Quản lý trường hợp đối với người khuyết tật từ thực tiễn trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ xã hội hải dương, tỉnh hải dương - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRỊNH NGỌC THĂNG

QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI NGƯỜI
KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM
NUÔI DƯỠNG BẢO TRỢ XÃ HỘI HẢI DƯƠNG,
TỈNH HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM TRƯỜNG GIANG

Hà Nội, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam kết luận văn của mình được thực hiện dựa vào quá trình tìm tòi,
cố gắng, thực hiện của bản thân cùng với sự hướng dẫn giúp đỡ của TS Phạm
Trường Giang, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.
Công trình nghiên cứu của tôi không sao chép của bất cứ cá nhân hay tổ
chức nào, các số liệu kết quả nêu trong luận văn là trung thực, các thông tin
trích dẫn trong luận văn là được chỉ rõ nguồn gốc.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Học viện về sự cam đoan này.
Hà Nội, ngày

tháng năm 2016

3.2. Một số khuyến nghị ............................................................................... 65
Kết luận chương 3 ........................................................................................ 69
KẾT LUẬN .................................................................................................. 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 72
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIÊT TẮT

CTXH

Công tác xã hội

NVCTXH

Nhân viên công tác xã hội

NKT

Người khuyết tật

QLTH

Quản lý trường hợp


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH

Bảng 2.1. Thông tin người khuyết tật .......................................................... 40
Bảng 2.2. Tổng hợp đánh giá nhu cầu của người khuyết tật........................ 41

Ngoài ra, thực tế cũng cho thấy, nhận thức của xã hội về vấn đề NKT
còn hạn chế; thiếu sự đồng bộ trong hệ thống chính sách hỗ trợ NKT tái hoà
nhập cộng đồng; năng lực quản lý, huy động sự ủng hộ từ các cá nhân, tập
thể, cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội, trong nước và ngoài nước còn gặp
nhiều khó khăn; bản thân NKT còn chưa khẳng định được tiếng nói của chính
mình trong xã hội... Điều này khiến cho NKT ngày càng thu mình, mặc cảm,

1


tự ti hơn và gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống. Tuy nhiên, trong khuôn
khổ của đề tài, để đi được một cách có trọng tâm, tác giả xin nói đến bốn khó
khăn chính sau đây:
Thứ nhất, việc khiếm khuyết đi một phần về thể chất không làm mất đi
giá trị cũng như năng lực của NKT nhưng do những rào cản vô hình, như sự
phận biệt đối xử từ cộng đồng, xã hội cũng như sự mặc cảm từ chính bản thân
nhiều NKT, việc hoà nhập cộng đồng của họ gặp khó khăn.
Nhiều trẻ em khuyết tật không thể đi học cũng do gia đình, cha mẹ các
em và chính bản thân các em sợ sẽ bị bạn bè trêu chọc. Nhiều NKT không
dám đến các nơi công cộng vì sợ bị nhiều ánh mắt để ý khiến họ cảm thấy tự
ti. Ngay tại các doanh nghiệp, NKT tưởng như được nhiều ưu đãi nhưng thực
chất họ lại gặp nhiều khó khăn không mong đợi như cơ sở vật chất, thời gian
làm, công việc làm... Nhiều NKT không thể tìm cho mình một công việc phù
hợp do nhiều nhà tuyển dụng ái ngại về khả năng lao động của NKT.
Thứ hai, khó khăn về việc tiếp cận dành cho NKT, bao gồm tiếp cận
thông tin về các chính sách, tiếp cận giao thông và tiếp cận cơ sở vật chất.
NKT muốn tham gia vào các hoạt động của xã hội nhưng họ lại không thể
tiếp cận giao thông. Người khiếm thị không thể tiếp cận trường lớp vì thiếu
giáo trình (phần mềm đọc chữ, chữ nổi, ..) và chưa có phương pháp giảng dạy
phù hợp.

cũng là vấn đề bức thiết đang được quan tâm hiện nay. Vì vậy, tác giả đã
chọn đề tài: “Quản lý trường hợp đối với người khuyết tật từ thực tiễn
Trung tâm Nuôi dưỡng Bảo trợ xã hội Hải Dương, tỉnh Hải Dương” trên
cơ sở làm rõ nhiệm vụ QLTH đối với NKT, đồng thời đưa ra một số định
hướng và giải pháp, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động QLTH đối với NKT.

