VIỆN
HÀNNHŨ
LÂMKhổ 210 x 297 mm
MẪU BÌA LUẬN VĂN CÓ
IN CHỮ
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ NGỌC THÚY
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAI NGHIỆN MA
TÚY TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CHỮA BỆNH GIÁO DỤC - LAO ĐỘNG XÃ HỘI SỐ V,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số: 60. 90. 01. 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HÀ THỊ THƯ
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số
liệu và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những
kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình
khoa học nào khác.
Học viên
Lê Thị Ngọc Thúy
3.5. Cần hoàn thiện, bổ sung cơ chế, chính sách, tổ chức các hoạt động phù hợp hỗ
trợ người cai nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng và tìm kiếm việc làm……… 70
KẾT LUẬN ..............................................................................................................72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO… ..............................................................73
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Stt
Chữ viết tắt
Nội dung
1
CTXH
Công tác xã hội
2
IFSW
Hiệp hội nhân viên CTXH Quốc tế
3
LĐTB&XH
Bảng 2.1.
Đánh giá hiệu quả tư vấn của nhân viên CTXH
40
Bảng 2.2.
Bảng 2.3.
Bảng 2.4.
Bảng 2.5.
Bảng 2.6.
Bảng 2.7.
Bảng 2.8.
Bảng 2.9.
Bảng 2.10.
Bảng 2.11.
Tỷ lệ học viên tham gia các hoạt động tích cực tại
trung tâm
Đánh giá các về tâm lý của học viên
Tỷ lệ các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề tìm kiếm việc
làm của học viên sau cai
Đánh giá tỷ lệ của các nhu cầu của các học viên tại
trung tâm
41
47
50
con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an
toàn xã hội và an ninh quốc gia, đe dọa sự ổn định, phát triển và thành quả đổi mới
của đất nước.
Do vậy, việc nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện ma túy trong thời gian tới,
góp phần hạn chế tối đa hậu quả của tệ nạn ma tuý, xây dựng môi trường tốt đẹp
cho xã hội là vấn đề cần thiết không chỉ đối với các cấp ngành có liên quan mà là
mối quan tâm của mỗi gia đình, của cộng đồng và của toàn xã hội.
Thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ tại Quyết định số 2596⁄QĐ-TTg ngày
27⁄12⁄2013 về việc phê duyệt Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt Nam
đến năm 2020 và Nghị quyết số 98⁄NQ-CP ngày 26⁄12⁄2014 về tăng cường chỉ đạo
công tác phòng, chống, kiểm soát và cai nghiện ma túy trong tình hình mới; đồng
thời, nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống
chính trị các cấp, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống, kiểm soát và cai nghiện
ma túy, Ban chỉ đạo phòng, chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm
thành phố Hà Nội đã từng bước triển khai đổi mới công tác cai nghiện trên địa bàn.
Nhiều người vẫn cho rằng người nghiện ma túy chỉ cần điều trị cắt cơn là
xong, tuy nhiên việc điều trị nghiện ma túy là một quá trình, trong đó không chỉ đơn
thuần cắt cơn mà còn phải điều trị thuốc thay thế lâu dài, phòng chống tái nghiện
cũng như kết hợp các trị liệu khác như trị liệu tâm lý, xã hội, hành vi...
Việc phát huy vai trò công tác xã hội (CTXH) tại trung tâm cũng như tại cộng
đồng góp phần giải quyết những khó khăn mà người nghiện gặp phải, nhân viên
công tác xã hội sẽ thực hiện vai trò hoạt động chuyên nghiệp nhằm phát huy tối đa
nội lực của người nghiện, hỗ trợ họ vươn lên thoát nghiện và tái hòa nhập cộng
đồng. Nhân viên công tác xã hội có trách nhiệm kết nối chính quyền, tổ chức đoàn
thể, cơ sở sản xuất để giới thiệu, giúp đỡ người sau cai nghiện có việc làm ổn định,
1
hòa nhập cộng đồng. Đề xuất với chính quyền địa phương tạo điều kiện cho họ tiếp
2
cơ về gia đình và bản thân, người nghiện càng dễ dàng chịu sự tác động của bạn bè
hơn và thúc đẩy họ sử dụng ma túy sớm hơn [10].
