Công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi khuyết tật từ thực tiễn trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bại liệt thạnh lộc - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN MINH TÂM

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM NUÔI DƯỠNG BẢO
TRỢ NGƯỜI BẠI LIỆT THẠNH LỘC

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. NGUYỄN THỊ MAI LAN

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi được
thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Mai Lan
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung
thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cơ sở chọn đề tài đó là đề tài được lựa chọn xuất phát từ những cơ sở lý luận và
thực tiễn sau:
Hiện nay, Việt Nam có hàng chục triệu người đang cần loại hình dịch vụ
công tác xã hội và không chỉ có những đối tượng hiện tại mà còn hàng triệu đối
tượng tiềm năng sẽ cần được cung cấp dịch vụ công tác xã hội trong tương lai. Các
đối tượng này bao gồm người cao tuổi (khoảng 7,6 triệu người, trong đó có khoảng
200.000 người già cô đơn); người khuyết tật (6,4 triệu người, trong đó có khoảng
300.000 người khuyết tật nặng không còn khả năng tự phục vụ và lao động); trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt (1,6 triệu em) và hoàn cảnh éo le (3 triệu em) chưa được xác
định là trẻ có hoàn cảnh đặc biệt theo Luật Bảo vệ, Chăm sóc trẻ em như trẻ bị
ngược đãi, bạo lực, bị buôn bán bắt cóc, tai nạn thương tích; hàng trăm nghìn người
tâm thần; hàng vạn người bị rối nhiều tâm trí, nhất là trẻ em không được tư vấn
chăm sóc chu đáo hoặc phải sống trong môi trường không thân thiện; hàng triệu cá
nhân, gia đình, nhóm xã hội nảy sinh các vấn đề xã hội như ly hôn, bạo lực, thiếu
quan tâm đến con cái, căng thẳng vì nghèo đói, xâm hại tình dục, bỏ nhà đi lang
thang, tệ cờ bạc, nghiện hút…; hàng vạn xã, làng, thôn, bản đặc biệt khó khăn và có
vấn đề xã hội.
Các đối tượng này thường chỉ nhận được sự trợ giúp về cung cấp dịch vụ của
đội ngũ cán bộ, nhân viên công tác xã hội bán chuyên nghiệp (khoảng 15.000
người). Họ là những người làm việc theo bản năng và trực giác, thiếu nhận thức,
hiểu biết và những kỹ năng cần thiết về công tác xã hội, do vậy hiệu quả giải quyết
các vấn đề xã hội không cao và thiếu sự phát triển bền vững.
Cung cấp dịch vụ công tác xã hội bởi những người chuyên nghiệp hoặc bán
chuyên nghiệp nhưng phải được đào tạo cơ bản được thể hiện bằng sự tham gia vào
quá trình giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong mối quan hệ giữa con người,
tham gia vào quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng cho mỗi cá
nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng có vấn đề xã hội để họ tự vươn lên hoà nhập

nương tựa tại Trung tâm bảo trợ xã hội IV Ba Vì – Hà Nội và vai trò can thiệp
của nhân viên công tác xã hội” năm 2013 của Lê Thảo Vy nhấn mạnh nâng cao
kiến thức và kỹ năng của nhân viên công tác xã hội [32].

2


Báo cáo tốt nghiệp “Công tác xã hội với người bại liệt tại Trung tâm nuôi
dưỡng bảo trợ người bại liệt Thạnh Lộc” năm 2014 của Nguyễn Ngọc Thùy và
khóa luận “An sinh xã hội và công tác xã hội cá nhân đối với người khuyết tật tại
Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bại liệt Thạnh Lộc” của Mai Thị Oanh năm
2015 đã khái quát những đặc điểm của người khuyết tật và thực trạng hoạt động
công tác xã hội và thực hành công tác xã hội cá nhân với người khuyết tật tại Trung
tâm [16, tr.64].
Nhìn chung, tất cả các luận văn, khóa luận, báo cáo trên và rất nhiều công
trình nghiên cứu khác nữa đều chỉ ra các mô hình can thiệp chủ yếu, chính sách xã
hội, thực hành công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi, người khuyết tật.
Song phải nói rằng, các nghiên cứu trên chưa thực sự đề cập cụ thể đến việc phải
làm gì để hoạt động công tác xã hội phát triển và thực sự trở thành nhiệm vụ thường
xuyên ở những cơ sở bảo trợ xã hội, những nơi rất cần những nhân viên công tác xã
hội chuyên nghiệp để nâng cao năng lực đối với người cao tuổi, người khuyết tật có
hoàn cảnh khó khăn, thực hiện chức năng xã hội, hòa nhập cộng đồng.
Kế thừa những công trình nghiên cứu nêu trên, đề tài “Công tác xã hội cá
nhân đối với người cao tuổi khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ
người bại liệt Thạnh Lộc, thành phố Hồ Chí Minh” của học viên hy vọng mang đến
cái nhìn mới về hoạt động công tác xã hội với người cao tuổi, người khuyết tật.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về công tác xã hội cá nhân đối với
người cao tuổi khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bại liệt


Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Tháng 12/1015 đến tháng 2/2016.

-

Giới hạn nội dung nghiên cứu: Công tác xã hội cá nhân đối với người cao

tuổi khuyết tật.
4.2. Đối tượng nghiên cứu:
Người cao tuổi khuyết tật.
4.3. Khách thể nghiên cứu:
-

Cán bộ lãnh đạo Trung tâm và nhân viên xã hội, bác sĩ, y sĩ, kỹ thuật viên,

điều dưỡng, hộ lý.
- Các cụ sinh hoạt chung cùng phòng với thân chủ.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu
5.1.1. Hướng tiếp cận hệ thống – cấu trúc
Theo định nghĩa của lý thuyết công tác xã hội hiện đại: “Hệ thống là một tập
hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống
nhất”.
Là công cụ trợ giúp nhân viên xã hội sắp xếp, tổ chức những lượng thông tin
lớn thu thập được để xác định mức độ nghiêm trọng của vấn đề và tìm cách can
thiệp. Việc tổ chức thông tin thành hệ thống sẽ giúp nhân viên xã hội nhìn nhận vấn
đề sáng tỏ hơn.
5.1.2 Hướng tiếp cận thực tiễn
4



Phân tích, tổng hợp và đánh giá những công trình nghiên cứu của các tác giả

trong và ngoài nước xung quanh các vấn đề có liên quan đến công tác xã hội cá
5


nhân đối với người cao tuổi khuyết tật, từ đó chỉ ra những vấn đề còn tồn tại hoặc
chưa được đề cập đến trong các nghiên cứu đó để tiếp tục tiến hành nghiên cứu.
-

Xác định những khái niệm công cụ liên quan đến đề tài: công tác xã hội cá

nhân; người cao tuổi khuyết tật, công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi
khuyết tật.
-

Tổng hợp và phân tích lý luận về công tác xã hội cá nhân, nội dung chủ yếu

của công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi khuyết tật.
-

Phân tích, tìm hiểu một số báo cáo của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội;

Bộ Tài chính và báo cáo của Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bại liệt Thạnh
Lộc, thành phố Hồ Chí Minh và tình hình công tác xã hội cá nhân đối với người cao
tuổi khuyết tật.
-

Tìm hiểu về các Nghị định, Thông tư hướng dẫn dành cho đối tượng, cán bộ

cao tuổi khuyết tật. Luận văn cũng đã chỉ ra những vấn đề lý luận chính về tiến trình
công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi khuyết tật cũng như vai trò và nhiệm
vụ của nhân viên công tác xã hội đối với nhiệm vụ này. Kết quả nghiên cứu lý luận
của luận văn góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về công tác xã hội cá nhân với
người cao tuổi khuyết tật vào trong nội dung lý luận của khoa học công tác xã hội
cá nhân.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi
khuyết tật tại Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bại liệt Thạnh Lộc có ý nghĩa
quan trọng trong việc góp phần vào việc giúp nhân viên công tác xã hội, cán bộ
quản lý công tác xã hội và người cao tuổi khuyết tật thấy được vai trò và ý nghĩa
quan trọng của phương pháp công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi khuyết
tật tại Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bại liệt Thạnh Lộc. Kết quả nghiên cứu
thực tiễn của đề tài cũng chứng tỏ, đối với người cao tuổi khuyết tật thì việc sử dụng
phương pháp công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp họ là phương pháp tối ưu.
Có thể nhân rộng phương pháp này trên đối tượng người cao tuổi khuyết tật tại các
Trung tâm khác trên địa bàn thành phố. Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể
làm tài liệu tham khảo hữu ích cho hoạt động đào tạo tại các cơ sở đào tạo nói
chung và công tác xã hội đối với người cao tuổi khuyết tật nói riêng. Đồng thời, là
tài liệu tham khảo có ý nghĩa cho những ai đang quan tâm nghiên cứu về lĩnh vực
này cũng như nhà trường, giảng viên đánh giá năng lực của bản thân trong quá trình
thực hiện đề tài.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục. Luận văn gồm có 3 chương:
7


Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi
khuyết tật.


tuổi thường thích hội họp, tìm lại bạn cũ, cảnh xưa, tham gia hội ái hữu, hội cựu
chiến binh... Họ thích ôn lại chuyện cũ, viết hồi ký, tái hiện kinh nghiệm sống cũng
như hướng về cội nguồn: viếng mộ tổ tiên, sưu tầm cổ vật…
-

Chuyển từ trạng thái “tích cực” sang trạng thái “tiêu cực”
Khi về già người cao tuổi phải đối mặt với bước ngoặt lớn lao về lao động và

nghề nghiệp. Đó là chuyển từ trạng thái lao động (bận rộn với công việc, bạn bè)
sang trạng thái nghỉ ngơi, chuyển từ trạng thái tích cực khẩn trương sang trạng thái
tiêu cực xả hơi. Do vậy người cao tuổi sẽ phải tìm cách thích nghi với cuộc sống
mới. Người ta dễ gặp phải “hội chứng về hưu” [31, tr.30].
 Những biểu hiện tâm lý của người cao tuổi
-

Sự cô đơn và mong được quan tâm chăm sóc nhiều hơn : Con cháu thường

bận rộn với cuộc sống. Điều này làm cho người cao tuổi cảm thấy mình bị lãng
9


quên, bị bỏ rơi. Họ rất muốn tuổi già của mình vui vẻ bên con cháu, muốn được
người khác coi mình không là người vô dụng. Họ rất muốn được nhiều người quan
tâm, lo lắng cho mình và ngược lại. Họ sợ sự cô đơn, sợ phải ở nhà một mình.
-

Cảm nhận thấy bất lực và tủi thân: Đa số người cao tuổi nếu còn sức khỏe

vẫn còn có thể giúp con cháu một vài việc vặt trong nhà, tự đi lại phục vụ mình,

gia hoạt động văn hoá, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch và nghỉ ngơi;
10


được tạo điều kiện làm việc phù hợp với sức khoẻ, nghề nghiệp và các điều kiện
khác để phát huy vai trò người cao tuổi; được miễn các khoản đóng góp cho các
hoạt động xã hội, trừ trường hợp tự nguyện đóng góp; được ưu tiên nhận tiền, hiện
vật cứu trợ, chăm sóc sức khỏe và chỗ ở nhằm khắc phục khó khăn ban đầu khi gặp
khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc rủi ro bất khả kháng khác; được tham gia Hội
người cao tuổi Việt Nam theo quy định của Điều lệ Hội và các quyền khác theo quy
định của pháp luật [17].
1.1.3. Quan niệm về người khuyết tật
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi sử dụng định nghĩa về người khuyết
tật theo Luật người khuyết tật Việt Nam ban hành vào năm 2010. Đây là định nghĩa
khá đầy đủ, tổng hợp được các cách hiểu khác nhau về khuyết tật và phù hợp với
điều kiện và hoàn cảnh Việt Nam.
“Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể
hoặc suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh
hoạt, học tập gặp khó khăn”.
Như định nghĩa trên đây, có hai vấn đề cần quan tâm. Thứ nhất, đó là người
khuyết tật có thể là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể, đó có thể
là những người mất đi các bộ phận cơ thể như cụt chân, tay, tê liệt, bại liệt, hoặc bất
thường về các bộ phận cơ thể khác. Thứ hai, đó là suy giảm chức năng, vấn đề này
thể hiện ở việc các chức năng trên cơ thể người có thể hoạt động không tốt hoặc các
bộ phận không đảm bảo được chức năng của mình như chức năng thị giác, thính
giác hay chức năng suy nghĩ, lý giải…Tuy nhiên, một ý rất quan trọng trong định
nghĩa trên đó là những khiếm khuyết và suy giảm chức năng đã làm cản trở cá nhân
tham gia vào các hoạt động như sinh hoạt, lao động và học tập một cách bình
thường [9, tr.10].
1.1.4. Quyền của người khuyết tật

