Hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ THANH HẰNG

HỖ TRỢ DẠY NGHỀ ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ - DẠY NGHỀ
VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI TÀN TẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI - 2016


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ THANH HẰNG

HỖ TRỢ DẠY NGHỀ ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ - DẠY NGHỀ
VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI TÀN TẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ DẠY NGHỀ ĐỐI
VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT ................................................................................... 9
1.1. Người khuyết tật, dạy nghề đối với người khuyết tật: Khái niệm, đặc điểm và
nhu cầu ........................................................................................................................ 9
1.2. Khái niệm, nhu cầu và nguyên tắc hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật ... 21
1.3. Nội dung hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật .......................................... 23
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật . 31
1.5. Chính sách pháp luật về hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật ................... 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỖ TRỢ DẠY NGHỀ ĐỐI VỚI NGƯỜI
KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ - DẠY NGHỀ VÀ TẠO VIỆC
LÀM CHO NGƯỜI TÀN TẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ........................ 38
2.1. Giới thiệu Trung tâm Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật
thành phố Hồ Chí Minh............................................................................................. 38
2.2. Thực trạng người khuyết tật tại Trung tâm Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm
cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh ................................................................ 42
2.3. Thực trạng hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật tại Trung tâm Bảo trợ Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh ..................... 45
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ HỖ TRỢ DẠY NGHỀ ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI
TRUNG TÂM BẢO TRỢ - DẠY NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI
TÀN TẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH............................................................ 67
3.1. Định hướng và mục tiêu hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật ................... 67
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật tại Trung
tâm Bảo trợ-Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh . 68
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 81
PHỤ LỤC



TT

:

Trung tâm


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Biểu 2.1: Kết quả khảo sát đánh giá GV và nhân viên trung tâm
Biểu 2.2: Kết quả khảo sát những khó khăn của học viên
Biểu 2.3: Kết quả đào tạo nghề từ năm 2011-2015
Biểu 2.4: Kết quả đánh giá của học viên về bản thân sau thời gian học nghề
Biểu 2.5: Kết quả đánh giá điều kiện phục vụ HV ở nội trú


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Người khuyết tật là vấn đề xã hội, tồn tại như một tất yếu đối với mọi chế độ
xã hội và mọi quốc gia trên thế giới. NKT luôn là vấn đề đáng được quan tâm của
xã hội đặc biệt khi Việt Nam đang trên đường hội nhập với nền kinh tế thế giới.
Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2009 do Tổng cục Thống kê tiến hành thì
số NKT trên phạm vi cả nước là 6,7 triệu người, chiếm khoảng 8% tổng dân số,
trong đó khoảng 60% NKT trong độ tuổi lao động; 3,6 triệu là nữ và hơn 5 triệu
người sống ở nông thôn; khoảng 1,2 triệu là trẻ em.
Do bị khiếm khuyết nên NKT gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, sinh
hoạt, bị hạn chế về khả năng học tập, lao động và hòa nhập với cộng đồng, phần lớn
NKT đều không có thu nhập, việc làm và chủ yếu sống bằng trợ cấp của xã hội và
gia đình vì vậy các nước đều có chính sách trợ giúp đối với NKT. Việc đảm bảo sự
bình đẳng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ về kinh tế, chính trị, văn hoá,

hiểu được nhu cầu, đặc điểm, khả năng của NKT.
Xuất phát từ những điều trình bày trên đây, tôi đã chọn đề tài:“Hỗ trợ dạy
nghề đối với người khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo
việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn tốt nghiệp thạc
sỹ ngành công tác xã hội.
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu của đề tài
Người khuyết tật và các vấn đề liên quan đến dạy nghề đối với NKT đã được
nghiên cứu của khá nhiều tác giả trong và ngoài nước, có thể điểm qua một vài
nghiên cứu sau đây:
* Ở Việt Nam, Giáo trình Công tác xã hội với người khuyết tật, do PGS.TS
Nguyễn Thị Kim Hoa chủ biên, nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2014.
Tác giả đã khái quát các vấn đề cơ bản về NKT, luật pháp, chính sách và các công
cụ hỗ trợ NKT. Bên cạnh đó, tác giả đề cập đến những kỹ năng, nguyên tắc cần
thiết đối với NV CTXH khi làm việc với NKT. Về thực hành, tác giả trình bày các
phương pháp làm việc cá nhân, làm việc nhóm, làm việc với gia đình và các nguồn
lực trợ giúp NKT.