Nhóm nghiên cứu từ hoàn cảnh sống và tâm lý của người nghiện ma túy:
- Hai tác giả Phan Xuân Biên và Hồ Bá Thâm đồng chủ biên, “Tâm lý học giáo
dục nhân cách người cai nghiện ma túy từ thực tế thành phố Hồ Chí Minh”, xuất
bản năm 2004 là một công trình nghiên cứu công phu của nhiều tác giả về nguyên
nhân, đặc điểm tâm lý, công tác giáo dục nhân cách, đạo đức xã hội dành cho những
người liên quan đến nghiện ma túy. Các tác giả cho rằng, người nghiện là người rối
loạn về tâm lý, không làm chủ được hành vi của mình, từ không làm chủ được bản
thân, họ hành động chủ yếu theo ham muốn bản năng, dẫn tới lệch chuẩn xã hội,
khủng hoảng nhân cách, tha hóa - rối loạn nhân cách và việc cai nghiện, phục hồi
nhân cách, sửa đổi và phát triển nhân cách người cai nghiện thành công hay không
phụ thuộc vào thái độ, tình thương, trách nhiệm của cộng đồng, gia đình, xã hội và
bản thân người nghiện. Do vậy, công tác điều chỉnh tâm lý, giáo dục, phục hồi nhân
cách cho người cai nghiện và những giải pháp giúp người sau cai nghiện ma túy trở
về với gia đình, cộng đồng được thực hiện bằng biện pháp tâm lý [4].
- Tác giả Phan Thị Mai Hương, “Thanh niên nghiện ma túy nhân cách và hoàn
cảnh xã hội”, 2005, là một cách tiếp cận mới về thanh niên nghiện ma tuý - từ góc độ
của tâm lý học. Tác giả đã phân tích, hệ thống hoá những lý luận về đặc điểm nhân
cách, hoàn cảnh xã hội và sự ảnh hưởng của chúng trong việc nghiên cứu hành vi của
người nghiện ma tuý, cũng như quan điểm về việc giải quyết chúng trong thực tiễn.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra một số đặc điểm nhân cách và hoàn cảnh xã hội nổi trội
của thanh niên nghiện ma tuý, mối quan hệ giữa các đặc điểm với hành vi nghiện.
Trong đó, vai trò gia đình được tác giả tìm hiểu ở khía cạnh môi trường gia đình gắn
với vị thế kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến đặc điểm nhân cách và mức độ nghiện
của thanh niên nghiện ma túy, cách quản lý của cha mẹ với con. Trên cơ sở đó, việc
ngăn ngừa hành vi nghiện ma tuý và việc cai nghiện ma tuý ở thanh niên cần phải kết
đoạn “hậu cai” đó là được học văn hóa, học nghề và từng bước đưa những người
sau cai nghiện ma túy có đủ điều kiện tối thiểu vào làm việc tại các khu công nghiệp
đặc biệt do thành phố xây dựng. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã được triển khai,
áp dụng trong thực tiễn, giúp hàng ngàn người từng bước tái hòa nhập cộng đồng
một cách bền vững. Để đạt được thành công trên, một trong những giải pháp tác giả
nêu ra trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng cho người sau cai nghiện ma túy là
cần phải có sự tham gia quản lý của công an khu vực, chính quyền xã phường, thị
4
trấn và các đoàn thể, ban điều hành khu phố. Trong đó, tác giả khẳng định vai trò
của gia đình và cộng đồng không thể thiếu trong quá trình phòng, chống ma túy;
phải tạo ra môi trường sống hòa thuận, đoàn kết, dân chủ, quan tâm tới nhau giữa
các thành viên trong gia đình, cơ quan, xí nghiệp, trường học, khu phố, xóm ấp.