độc, sự xao xuyến lo âu là tâm trạng thường xuyên của người cao tuổi và ý thức
rằng cuộc đời đã xế chiều lại tàn phế, mọi sinh hoạt cần có người chăm sóc vì nghĩ
rằng chuỗi ngày còn lại là sự cô đơn, vô dụng.., chính vì những trăn trở đó mà
người cao tuổi khuyết tật rất trân trọng tình cảm, sống thiên về tình cảm nhiều hơn,
rất nặng tình cảm hàm ơn người khác nếu được các nhân viên chăm sóc, giúp đỡ dù
là việc nhỏ.
 Về giao tiếp
12


Con người một khi cao tuổi, khuyết tật thì họ thường gắn bó hơn với đời
sống tâm linh, nghĩ về dòng họ, gia đình và con cháu, hay có thói quen lưu luyến
quá khứ, rất thích nhớ lại, kể lại những chuyện đã qua có thể đó là những kỷ niệm
vui, buồn của cuộc sống cơ hàn thời kỳ đất nước còn nhiều khó khăn. Vì vậy, giao
tiếp đối với người cao tuổi khuyết tật là nhu cầu không thể thiếu, bởi giao tiếp là
phương tiện, công cụ động lực giúp người cao tuổi tránh được sự cô đơn, buồn tủi,
giúp bộc bạch tâm tư, nguyện vọng của bản thân, cảm giác của họ về cuộc sống này
không phải là người “ sống thừa” và đâu đó trong suy nghĩ của họ vẫn còn được tôn
trọng, dành nhiều sự yêu thương của mọi người, đặc biệt là từ những người thân
trong gia đình thì sẽ giúp cho người cao tuổi khuyết tật cởi bỏ hết những phiền
muộn để sống vui hơn trong cuộc đời này.
Chủ đề giao tiếp của người cao tuổi khuyết tật thường xoay quanh những câu
chuyện quá khứ như: những khó khăn vất vả mà họ đã trải qua, cuộc sống chia cách
giữa thời điểm giao thời. Về già đặc điểm tâm lý người cao tuổi khuyết tật có nhiều
thay đổi, chức năng hoạt động của các cơ quan giảm sút, có nhiều bệnh tật về hô
hấp, tim mạch, các cơ quan cảm giác suy giảm... Vì thế khả năng giao tiếp về hô
hấp, tim mạch, các cơ quan cảm giác suy giảm không còn linh hoạt như trước. Mặc
dù vậy, nhu cầu giao tiếp của người cao tuổi khuyết tật lại rất cao, do có nhiều thời
gian rảnh để tiếp chuyện với mọi người, thông qua giao tiếp người cao tuổi khuyết
tật sẽ tăng thêm sức khỏe và thấy mình có ích cho xã hội.

hội nhằm giúp đỡ, hỗ trợ người cao tuổi vượt qua khó khăn, giúp họ đánh giá, xác
định vấn đề, tìm kiếm tiềm năng, điểm mạnh từ đó nâng cao năng lực tự giải quyết
vấn đề. Quá trình giúp đỡ là quá trình khoa học và chuyên nghiệp, trong đó nhân
viên xã hội vận dụng nền tảng kiến thức khoa học tâm lý xã hội, xã hội học, các
khoa học xã hội liên quan khác và các kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp sát cánh cùng
người cao tuổi hỗ trợ họ tự giải quyết vấn đề của mình và hướng đến vượt qua
những vấn đề khác có thể xảy ra trong tương lai [31, tr.8].
Theo Nguyễn Thị Kim Hoa: “Công tác xã hội với người khuyết tật là hoạt
động chuyên nghiệp của nhân viên công tác xã hội giúp đỡ những người khuyết tật
nhằm tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ, huy
động nguồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ người khuyết tật, gia
đình và cộng đồng triển khai hoạt động chăm sóc trợ giúp họ một cách hiệu quả,

14


vượt qua những rào cản, đảm bảo sự tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội trên
nền tảng sự công bằng như những người khác trong xã hội” [10, tr.38].
1.2.3. Công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi khuyết tật
Căn cứ các khái niệm trên và mục đích hoạt động công tác xã hội với người
cao tuổi, người khuyết tật, học viên xin khái quát công tác xã hội cá nhân với người
cao tuổi khuyết tật như sau: Công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi khuyết tật
là một phương pháp trợ giúp người cao tuổi khuyết tật, gia đình và cộng đồng nâng
cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, nhân viên xã hội
can thiệp giải quyết vấn đề của người cao tuổi khuyết tật trong mối quan hệ tương
tác với môi trường xã hội của người cao tuổi khuyết tật, đồng thời thúc đẩy môi
trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp người cao tuổi khuyết
tật, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần
bảo đảm an sinh xã hội. Mục tiêu của công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi
khuyết tật là trợ giúp đối tượng có vấn đề, giải quyết được vấn đề của họ và tăng