3


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Báo cáo của Liên hợp quốc về NKT (2002) chỉ ra rằng NKT chiếm trên
10% dân số thế giới, cuộc sống của họ đa phần gặp khó khăn cả về kinh tế và
tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Công ước của Liên hợp quốc về quyền của NKT (2006) cũng đã xác
định được những quyền cơ bản của NKT, trong đó cũng đã nhấn mạnh đến
các quyền về chăm sóc sức khỏe, học tập, việc làm, bảo đảm thu nhập và an
sinh xã hội; đặc biệt công ước cũng nhấn mạnh đến nguyên tắc chống phân
biệt đối xử, bảo vệ phụ nữ và trẻ em khuyết tật. Việt Nam cũng đã ký kết
tham gia thực hiện công ước.
Hiện nay hầu hết các quốc gia đã nghiên cứu và ban hành chính sách trợ
giúp NKT, dựa vào lý thuyết vòng đời từ khi con người sinh ra còn là trẻ em,
đến khi trưởng thành và trở thành người già, trong quá trình ấy một bộ phận
người dân không may mắn rơi vào tình trạng khuyết tật. Với quan điểm các
quốc gia thành viên đã tham gia phê duyệt công ước của Liên hợp quốc về
quyền của NKT phải có trách nhiệm bảo đảm an sinh xã hội cho NKT. Nhờ
có hệ thống chính sách an sinh xã hội cho NKT mà cuộc sống của đại đa số
NKT được ổn định và NKT có cơ hội phát triển và hoà nhập cộng đồng.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam là một trong những nước có số NKT khá cao trong khu vực

nguyên tắc, vai trò và hướng tiếp cận trong CTXH với NKT; các kỹ năng và
phương pháp tiếp cận trong CTXH với NKT; chính sách, pháp luật dành cho
NKT. Giáo trình đề cập đến nhiều vấn đề, khía cạnh liên quan đến NKT, một
số nội dung giáo trình không đề cập tới như không đưa ra khái niệm CTXH
với NKT; quản lý ca đối với NKT.
Viện nghiên cứu phát triển xã hội (2013) thực hiện cuộc điều tra “Chi
phí kinh tế cuộc sống với khuyết tật và kỳ thị ở Việt Nam” với sự hỗ trợ tài

5


chính của AusAID và hỗ trợ kỹ thuật của các chuyên gia từ Đại học Y Hà
Nội, Viện Dân số, Sức khỏe và Phát triển, Trung tâm khuyết tật và Phát triển
và Viện Y tế toàn cầu Nossal của Đại học tổng hợp Member Úc.
Bùi Thị Xuân Mai (2012) biên soạn “Giáo trình Nhập môn CTXH”. Giáo
trình được biên soạn mang tính chất đại cương dành cho sinh viên mới bắt đầu
làm quen với ngành CTXH nên trong nội dung nhiều lĩnh vực hoạt động của
CTXH thì tác giả dành thời gian giới thiệu lĩnh vực CTXH với NKT một cách
cơ bản, ngắn gọn. Nội dung đề cập đến những vấn đề chung CTXH với NKT
(làm rõ thuật ngữ NKT, các dạng khuyết tật...); các dịch vụ CTXH đối với NKT.
Vì vậy, những nội dung chi tiết không được tác giả trình bày cụ thể.
Lê Chí An (2006) biên soạn “Tài liệu hướng dẫn học tập CTXH nhập
môn”. Tài liệu này được tác giả đề cập đến nhiều nội dung như lịch sử ngành
CTXH; một số lý thuyết tổng quát áp dụng trong CTXH; các phương pháp
CTXH; các lĩnh vực áp dụng CTXH. Trong đó, tác giả có đề cập đến lĩnh vực
CTXH với NKT tuy nhiên không nêu bật được nội dung CTXH với NKT.
Tác giả chỉ đánh giá chung về khó khăn của NKT và sự quan tâm của Đảng,
Nhà nước ta trong trợ giúp NKT. Từ đó, chỉ ra vai trò cơ bản của NVCTXH
trong trợ giúp NKT.
Trong cuốn tài liệu tập huấn “Khóa đào tạo CTXH cho các nhà quản lý

+ Đánh giá nhu cầu của NKT.
+ Xây dựng kế hoạch trợ giúp NKT.
+ Thực hiện kế hoạch trợ giúp NKT.
+ Lượng giá.
- Không gian nghiên cứu: Tại Trung tâm Nuôi dưỡng Bảo trợ xã hội Hải
Dương, tỉnh Hải Dương.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01 năm 2016 đến tháng 6 năm 2016.