Tác giả Lê Hồng Minh (2010), với đề tài “Tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho
thanh niên sau cai nghiện ở thành phố Hồ Chí Minh” đã đề cập khá cụ thể các loại
hình tổ chức, quản lý giáo dục người nghiện ma tuý và sau cai nghiện trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh; các nội dung, phương pháp để hoàn thiện tổ chức tư vấn
hướng nghiệp cho thanh niên sau cai nghiện tại cộng đồng. Về thực tiễn, luận án đã
hệ thống hoá được các loại hình tổ chức, quản lý giáo dục người nghiện ma tuý và
sau cai nghiện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; đánh giá được thực trạng về cách
tổ chức các hoạt động quản lý giáo dục thanh niên sau cai ở thành phố Hồ Chí Minh
và chỉ ra những mặt hạn chế để tìm giải pháp khắc phục, hoàn thiện tổ chức tư vấn
hướng nghiệp tư vấn hướng nghiệp cho thanh niên sau cai nghiện tại cộng đồng. Đã
đề xuất được cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Văn phòng tư vấn hướng nghiệp
cho thanh niên sau cai nghiện làm cơ quan đầu mối cho hoạt động tư vấn hướng
nghiệp cho thanh niên sau cai nghiện ở cộng đồng; đề xuất đổi mới mô hình tổ chức
và phương thức hoạt động của Đội tình nguyện; xây dựng nội dung chương trình giáo
dục chuyển biến nhận thức và hành vi thanh niên sau cai nghiện ở cộng đồng [19].
- Khảo sát và đánh giá thực trạng người cai nghiện ma túy tại trung tâm Chữa
bệnh - Giáo dục - Lao động Xã hội số V, thành phố Hà Nội và thực trạng hoạt động
công tác xã hội trong việc thực hiện chính sách cai nghiện tự nguyện;
- Đề xuất giải pháp nhằm cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ
người cai nghiện tại trung tâm cũng như cộng đồng trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội đối với người cai nghiện ma túy từ thực tiễn trung tâm Chữa
bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội Số V, thành phố Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về nội dung
Nghiên cứu các hoạt động công tác xã hội với người cai nghiện ma túy tại
trung tâm như: Hoạt động tâm lý xã hội; Hoạt động giáo dục; Hoạt động hỗ trợ điều
trị y tế; Hoạt động kết nối dịch vụ khác
* Phạm vi khách thể
6
- 60 học viên đang cai nghiện tại trung tâm
- Cán bộ quản lý tại trung tâm
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Vấn đề nghiên cứu được dựa trên quản điểm duy vật biện chứng của chủ
nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, dựa trên quan điểm của triết học
duy vật lịch sử và biện chứng trong phân tích, đánh giá lý luận và thực tiễn công
tác xã hội đối người nghiện ma túy sau cai.
Nghiên cứu đề tài dựa trên cách tiếp cận hệ thống, liên ngành về các hoạt
động công tác xã hội đối với người nghiện ma túy sau cai.
Tập tư liệu- số liệu về kết quả cai nghiện phục hồi năm 2009- 2010.
Tập tài liệu giao ban hướng dẫn các văn bản pháp luật về công tác phòng
chống tệ nạn xã hội năm 2011.
Báo cáo kết quả công tác cai nghiên ma túy qua các năm của Hà Nội.
Và nhiều tài liệu khác có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Tất cả tài liệu này được liệt kê và đánh dấu theo thứ tự và tham khảo khi viết
luận văn
5.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là một phương pháp phỏng vấn viết, được
thực hiện cùng một lúc với nhiều người theo một bảng hỏi in sẵn. Người được hỏi
trả lời ý kiến của mình bằng cách đánh dấu vào các ô tương ứng theo một quy ước
nào đó.Việc biên soạn một bảng câu hỏi phù hợp là một vấn đề quan trọng trong
phương pháp này. Các câu hỏi phải được đặt rõ ràng, tránh hiểu nhầm, tránh những
câu hỏi tế nhị khó trả lời.