thiết lập mối quan hệ tốt và tạo sự tin tưởng đối với người cao tuổi khuyết tật là
khâu quan trọng nhất trong bất cứ hoạt động trợ giúp nào, là điều có ý nghĩa sống
còn trong quá trình giúp đỡ và can thiệp giải quyết vấn đề của người cao tuổi khuyết
tật. Có được mối quan hệ tích cực với người cao tuổi khuyết tật, nhân viên xã hội
giúp người cao tuổi khuyết tật đạt được sự đồng thuận trong giải quyết vấn đề của
chính mình. Chính những điều này sẽ đặt nền tảng cho việc hình thành mối quan hệ
tin cậy và hợp tác giữa nhân viên xã hội và người cao tuổi khuyết tật trong suốt tiến
trình hỗ trợ.
Điều quan trọng, người cao tuổi khuyết tật thường mang mặc cảm, tự ti,
ngại giao tiếp và tham gia vào các hoạt động tập thể cho nên nhân viên xã hội cần
phải tôn trọng và chấp nhận họ với những giá trị của con người.
Để có thể tạo lập được mối quan hệ này, nhân viên xã hội phải giới thiệu về
vị trí công việc, vai trò, trách nhiệm và mục tiêu trợ giúp người cao tuổi khuyết tật
của mình và phải sử dụng kỹ năng:
- Thăm và làm việc với người cao tuổi khuyết tật: thông qua hoạt động vãng
gia nhân viên xã hội thể hiện sự quan tâm của mình với người cao tuổi khuyết tật.
Để thiết lập được một mối quan hệ tốt, cần có thời gian và kiên nhẫn, cần phải trực
tiếp đến thăm tại phòng ở, tiếp cận các thành viên trong phòng để tìm hiểu quan sát
những hành vi và cuộc sống đời thường của họ. Để việc thăm và làm việc đạt hiệu
16


quả nhân viên xã hội cần phải:
- Tạo bầu không khí thoải mái bằng một số hình thức khuyến khích, động
viên có thể được phát triển dựa vào tình hình thực tiễn của người cao tuổi khuyết
tật;
- Những biện pháp khuyến khích, động viên dưới hình thức như tặng thực
phẩm, hay vật lưu niệm cũng có tác dụng xây dựng mối quan hệ bền vững nhưng
không lạm dụng;
- Mời người cao tuổi khuyết tật tham gia vào các hoạt động giao tiếp bên

- Thành thật và làm rõ động cơ là điều kiện thiết yếu để hình thành một mối
quan hệ;
- Cần làm cho người cao tuổi khuyết tật hiểu rằng mối quan tâm của nhân
viên xã hội không phải chỉ xuất phát từ nhu cầu công việc. Nhiều nhân viên xã hội
coi công việc của mình là gánh nặng, nếu người cao tuổi khuyết tật cảm nhận được
thái độ tiêu cực này, họ sẽ không còn cởi mở hoặc tin tưởng nữa.
Bước 2: Thu thập thông tin
Khi tiếp nhận một trường hợp người cao tuổi khuyết tật, nhân viên xã hội sẽ
làm thủ tục mở hồ sơ trường hợp, tiếp cận với các thành viên trong gia đình (nếu
có) để thu thập thông tin ban đầu và thực hiện các ghi chép..
 Nội dung thông tin cần thu thập:
-

Về cá nhân:

 Thông tin về cá nhân và vấn đề của cá nhân: họ và tên, tuổi, giới tính, trình
độ văn hóa, nghề nghiệp, việc làm, thu nhập, mối quan hệ với các thành viên trong
gia đình, tâm tư, tình cảm, vấn đề cá nhân đang gặp phải…;
 Nhu cầu cần hỗ trợ của cá nhân: thông qua vấn đàm nhân viên xã hội tìm
hiểu vấn đề cá nhân đang gặp phải là những vấn đề gì, họ có vấn đề cấp bách ảnh
hưởng đến sự an nguy của bản thân hay không, cần cung cấp các dịch vụ khẩn cấp
ngay hay không;
 Thông tin về những trải nghiệm cũng như những cố gắng tự giải quyết vấn
đề của mình như thế nào.
-

Về gia đình:

