5.2.6. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Sau khi đã xử lý các kết quả điều tra khảo sát thông qua bảng hỏi, phỏng vấn
sâu sẽ được kiểm tra kỹ càng rồi lập các bảng số liệu thực trạng, bảng số liệu về sự
liên quan giữa các biến số về độ tin cậy của các số liệu điều tra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
phố Hà Nội
9
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI VỀ GIÁO
DỤC HÒA NHẬP ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ
1.1. Cơ sở lý luận về công tác xã hội
1.1.1. Khái niệm công tác xã hội
Công tác xã hội cũng được xem như là một khoa học ứng dụng, là một nghề
chuyên nghiệp ra đời vào đầu thế kỷ XX ở nhiều nước trên thế giới. Nó có vị trí
quan trọng trong đời sống xã hội của con người, của mỗi quốc gia. Sự gia đời và
phát triển CTXH đã góp phần đáng kể vào việc ngăn ngừa và giải quyết các vấn đề
xã hội, góp phần đảm bảo công bằng xã hội và sự phát triển bền vững của mỗi quốc
gia [9, tr.12].
Từ điển Bách khoa ngành công tác xã hội (1995) có ghi: Công tác xã hội là
một môn khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người,
tạo ra những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội
[9], [16].
Các khái niệm nêu trên đều khẳng định tác động của công tác xã hội nhằm tạo
ra thay đổi xã hội và đảm bảo an sinh xã hội cho mọi người dân. Đây là một cách
hiểu về công tác xã hội theo một nghĩa khá rộng và tổng quát.
Hội đồng Đào tạo công tác xã hội Mỹ định nghĩa: công tác xã hội là một nghề
nhằm tăng cường các chức năng xã hội của cá nhân, hay nhóm người bằng những
hoạt động tập trung vào can thiệp mối quan hệ xã hội để thiết lập sự tương tác giữa
con người và môi trường có hiệu quả . Hoạt động này bao gồm ba nhóm: phục hồi
năng lực bị hạn chế, cung cấp nguồn lực cá nhân và xã hội, và phòng ngừa sự suy
giảm chức năng xã hội [9], [16].
Nhìn chung, công tác xã hội đã trở thành một khoa học và một nghề chuyên
xã hội và thúc đẩy sự thay đổi vai trò của cá nhân, nhóm, cộng đồng người yếu thế
hướng tới bình đẳng và tiến bộ xã hội. Đây là lĩnh vực cung cấp các dịch vụ chuyên
môn góp phần giải quyết những vấn đề xã hội liên quan tới con người để thỏa mãn
những nhu cầu căn bản, mặt khác góp phần giúp cá nhân tự nhận thức về vị trí, vai
trò xã hội của mình.
11
Mặc dù các tác giả nhìn nhận về công tác xã hội ở những khía cạnh khác nhau,
song còn tồn tại một số điểm chung: Công tác xã hội là một khoa học, một hoạt
động chuyên môn; Đối tượng tác động của CTXH là cá nhân, gia đình và cộng
đồng, đặc biệt là nhóm người yếu thế trong xã hội như: trẻ em, phụ nữ, người
nghèo…, những người trong hoàn cảnh khó khăn nên khó hòa nhập xã hội; Hướng
trọng tâm của công tác xã hội là tác động tới con người như một tổng thể; Mục đích của
CTXH là hướng tới giúp đỡ cá nhân, gia đình và cộng đồng phục hồi hay nâng cao
năng lực để tăng cường chức năng xã hội, tạo ra những thay đổi về vai trò, vị trí của
họ, từ đó giúp họ hòa nhập xã hội. Công tác xã hội thúc đẩy các điều kiện xã hội để
cá nhân, gia đình tiếp cận được với chính sách, nguồn lực xã hội nhằm đáp ứng nhu
cầu cơ bản; Vấn đề mà cá nhân, gia đình hay cộng đồng gặp phải và cần tới sự can
thiệp của CTXH là những vấn đề có thể xuất phát từ yếu tố chủ quan cá nhân như
sự hạn chế về thể chất, khiếm khuyết về sức khỏe, tâm thần, thiếu việc làm, không
được đào tạo chuyên môn, nghèo đói, quan hệ xã hội suy giảm. Vấn đề của họ cũng
có thể nảy sinh từ phía khách quan đó là cộng đồng, môi trường xung quanh bởi môi
trường đó không cung cấp hay không tạo điều kiện cơ hội để cá nhân, gia đình hay cộng
đồng được tiếp cận nguồn lực nhằm giải quyết vấn đề nảy sinh trong cuộc sống .
Trong các khái niệm đã nêu trên, tôi sẽ sử dụng khái niệm của tác giả Bùi Thị
Xuân Mai làm khái niệm công cụ để nghiên cứu.
1.1.2. Nhiệm vụ của công tác xã hội
Công tác xã hội có nhiệm vụ rất quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề
giải quyết các vấn đề nảy sinh từ sự thay đổi của môi trường, giúp họ điều chỉnh
bản thân và cách thức tương tác với môi trường [18].