Có hai loại câu hỏi là câu hỏi đóng và câu hỏi mở. Các câu hỏi đóng nêu ra các
phương án trả lời (ví dụ: đúng, sai), người được hỏi chỉ việc lựa chon một trong các
phương án đó. Câu hỏi mở cho phép người được hỏi có thể trả lời theo ý riêng cuả
mình, không bị ràng buộc, do vậy câu hỏi mở phù hợp với giai đoạn nghiên cứu
thăm dò để biết xem khách hàng suy nghĩ gì?
Độ tin cậy của các câu trả lời là vấn đề mà người phỏng vấn không kiểm tra
được. Lý do là người phỏng vấn không biết là câu hỏi có được hiểu đúng hay
không? Người trả lời có phải là chủ động hay không?
8
5.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là những cuộc đối thoại được lặp đi lặp lại giữa nhà nghiên cứu
và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu cuộc sống, kinh nghiệm và nhận thức
của người cung cấp thông tin thông qua chính ngôn ngữ của người ấy.
cạnh đó, đề tài cũng thể hiện và đáng giá được vai trò của công tác xã hội trong việc
trợ giúp người cai nghiện ma túy và gia đình họ, từ đó nâng cao nhận thức của cộng
đồng về tầm quan trọng của nhân viên công tác xã hội hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài được xây dựng nhằm nghiên cứu thực trạng người cai nghiện ma túy từ
thực tiễn trung tâm Chững bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội số V và công tác xã
hội đối với nhóm học viên này tại địa bàn nghiên cứu. Trên cơ sở đó, tìm ra được
những hạn chế của hoạt động cũng như của hệ thống chính sách với nhóm học viên
này, nhằm đưa ra những giải pháp, kiến nghị thích hợp nâng cao hiệu quả của hoạt
động công tác xã hội đối với nhóm người cai nghiện ma túy trên địa bàn cũng như
tại cộng đồng. Đồng thời, đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho người
làm công tác xã hội, tiếp tục bổ sung hệ thống lý thuyết, thực hành cho hoạt động
công tác xã hội với người cai nghiện ma túy.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn gồm có
3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với người cai nghiện
ma túy
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội đối với người cai nghiện ma túy tại
Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động Xã hội Số V, thành phố Hà Nội
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với người cai
nghiện ma túy
10
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAI
NGHIỆN MA TÚY
1.1. Khái niệm và đặc điểm người cai nghiện ma túy
+ Có khuynh hướng tăng dần liều dùng (liều dùng lần sau cao hơn liều dùng
trước mới có tác dụng).
+ Tâm sinh lý bị lệ thuộc vào tác dụng của chất đó.
+ Thiếu thuốc sẽ xuất hiện các triệu chứng như: uể oải, hạ huyết áp, lên cơn co
giật, đau đớn và có thể làm bất cứ điều gì miễn là có chất ma tuý để dùng (Hội
chứng cai)
+ Từ bỏ các thú vui khác
+ Biết tác hại của nó nhưng vẫn sử dụng
Tóm lại, người nghiện ma túy là người trong tình trạng ngộ độc mãn tính do sử
dụng lặp đi lặp lại nhiều lần một hay nhiều loại ma túy, người sử dụng bị lệ thuộc
vào chất ma túy đó.
* Khái niệm cai nghiện ma túy
Liên hợp quốc đưa ra định nghĩa: Cai nghiện là một biện pháp tổng hợp gồm
các tác động về y học, pháp luật, giáo dục học, đạo đức… nhằm điều trị giúp cho
người nghiện ma túy cắt các hội chứng cai nghiện, phục hồi sức khỏe và tái hòa
nhập xã hội.
1.1.2. Đặc điểm tâm lý nói chung của người nghiện ma túy
Phần lớn người nghiện có sự biển đổi về nhân cách do sự lệ thuộc vào ma túy về
mặt tâm thần hoặc về mặt cơ thể hoặc bị lệ thuộc cả hai. Khi người nghiện có đủ ma
túy để dùng thì họ cảm thấy thoải mái, sảng khoái. Khi không có nó thì họ thường cau
có, bực bội hoặc cô độc, u sầu. Do các chất ma túy thường tạo nên khoái cảm, sảng
khoái làm cho người nghiện giảm hứng thú, nhân cách bị thu hẹp, cách cư xử trở nên
thô lỗ. Người nghiện thường ít chú ý đến người thân, thờ ở với công tác, với những
vui buồn trong cuộc sống.