2


Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 2011), Báo cáo khảo sát về Đào tạo nghề
và Tạo việc làm cho người khuyết tật tại Việt Nam. Báo cáo này cung cấp một cách
nhìn tổng thể về các tổ chức của NKT, các tổ chức đại diện cho NKT và các dịch vụ
đào tạo nghề, việc làm và phát triển doanh nghiệp cho NKT, đặc biệt tập trung vào
các tổ chức của phụ nữ khuyết tật và các dịch vụ dành riêng cho phụ nữ khuyết tật.
Kết quả phân tích của báo cáo khảo sát này cho thấy tại Việt Nam NKT rất ít được
đào tạo nghề, hướng dẫn về việc làm cũng như về phát triển doanh nghiệp. Chính
phủ, nhiều tổ chức phi chính phủ và chính NKT đều nhận thấy NKT cần có các dịch
vụ đào tạo riêng (ít nhất theo học các lớp đào tạo riêng cho NKT), các dịch vụ bố trí
việc làm riêng và các kế hoạch và hoạt động phát triển kinh doanh riêng cho NKT.

tố NKT ảnh hưởng tới đời sống của mình, thiết kế nơi làm việc không phù hợp, sự
kỳ thị của cộng đồng, sự tiếp cận các phương tiện đi lại gây khó khăn cho NKT.
Bên cạnh những công trình mang tính chất quy mô về NKT và các vấn đề có
liên quan thì có rất nhiều bài viết phản ánh về những khó khăn thuận lợi của NKT
trên đường hòa nhập cộng đồng; về cuộc sống, sinh hoạt vui chơi, tinh thần vượt khó
vươn lên trong học tập, đạt những thành tựu cao trong công việc khiến nhiều người
phải học hỏi, là tấm gương của nhiều NKT khác noi theo… Tuy nhiên, những bài
viết chỉ dừng lại ở mức độ phản ánh và cung cấp những số liệu cụ thể chứ chưa là
một công trình nghiên cứu, cũng như chưa bàn sâu đến vấn đề hỗ trợ dạy nghề đối
với NKT. Tuy rằng, các tác phẩm và bài viết đã nói về các giải pháp tối ưu cho NKT
nói chung, nhưng cũng chưa có giải pháp cụ thể nào về hỗ trợ dạy nghề đối với NKT.
Mặc dù các công trình nghiên cứu, bài viết trên chưa đề cập trực tiếp đến vấn
đề hỗ trợ dạy nghề đối với NKT, song đó là nguồn tài liệu quý báu để bản thân
nghiên cứu, kế thừa, thiết thực góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận của đề tài, nhất là
việc làm rõ các khái niệm, phạm trù cơ bản nhất.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về hỗ trợ dạy nghề đối với
NKT (thông qua đánh giá thực trạng hỗ trợ dạy nghề đối với NKT tại Trung tâm
Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh), từ
đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ dạy nghề đối với NKT trong thời gian
tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ cơ bản sau:

5


- Nghiên cứu vấn đề lý luận và chính sách pháp luật về hỗ trợ dạy nghề đối
với NKT.