 Thông tin về hoàn cảnh gia đình: điều kiện hoàn cảnh sống của gia đình như
thu nhập, việc làm, nhà ở, tài sản, phương tiện sản xuất, điều kiện sinh hoạt; những

hội có thể có ích cho quá trình giải quyết vấn đề của cá nhân, gia đình;
 Thông tin về các yếu tố như mối quan tâm của họ hàng, dòng tộc, bà con
hàng xóm nơi gia đình sinh sống;

19


 Thông tin về các tổ chức của địa phương như bệnh viện, các đoàn thể, chính
quyền,…
 Nguồn thu thập thông tin:
Để có thể thu thập được những thông tin về người cao tuổi khuyết tật, nhân
viên xã hội phải thực hiện tiếp cận nhiều lần và sử dụng các kỹ năng công tác xã hội
như: thiết lập mối quan hệ với người cao tuổi khuyết tật, kỹ năng vấn đàm, quan sát,
thu thập thông tin... Thông tin có thể thu thập từ nhiều nguồn khác nhau:
-

Các thành viên trong gia đình: thông qua trò chuyện, tâm sự, lời kể, quan sát

hành vi, cử chỉ, ngôn ngữ. nhân viên xã hội cần hết sức lưu ý đến phương pháp và
cách thức khai thác thông tin nhằm khuyến khích họ cung cấp thông tin chính xác;
-

Từ các ông/ bà ở cùng phòng;

-

Từ Ban quản lý Khu, y, bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý chăm sóc nuôi dưỡng trực

tiếp;
 Kỹ năng thu thập thông tin:

(2) Bắt đầu vào buổi phỏng vấn: Chào hỏi thân chủ; giới thiệu cho thân chủ
biết mục đích của buổi nói chuyện; sử dụng những hành vi, cử chỉ để tạo không khí
thân thiện, dễ chịu; hỏi thăm thân chủ, xây dựng mối quan hệ thiện chí giữa nhân
viên xã hội và thân chủ, tạo lòng tin nơi thân chủ. Đối với thân chủ giai đoạn này có
thể chiếm nhiều thời gian hơn, đòi hỏi sự kiên trì, bình tĩnh;
(3) Giai đoạn triển khai: Đây là giai đoạn cốt lõi, quyết định để đạt mục đích
của buổi phỏng vấn. Trong giai đoạn này nhân viên xã hội cùng thân chủ thảo luận
về nội dung, tính chất và nguyên nhân của vấn đề, khuyến khích và khai thác thân
chủ hoặc gia đình thân chủ (nếu có) những thông tin cần thiết qua các dạng câu hỏi
khác nhau. Thái độ tỏ ra đồng cảm, cởi mở. Luôn định hướng cho thân chủ để cuộc
nói chuyện bám sát mục tiêu của buổi phỏng vấn. Thân chủ có thể bị phân tán bởi
các yếu tố tác động nên đôi khi không tập trung vào trả lời, nhân viên xã hội (người
thực hiện phỏng vấn) phải kiên trì, chấp nhận sự lơ lễnh đó và có thể thay đổi cách
khai thác qua các câu hỏi bằng trò chuyện, hình vẽ, trò chơi. Không nên cưỡng ép
thân chủ trả lời nếu họ không muốn;
(4) Giai đoạn kết thúc: Thông thường, buổi phỏng vấn kết thúc khi đạt được
mục đích, không nên kéo dài quá thời gian. Nếu thấy có những thông tin cần được
làm sáng tỏ thì nên sắp đặt buổi phỏng vấn khác. Khi buổi phỏng vấn sắp kết thúc
nên kiểm tra, tóm tắt lại những thông tin đã được trao đổi. Đối với những thông tin
mang tính riêng tư của thân chủ, nếu thấy cần thiết phải chia sẻ với người khác, nên
thảo luận với thân chủ để tạo lòng tin và sự hợp tác những lần sau. Sắp xếp thời
gian, địa điểm cho buổi gặp lần sau.
21


 Một số kỹ năng cần có trong phỏng vấn:
(1) Lắng nghe tích cực: Tập trung cao độ khi nghe (nghe và quan sát); phản
ánh lại tâm trạng và suy nghĩ của đối tượng (ví dụ nghe ông/ bà nói thì tôi hiểu ông/
bà đang rất buồn có phải không?); làm sáng tỏ để khẳng định sự hiểu đúng ý của đối
tượng; tránh phân tích, diễn giải nhiều;



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status