Tác giả Nguyễn Thị Oanh (1997) cho rằng : “Công tác xã hội cá nhân là một
biện pháp can thiệp quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một đối tượng
cảm nghiệm” [11].
Mối quan hệ một - một được nhắc đến như một chìa khóa quan trọng trong
phương pháp CTXH cá nhân, quyết định vai trò và việc lựa chọn các kỹ năng tác nghiệp
của ngườinhân viên công tác xã hội. Khi tác nghiệp, thân chủ cùng với các mối quan hệ
xã hội của thân chủ là mối quan tâm hàng đầu của công tác xã hội viên [9].
Trong nghiên cứu của mình, tác giả Hà Thị Thư đưa ra quan điểm: “ Công tác xã
hội cá nhân là phương pháp của CTXH nhằm giúp đỡ, hỗ trợ cá nhân nâng cao năng
lực tự giải quyết vấn đề thông qua mối quan hệ làm việc một - một” [14].
13
Theo nhóm tác giả Nguyễn Thị Thái Lan và Bùi Thị Xuân Mai [7], phương
pháp CTXH cá nhân được thực hiện theo tiến trình gồm 7 bước: Bước 1: Tiếp cận
thân chủ; Bước 2: Xác định vấn đề; Bước 3: Thu thập thông tin; Bước 4: Đánh giá
chuẩn đoán; Bước 5: Lên kế hoạch giải quyết vấn đề; Bước 6: Thực hiện kế hoạch;
Bước 7: Lượng giá và kết thúc.
1.1.3.2.Công tác xã hội nhóm
Phương pháp công tác xã hội nhóm là một phương pháp can thiệp chính của
công tác xã hội. Đây là một tiến trình trợ giúp mà trong đó các thành viên trong nhóm
được tạo cơ hội và môi trường có các hoạt động tương tác lẫn nhau, chia sẻ những mối
quan tâm hay những vấn đề chung, tham gia vào các hoạt động nhóm nhằm đặt được
mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết những mục đích của cá nhân thành
viên giải tỏa những vấn đề khó khăn. Trong hoạt động công tác xã hội nhóm, một
nhóm thân chủ được thành lập, sinh hoạt thường kỳ dưới sự điều phối của nhân viên
CTXH (trong trường hợp trưởng nhóm là thành viên của nhóm) [6, tr. 28 - 29].
giáo dục theo nhu cầu đặc biệt và Cương lĩnh hành động Salamanca, Tây Ban Nha,
UNESCO, 1994) [17, tr.223-224].
Tác giả Nguyễn Thị Mai Lan khẳng định: Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo
dục trong đó trẻ khuyết tật nói chung được học tập cùng với những trẻ em bình thường
tại các trường công lập hoặc dân lập ngay chính tại địa bàn các em sinh sống [5, tr.198].
Trong các khái niệm đã nêu trên, tôi sẽ sử dụng khái niệm của tác giả Nguyễn
Thị Mai Lan làm khái niệm công cụ để nghiên cứu.
1.2.1.2.Nhiệm vụ của giáo dục hòa nhập
Giáo dục hòa nhập có rất nhiều nhiệm vụ, nhưng trong nghiên cứu tôi chỉ đưa
ra một số nhiệm vụ cơ bản nhất:
Thứ nhất, tạo điều kiện cho các trẻ khuyết tật nói chung và làm tất cả mọi thứ
có thể để đảm bảo cho trẻ được học tập cùng với những trẻ em bình thường tại các
trường công lập hay dân lập ngay tại chính địa bàn các em sinh sống.
Thứ hai, đảm bảo quyền cơ bản của con người, đó là quyền được đến trường.
Cụ thể ở đây, chính là đảm bảo quyền bình đẳng cho trẻ khuyết tật nói chung được
đến trường học tập như trẻ bình thường. Đảm bảo cho trẻ khuyết tật hưởng những
quyền giáo dục cơ bản, quyền tự do không tách biệt, tham gia vào mọi hoạt động xã
hội và có cơ hội cống hiến.
Thứ ba, trợ giúp trẻ khuyết tật phát triển toàn diện các mặt: đạo đức, trí tuệ,
thể chất, thẩm mỹ và khả năng lao động. Nói cách khác là phát triển kiến thức, kỹ
15
năng văn hóa xã hội, thái độ tích cực. Trợ giúp các cá nhân, gia đình có trẻ khuyết
tật nói chung tiếp cận với các dịch vụ về giáo dục hòa nhập.
Thứ tư, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho toàn xã hội hiểu rõ hơn về khả
năng của trẻ khuyết tật nói chung, từ đó nhằm tạo cơ hội cho trẻ được hòa nhập tốt
nhất; tạo cơ hội phát triển hài hòa và tối đa những khả năng còn lại của trẻ khuyết
tật để các em hình thành và phát triển nhân cách.
về Quyền trẻ em năm 1989.