5.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng
Bảng câu hỏi là công cụ nghiên cứu chính trong việc thu thập các thông số,
chỉ báo, mức độ, tần suất các vấn đề nghiên cứu của đề tài. Phương pháp phỏng vấn
bằng bảng câu hỏi là phương pháp phỏng vấn, viết, được thực hiện cùng một lúc với
nhiều người theo một bảng hỏi in sẵn. Người được hỏi trả lời ý kiến của mình bằng
cách đánh dấu vào các ô tương ứng theo một quy ước nào đó. Qua phương pháp
phỏng vấn bằng bảng hỏi sẽ thu thập được nhiều thông tin theo chủ ý của người
nghiên cứu, thông tin tập trung, có tính định lượng, dễ nhập liệu và xử lý.
Thực hiện bảng hỏi đối với 50 HV khuyết tật nhẹ và có nhận thức tốt, chọn
mẫu ở các lớp nghề đào tạo, 15 phụ huynh (không chọn những phụ huynh có con
em đã được phỏng vấn bảng hỏi) và 45 HV ở nội trú nhằm thu thập thông tin cần
thiết để đánh giá thực trạng hỗ trợ dạy nghề đối với NKT tại TT.
5.3. Phương pháp nghiên cứu định tính
* Phương pháp phỏng vấn sâu
Song song với việc sử dụng phương pháp thu thập thông tin bằng bảng câu
hỏi định lượng, khi nghiên cứu đề tài chúng tôi cũng tiến hành thu thập thông tin
bằng phương pháp phỏng vấn sâu. Phương pháp phỏng vấn sâu là phương pháp thu
thập thông tin xã hội qua đối thoại theo một chủ đề nào đó giữa nhà nghiên cứu với
khách thể nghiên cứu nhằm đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu. Những thông tin
thu được qua phương pháp phỏng vấn sâu sẽ mang tính định hướng cho việc nghiên
cứu đề tài.
Thực hiện phỏng vấn sâu với 05 cán bộ quản lý và 10 GV tại Trung tâm Bảo
trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh. Việc sử
dụng phỏng vấn sâu trong nghiên cứu đề tài nhằm khảo sát sâu hơn những vấn đề
mà phương pháp bảng câu hỏi không thể hướng tới được. Mặt khác, việc phỏng vấn
sâu giúp cho những thông tin mang lại nhiều chiều, cán bộ quản lý và giáo viên sẽ
cởi mở cung cấp thông tin hơn là trả lời những câu hỏi theo khuôn mẫu có sẵn trong
bảng câu hỏi.


nghề đối với người khuyết tật tại Trung tâm Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm
cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh.

8


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ DẠY NGHỀ
ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1.1. Người khuyết tật, dạy nghề đối với người khuyết tật: Khái niệm, đặc
điểm và nhu cầu
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu người khuyết tật
1.1.1.1. Khái niệm người khuyết tật
Theo TS. Margaret Chan – Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (World
Health Orgazination) “Hầu hết mỗi người chúng ta có thể mất khả năng hoạt động
bình thường tạm thời hoặc vĩnh viễn tại một thời điểm nào đó”; như vậy giữa người
bình thường và NKT hầu như không có ranh giới rõ rệt và hết sức mong manh.
Trên thế giới
Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 1999 có ba mức độ suy giảm là:
khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap). Khiếm
khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan
đến tâm lý hoặc/và sinh lý. Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động,
là hậu quả của sự khiếm khuyết. Tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi
của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình
trạng khuyết tật của họ.
Theo Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật do Quốc hội
Anh ban hành (Disability Discrimination Act – DDA), khi xét về mặt thời gian tác
động thì khiếm khuyết kéo dài hoặc sẽ có thể kéo dài mà ít hơn 12 tháng bình
thường không được coi là khuyết tật, trừ phi là bị tái đi tái lại, một số người có
khiếm khuyết kéo dài hơn một năm thì vẫn ở trong diện của DDA, cả khi họ sẽ

khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”.
Từ khái niệm trên được tiếp cận bằng các phương pháp định nghĩa khác nhau
song chúng đều chỉ ra những đặc điểm chung của NKT dưới các khía cạnh:
Thứ nhất, đối tượng: So với người bình thường có đầy đủ các bộ phận trên
cơ thể theo cấu tạo sinh học, khả năng nhận thức và điều chỉnh hành vi trong các
quan hệ xã hội thì NKT là những người bị khiếm khuyết (thiếu, không có hoặc bị
mất đi) bộ phận nào đó trên cơ thể, bị suy giảm sức khỏe khó có thể phục hồi, bị