Đặc biệt do tính lệ thuộc ma túy nên người nghiện tìm đủ mọi cách để đảm bảo
có được liều quen dùng. Vì vậy, họ có thể nói dối, lấy cắp của gia đình, của xã hội,
cướp giật… miễn làm sao họ có được ma túy. Cho nên, họ đã làm cho bản thân và
gia đình tan nát về vật chất, tinh thần, đạo đức…
12
cung cấp hỗ trợ tâm lý cho người cai nghiện và gia đình họ. Như vậy, bằng những
kiến thức nghề nghiệp, kỹ năng chuyên môn, những kỹ thuật, phương pháp cũng
như kinh nghiệm và thái độ đạo đức nghề của mình, nhân viên CTXH đã trợ giúp
cho cá nhân, gia đình và cộng đồng người nghiện phục hồi chức năng xã hội mà
họ bị đánh mất.
Nhân viên CTXH đóng vai trò là người thúc đẩy môi trường xã hội bao gồm:
hệ thống chính sách, luật pháp, dịch vụ xã hội, cộng đồng thân thiện để giúp người
nghiện cai nghiện, học nghề, tái hòa nhập xã hội và thực hiện tốt chức năng của họ.
Đội ngũ nhân viên CTXH đóng vai trò xúc tác, biện hộ để cho cá nhân, gia đình
15
người nghiện ma túy được thụ hưởng những chính sách an sinh dành cho họ. Trên
cơ sở đó giúp họ tìm lại được bản thân và nâng cao vai trò xã hội của họ.
Như vậy, CTXH đối với người cai nghiện ma túy là một hoạt động chuyên
nghiệp nhằm giúp cho người nghiện ma túy đang trong quá trình cai nghiện nâng cao
năng lực cá nhân để hòa nhập môi trường xã hội và cai nghiện bền vững.
1.2.2. Triết lý và nguyên tắc của công tác xã hội làm việc với người cai
nghiện ma túy
1.2.2.1. Nền tảng triết lí nghề công tác xã hội
Nền tảng triết lý của ngành CTXH chuyên nghiệp dựa trên 6 nguyên tắc chỉ
nam: Cá nhân là mối quan tâm hàng đầu của xã hội; Giữa cá nhân và xã hội có một
sự phụ thuộc hỗ tương; Mỗi bên đều có trách nhiệm đối với nhau; Con người có
những nhu cầu giống nhau nhưng mỗi con người là một cái gì độc đáo không giống
người khác; Mỗi con người cần được phát huy hết tiềm năng của mình và cần được
thể hiện trách nhiệm của mình đối với xã hội thông qua sự tích cực tham gia vào xã
hội; Xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện để khắc phục những trở ngại đối với sự
phát huy(hay tự thể hiện) của cá nhân. Những trở ngại ấy chính là sự mất cân bằng
trong quan hệ giữa cá nhân và xã hội.
tắc này thật khó trong hoàn cảnh không những thiếu thốn về kinh tế mà còn yếu về tri
thức khoa học. Dù sao đây là điều tâm niệm sâu sắc nhất của người làm CTXH. Nhân
viên xã hội sẽ ăn không ngon ngủ không yên khi người nghiện kia chưa cắt được cơn
nghiện, hay người nghiện khác khi tái hòa nhập cộng đồng lại bị chính gia đình mình
xa lánh, kì thị.
Như vậy CTXH không phải là từ thiện xoa dịu nhất thời. Nó là công cụ bên
cạnh các ngành nghề khác góp phần điều hòa xã hội vì hạnh phúc con người và
từng con người. Nó rất gần gũi với chủ nghĩa nhân đạo của Bác Hồ chủ nghĩa nhân
đạo của Bác không phải là một việc làm ban ơn mà chủ yếu là khơi dậy trong mỗi
con người lòng tự hào và lòng tự tin ý chí và nhiệt tình để mỗi con người tự mình
khẳng định lấy mình.