7


5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng, từ việc đánh giá thực
trạng về NKT, công tác QLTH đối với NKT từ thực tiễn Trung tâm Nuôi
dưỡng Bảo trợ Xã hội để rút ra những lý luận và đưa ra được những đề xuất
về biện pháp nâng cao hiệu quả về QLTH đối với NKT.
Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: Nghiên cứu quy trình QLTH
đối với NKT. Từ đó giúp chúng ta hiểu sâu hơn về đặc điểm tâm lý, sinh lý,
nhu cầu và quá trình phát triển của con người, cũng như các yếu tố có liên
quan như các dịch vụ hỗ trợ cho NKT, các hoạt động công tác xã hội với
NKT tác động tới quá trình phát triển về thể chất và tinh thần của NKT.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phân tích tài liệu
Sử dụng phương pháp này tác giả nhằm thu thập, tổng hợp, phân tích tài
liệu từ sách, báo, tạp chí, các báo cáo khoa học để xây dựng cơ sở lý luận cho
đề tài nghiên cứu. Qua đó, tác giả cũng xác định được một số khái niệm chính
của đề tài như: khuyết tật, NKT, QLTH đối với NKT.
Tác giả thu thập thông tin từ các nguồn như các văn bản, báo cáo, các
tạp chí, sách tham khảo, các văn bản pháp luật để tìm hiểu các số liệu liên

luận QLTH đối với NKT, làm rõ thêm các cơ sở pháp lý trong QLTH đối với
NKT từ thực tiễn Trung tâm Nuôi dưỡng Bảo trợ xã hội Hải Dương.
6.1. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài đã nghiên cứu thực trạng và các giải pháp mà đề tài đưa ra có tính
khả thi và có thể áp dụng để nâng cao hiệu quả trong hoạt động QLTH đối với
NKT. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị
cho công tác chuyên môn tại Trung tâm Nuôi dưỡng Bảo trợ xã hội Hải
Dương, đồng thời kết quả nghiên cứu có thể đưa ra những khyến nghị nhằm
giúp các cơ quan chức năng, tổ chức, các Trung tâm bảo trợ,…có những định

9


hướng, giải pháp tăng cường nâng cao hoạt động QLTH hỗ trợ NKT đạt hiệu
quả cao hơn.
Qua quá trình nghiên cứu đề tài, bản thân người nghiên cứu có những đánh
giá khách quan về nhiệm vụ QLTH đối với NKT, hiểu được những khó khăn,
nguyện vọng của NKT. Từ đó xây dựng nội dung phù hợp, đạt hiệu quả cao hơn
đối với các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
Đề tài đưa ra những giải pháp và khuyến nghị nhằm phát triển dịch vụ
CTXH tại tỉnh Hải Dương. Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được dùng làm
tài liệu tham khảo cho các Trung tâm bảo trợ, giảng viên, học viên và sinh viên
ngành CTXH.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận
văn được chia 03 chương sau đây:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về QLTH đối với NKT.
Chương 2: Thực trạng QLTH đối với NKT từ thực tiễn Trung tâm Nuôi
dưỡng Bảo trợ xã hội Hải Dương.
Chương 3: Giải pháp QLTH đối với NKT từ thực tiễn Trung tâm Nuôi

trên cả phương tiện truyền thông đại chúng và văn bản pháp quy. Trong các
pháp lệnh trước đây của Nhà nước Việt Nam, tàn tật là cụm từ được chính