- Khái niệm tự kỷ:
Năm 1999, tại Hội nghị toàn quốc về tự kỷ ở Mỹ đã đưa ra định nghĩa: “Tự
kỷ là một dạng bệnh trong nhóm rối loạn phát triển lan tỏa, ảnh hưởng đến nhiều
mặt của sự phát triển nhưng ảnh hưởng nhiều nhất đến kỹ năng giao tiếp và quan hệ
xã hội”.
Tại Việt Nam các tác giả cũng đưa ra các khái niệm về tự kỷ như sau:
Tác giả Vũ Thị Bích Hạnh (2007) cho rằng: “Tự kỷ là một bệnh lý thần kinh
bao gồm những khiếm khuyết nặng nề về khả năng tương tác và giao tiếp xã hội đi
kèm với những quan tâm và hoạt động bó hẹp, định hình. Tự kỷ là một hội chứng
rối loạn phát triển ở trẻ em” [11, tr. 7].
Gần đây nhất, trong cuốn sách “ Giáo dục đặc biệt và những thuật ngữ cơ bản”
tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến nêu ra thuật ngữ tự kỷ như sau: Thuật ngữ này dùng
để chỉ những cá nhân có vấn đề về tương tác xã hội, về giao tiếp và có những mối
quan tâm và những hoạt động lặp lại, rập khuôn thời kỳ 36 tháng tuổi [17].
Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mai Lan: Tự kỷ là một dạng rối
loạn trong nhóm rối loạn phát triển lan tỏa, người bị tự kỷ có những rối loạn về
nhiều mặt, nhưng biểu hiện rõ nhất là rối loạn về giao tiếp, quan hệ xã hội và hành
vi [5, tr.107].
Mỗi tác giả có một quan điểm và đưa ra các khái niệm khác nhau về tự kỷ, tuy
nhiên các tác giả đều có chung một cách nhìn về biểu hiện rõ nét về tự kỷ là tương
tác và giao tiếp xã hội.
- Khái niệm trẻ tự kỷ:
Dựa trên cơ sở khái niệm trẻ em và khái niệm tự kỷ nêu trên, tôi đưa ra khái
niệm TTK như sau: Trẻ tự kỷ là những trẻ dưới 18 tuổi, có biểu hiện về tương tác giao tiếp kém; thường lặp lại những thói quen hàng ngày; chậm chễ trong ngôn ngữ
17
nói hoặc ngôn ngữ nói khác thường; có những hành vi rập khuôn, định hình; khả
- Quá bận tâm đến một hoặc một số những mối quan hệ có tính chất rập
khuôn và bó hẹp với một mức độ tập trung hoặc cường độ bất thường.
- Gắn kết cứng nhắc với những thủ tục hoặc nghi thức riêng biệt và không
mang tính chức năng.
- Có những biểu hiện vận động mang tính lặp đi lặp lại hoặc rập khuôn (ví dụ
gõ tay hoặc vặn tay, hoặc có kiểu di chuyển cả thân người một cách phức tạp), đi
trên các đầu ngón chân.
- Bận tâm dai dẳng đối với các bộ phận của vật thể.
1.2.2.3. Đặc điểm, tâm sinh lý của trẻ tự kỷ
Đặc điểm, tâm sinh lý của TTK có rất nhiều biểu hiện khác nhau và rất phức
tạp, trong luận văn tôi chỉ khái một vài đặc điểm tiêu biểu của TTK đang tham gia
học hòa nhập tại trường như sau: Cảm giác , tri giác chậm chạp, phân biệt kém,
thiếu tính tích cực; Tư duy chủ yếu là tư duy cụ thể, tính không liên tục, tính logic
kém; Trí nhớ hiểu chậm , quên nhanh, ghi nhớ một cách máy móc bên ngoài; Chú ý
thời gian ngắn, khó tập trung vào một công việc, thiếu tính bền vững; Ngôn ngữ rất hạn
chế, vốn từ ít, phát âm thường sai, chậm nói…
Ngoài những đặc điểm trên, trẻ tự kỷ còn có nhiều biểu hiện khi tham gia học
hòa nhập tại trường như:
Các em luôn thu mình, không hứng thú với các bạn trong lớp và trong trường.
Trong lớp học, trẻ thường lầm lì, ít nói, cô gióa hỏi cũng không trả lời, không giơ
tay phát biểu ý kiến. Không thích hoạt động theo nhóm, và không thiết lập được
quan hệ với bạn bè cùng tuổi. Trẻ tự kỷ có nhiều lời nói vô nghĩa không phù hợp
với hoàn cảnh, nhại lại lời người khác một cách chính xác nhưng không hiểu được
nghĩa của chúng.
Khi giao tiếp với giáo viên hay người khác, các học sinh tự kỷ thường không
nhìn vào mặt người đối diện và rất ít hoặc không có tiếp xúc mắt mà thường nhìn đi
chỗ khác khi nói hoặc phát biểu; Tình cảm rất hạn chế ngay cả với bố mẹ và người
thân trong gia đình. Không chia sẻ cảm xúc buồn vui, không quan tâm đến hoạt