1.2.2.2. Các nguyên tắc hành động của nhân viên xã hội trong công tác xã hội
Xuất phát từ nền tảng triết lý trên nhân viên xã hội hành động theo 6 nguyên
tắc chủ đạo :
* Chấp nhận thân chủ:
Chấp nhận là một thái độ rất khó thực hiện nhưng người làm CTXH phải tự
rèn luyện hằng ngày. Có thể chúng ta không đồng tình với hành vi sai phạm của
17
thân chủ nhưng trước mặt chúng ta là một con người và bất cứ con người nào (một
thanh niên nghiện ma túy cũng có nhân phẩm có giá trị đơn giản chỉ vì họ là con
người). Với một thái độ chấp nhận thật sâu sắc bên trong ta mới bộc lộ được sự tôn
trọng thật sự bên ngoài và hết sức thận trọng không phê phán hay kết án mà tìm
hiểu hoàn cảnh đã đưa thân chủ tới hiện trạng. Cảm nhận được sự tôn trọng vô điều
kiện của ta thân chủ mới lấy lại sự tự trọng và tự tin để tự bộc lộ giải bày tâm sự.
Chấp nhận thân chủ là chấp nhận các giá trị niềm tin và văn hóa của họ. Điều
khó chịu nhất là nhân viên xã hội (NVXH) phải học cách đánh giá và hiểu vấn đề
khó khăn của thân chủ theo hệ thống tiêu chuẩn giá trị của chính thân chủ.
dành cho trẻ phạm pháp mà lại nhận vào đó trẻ đi lạc mồ côi chậm phát triển tâm
thần ... thì rất tai hại. Đây cũng là tính chất riêng biệt của nguyên lý về mối liên hệ
phổ biến của phép biện chứng duy vật.
* Kín đáo và giữ bí mật thông tin
Kín đáo hay giữ bí mật là nguyên tắc của nhiều ngành nghề như luật sư bác sĩ
nhà tư vấn người hướng dẫn tinh thần như linh mục chẳng hạn chứ không riêng gì
đối với nhân viên xã hội. Nếu "tôn trọng thân chủ" mà đi khai báo chuyện riêng tư
nhất của họ thì hại nhiều hơn là lợi. Vả lại khi có một khó khăn riêng tư ai trong
chúng ta cũng chỉ muốn thố lộ với người nào biết bảo đảm giữ bí mật cho ta.
Nguyên tắc này rất dễ hiểu nhưng thực hiện rất khó bởi trong văn hóa của
chúng ta "người đời muôn sự của chung". Tình xóm giềng thật cao đẹp nhưng lắm
khi làm cho ta thiếu thói quen tôn trọng sự riêng tư ngay cả đối với con cái. Nhân
viên xã hội phải tự rèn luyện rất nhiều để bám vào nguyên tắc này. Hiện tượng báo
chí "truy lùng" người bệnh HIV/AIDS nêu địa chỉ đặc điểm đến độ láng giềng có
thể đoán ra ngay là một vi phạm nghiêm trọng đối với quyền con người mà xã hội ta
chưa đến trình độ để nhận thức.
* Nhân viên xã hội phải hết sức ý thức về chính mình.
Nếu công cụ của người thợ mộc là cái bào của anh kỹ sư là máy móc thì công
cụ của CTXH chính là nhân cách là phẩm chất con người của nhân viên xã hội. Nếu
có thói quen độc tài bao biện thật khó thể hiện nguyên tắc tự quyết của thân chủ.
Nếu có xu hướng nói nhiều thì rất khó lắng nghe và giữ bí mật của thân chủ. Nếu
không thật nhạy bén về chính mình rất dễ vi phạm sự tôn trọng thân chủ.
Do đó nhân viên xã hội là người biết sử dụng bản ngã của mình một cách có ý
thức. Luôn luôn rà lại động cơ thúc đẩy mình chọn nghề giúp đỡ người khác luôn
luôn đánh giá lại cách làm của mình để có thể khách quan hơn trong nhận định vấn
19
đề của người khác. Phải chăng ở một mặt nào đó thông qua thực tiễn con người