11


thức sử dụng. Năm 2010 Quốc hội Việt Nam đã chính thức sử dụng cụm từ
khuyết tật thay cho tàn tật trong các bộ luật ban hành có liên quan, cụ thể là
Luật NKT, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011. Sự thay thế này phù hợp với khái
niệm và xu hướng nhìn nhận của thế giới về vấn đề NKT.
Quan niệm về khuyết tật, tàn tật khác nhau giữa các nước trên thế giới,
tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, kinh tế, thái độ, nhận thức và hiểu
biết về NKT. Vì vậy, hiện nay vẫn chưa có một sự thống nhất về khái niệm
khuyết tật.
1.1.2. Khái niệm người khuyết tật
Khái niệm NKT, cơ sở pháp lý để công nhận ai là NKT và từ đó được
bảo vệ bởi hệ thống pháp luật liên quan, phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu mà
luật hoặc chính sách cụ thể. Do vậy, không có một khái niệm NKT áp dụng
cho các nước.
Công ước về Quyền của NKT của Liên hợp quốc (2006), Điều 1 quy
định: NKT bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ
hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hằng loạt
những rào cảm có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của NKT vào xã
hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác.
Theo định nghĩa trong "Luật NKT Mỹ năm 1990": NKT là người bị
khiếm khuyết về cơ thể hoặc tinh thần, bị hạn chế cơ bản trong một hoặc nhiều
mặt sinh hoạt. Một người được coi là NKT nếu đã có một khiếm khuyết nào
đó. Những khiếm khuyết ấy có thể bao gồm khiếm khuyết về cơ thể, giác quan,
nhận thức hoặc trí tuệ. Những người bị rối loạn tâm thần và mắc các loại bệnh
kinh niên khác nhau cũng có thể được coi là NKT. Các khuyết tật có thể xuất

Là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân
mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển [Theo Nghị định số
28/2012/NĐ-CP].

13


Khuyết tật vận động là những người có cơ quan vận động bị tổn thương,
biểu hiện dễ nhận thấy là có khó khăn trong ngồi, nằm, di chuyển, cầm,
nắm… Do đó, NKT vận động gặp rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt cá nhân,
vui chơi, học tập và lao động. Tuy nhiên, đa số NKT vận động có bộ não phát
triển bình thường nên họ tiếp thu được chương trình học tập, làm được việc
có ích cho gia đình, bản thân và xã hội. NKT về vận động cần được sự hỗ trợ
về phương tiện đi lại (xe lăn, gậy chống…) và đặc biệt là không gian cần
thiết, thuận tiện, phù hợp để di chuyển khi làm việc, đảm bảo các nhu cầu
cuộc sống bình thường của con người và tham gia các hoạt động xã hội.
1.1.3.2. Khuyết tật nghe, nói
Là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cả nghe và nói,
phát âm thành tiếng và câu không rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp,
trao đổi thông tin bằng lời [Theo Nghị định số 28/2012/NĐ-CP]
Biểu hiện của khuyết tật nghe, nói
- Không thể nghe, không thể nói (không phát âm được hoặc phát âm
khó) như bình thường hoặc sức nghe giảm từ khoảng cách 3 mét.
- Không có khả năng nói mặc dù cơ quan phát âm hoàn toàn bình
thường.
- Suy giảm chức năng nghe do nhiều nguyên nhân khác nhau; mắc
chứng nói ngọng, nói lắp hoặc không nói được.
NKT nghe, nói là người có khó khăn đáng kể về nói và/hoặc về đọc viết
làm ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình giao tiếp và học tập. Khó khăn về nói,
nghe, đọc của NKT ngôn ngữ ảnh hưởng trực tiếp đến giao tiếp từ đó làm hạn

- Nghe thấy tiếng nói hoặc nhìn thấy hình ảnh không có trong thực tế.
- Tự cho mình có nhiều tài năng xuất chúng hoặc cho là có người theo
dõi ám hại mình.

15


- Lên cơn kích động hoặc nằm im không ăn uống gì.
1.1.3.5. Khuyết tật trí tuệ
Là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng
việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải
quyết sự việc [Theo Nghị định số 28/2012/NĐ-CP]
Các biểu hiện đặc trưng của khuyết tật trí tuệ:
Đặc trưng phát triển:
- Chậm phát triển vận động: trẻ chậm biết lật, ngồi, bò và đi đứng,
- Chậm biết nói và khó khăn khi nói.
- Kém hiểu biết về các quy luật cơ bản..
- Không ý thức được hậu quả về các hành vi của mình.
- Khó khăn khi tự phục vụ: tự ăn uống, vệ sinh cá nhân.
Đặc trưng về cảm giác, tri giác:
- Chậm chạp, ít linh hoạt.
- Phân biệt màu sắc, dấu hiệu, chi tiết sự vật kém.
- Thiếu tính tích cực trong quan sát.
Đặc trưng về tư duy:
- Khó nhận biết các khái niệm.
- Tư duy lôgíc kém.
- Thiếu tính nhận xét, phê phán.
Đặc trưng về trí nhớ:
- Chậm hiểu cái mới, quên nhanh cái vừa tiếp thu.
- Quá trình ghi nhớ không bền vững, không đầy đủ.

1.1.4.2. Do sang chấn trước và trong quá trình sinh nở
Trẻ bị sinh non, thiếu tháng nếu mẹ sử dụng chất kích thích hoặc mang
đa thai.
Trẻ bị tổn thương não do bị ngạt khi sinh hoặc do bất thường của nhau
thai, cuốn rốn.

17


Trẻ bị dị tật hoặc khiếm khuyết do mẹ bị bệnh trong quá trình mang thai
như: mắc các bệnh rubella, sở, cúm, bệnh xã hội như: giang mai, lậu...
Nhiễm độc thai nghén do sử dụng rượu, ma túy, thuốc lá, có thể dẫn đến
chấn thương ở hệ thần kinh, sinh con thiếu tháng.
Biến chứng khi sinh do tiêm chủng, do thuốc, do can thiệp không kịp thời.
1.1.4.3. Do tai nạn
Tai nạn sinh hoạt như bị ngã cầu thang, bị bỏng, bị điện giật...
Tai nạn chiến tranh: do hậu quả của bom mìn, của chất độc điôxin.
Tai nạn giao thông.
Tai nạn lao động.
1.1.4.4. Biến chứng do bệnh mắc phải
Viêm khớp.
Viêm dây thần kinh ngoại biên.
Đột quỵ
Tiểu đường...
1.1.4.5. Nguyên nhân lão hóa do tuổi cao.
Khiếm thị do suy giảm thị lực, do đục thủy tinh thể.
Khiếm thị do suy giảm chức năng nghe.
Teo não, thoái hóa não, tổn thương não do tai biến, bệnh tật.
Bệnh xương, khớp, cơ có thể dẫn đến suy giảm chức năng vận động.
Bệnh sa sút trí tuệ.

mọi người.
Trong mối quan hệ tương tác với người khác trong gia đình, cộng đồng,
họ thường có cảm xúc buồn, thất vọng hay tự ái. Nếu sống trong những gia
đình khó khăn, NKT có cảm giác mình bị bỏ rơi.

19


1.1.5.2. Nhu cầu của người khuyết tật và những khó khăn trong đáp ứng
nhu cầu của người khuyết tật
Nhu cầu của NKT là những đòi hỏi cần đáp ứng để tồn tại và phát triển.
NKT cũng có những nhu cầu cơ bản như mọi người trong xã hội, và nhu cầu
là nguồn gốc thúc đẩy NKT hoạt động vươn tới những mục tiêu cho sự phát
triển của bản thân.
Theo quan điểm của nhà tâm lý học A. Maslow, con người có 5 loại nhu
cầu cơ bản được sắp xếp theo bậc thang từ thấp tới cao.
Trong cuộc sống, trước mắt con người luôn mong muốn thỏa mãn những
nhu cầu bậc thấp, sau đó mới vươn tới những nhu cầu bậc cao. Các nhu cầu
bậc càng cao bao nhiêu càng xuất hiện muộn bấy nhiêu trong sự phát triển
con người. Nhu cầu càng cao bao nhiêu thì nó càng ít quan trọng bấy nhiêu
đối với cuộc sống đơn thuần, nó dễ bị hoãn lại, nó thực sự chưa bức bách so
với sự sống còn, thậm chí nó có thể bị lãng quên.
NKT có tất cả các nhu cầu như người bình thường nhưng việc đáp ứng
các nhu cầu đó thường gặp khó khăn nhất định, vì họ bị khiếm khuyết về trí
tuệ, vận động. Ví dụ: Người bình thường khi đói có thể tự tìm thức ăn để đáp
ứng, khi khát tự tìm nước uống. Còn NKT, đặc biệt NKT nặng, khi đói, muốn
ăn họ phải trông chờ vào sự trợ giúp của người khác. Tuy nhiên họ có thể
phát tín hiệu, như nhìn vào bát, nhìn vào cốc nước, mấp máy môi, phát ra
tiếng kêu… Chỉ những người chăm sóc thường xuyên, có kinh nghiệm quan
sát mới dễ dàng nhận biết thông tin đó để đáp ứng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status