10


hạn chế hoặc không có khả năng nhận thức, tiếp thu các tư tưởng văn hóa và giáo
dục như các chủ thể thông thường khác.
Thứ hai, khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ: Nếu cùng có mặt bằng pháp
lý như nhau, nhìn chung khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ của NKT sẽ hạn chế
hơn đối với những người bình thường. Đây là một trong những hệ quả kéo theo của
đặc điểm khiếm khuyết. Do bị khiếm khuyết về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác
quan mà những NKT sẽ khó khăn khi thực hiện các công việc lao động, học tập,
sinh hoạt, vui chơi giải trí, tham gia các quan hệ xã hội, hoạt động xã hội khác kém
hiệu quả hơn các người bình thường.
Thứ ba, đặc điểm khuyết tật: Cả Công ước về Quyền của NKT năm 2007 và
Luật Người khuyết tật năm 2010 đều chỉ ra những dạng khuyết tật cơ bản. Mặc dù
ngôn ngữ biểu đạt là khác nhau, song theo tinh thần chung, khuyết tật bao gồm:
(1) Khuyết tật vận động;
(2) Khuyết tật về nghe, nói;
(3) Khuyết tật nhìn;
(4) Khuyết tật thần kinh, tâm thần;
(5) Khuyết tật trí tuệ;
(6) Khuyết tật khác.
1.1.1.2. Đặc điểm của người khuyết tật

thất nghiệp của họ.
Mặt khác, vì tình trạng do khuyết tật gây ra, NKT phải gánh chịu rất nhiều
thiệt thòi trong mọi mặt cuộc sống: Khuyết tật là nguyên nhân chính gây ra nhiều
khó khăn cho NKT trong việc thực hiện các công việc sinh hoạt hàng ngày, trong
giáo dục, việc làm, tiếp cận các dịch vụ y tế, kết hôn, sinh con và tham gia các hoạt
động xã hội. Để khắc phục những khó khăn này, NKT chủ yếu dựa vào gia đình,
nguồn giúp đỡ chính đối với họ. Những khó khăn càng trở nên trầm trọng hơn do
thái độ tiêu cực của cộng đồng đối với NKT.
Quan niệm của xã hội về NKT còn tiêu cực, dẫn đến sự kì thị và phân biệt
đối xử: Điều này diễn ra dưới nhiều hình thức, ở nhiều bối cảnh khác nhau (gia
đình, cộng đồng, trường học, bệnh viện, nơi làm việc và các tổ chức ở địa phương).
Trong cộng đồng, nhiều dân cư coi NKT là “đáng thương”, không có cuộc sống
“bình thường”, là “gánh nặng” của xã hội… Về nhận thức pháp luật, nhiều người

12


không hề biết đến quy định của pháp luật về NKT. Từ đó dẫn đến sự kỳ thị, phân
biệt đối xử và nó diễn ra ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực: Gia đình, nơi làm việc, giáo
dục, hôn nhân gia đình, tham gia hoạt động xã hội, thậm chí sự kì thị từ chính NKT
(hầu hết NKT cho rằng mình kém cỏi hơn, mặc cảm, thấy khó hòa nhập cộng đồng).
Hoạt động hỗ trợ cho NKT còn rất hạn chế, thực tế cho thấy có sự khác biệt
lớn giữa nhu cầu của NKT và những giúp đỡ mà họ nhận được. Sự hỗ trợ của nhà
nước và cộng đồng mang tính từ thiện nhiều hơn là phát triển con người. Hầu hết
NKT được hỗ trợ như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, lương thực… nhưng lại ít
được trợ giúp trong việc làm, dạy nghề và tham gia hoạt động xã hội.
- Đặc điểm của NKT dưới góc độ dạng tật và mức độ khuyết tật.
Khuyết tật được phân loại dựa theo các quan điểm khác nhau của các nhà
nghiên cứu nhưng nói chung thường dựa trên tiêu chí của sự khiếm khuyết bộ phận
cơ thể hoặc suy giảm chức năng. Ở Việt Nam, việc phân loại NKT dựa trên quy

sớm; cung cấp phương tiện trợ giúp (máy trợ thính); giao tiếp tổng hợp.
Khuyết tật nhìn (khuyết tật thị giác, khiếm thị): Là những người có tật về mắt
như: hỏng mắt, không đủ sức nhận biết thế giới hữu hình bằng mắt hoặc nhìn thấy
không rõ ràng. Tổ chức Y tế Thế giới (1992) còn đưa ra các khái niệm để phân biệt
mức độ khuyết tật nhìn khác nhau: Khiếm thị, nhìn kém, mù (hoàn toàn). NKT nhìn
có trí tuệ phát triển bình thường, có hai cơ quan phân tích thường rất phát triển:
thính giác và xúc giác, nếu được huấn luyện sớm và khoa học hoàn toàn có thể thay
thế cơ quan thị giác bị phá hủy. Ngôn ngữ, tư duy, hành vi, cách ứng xử của những
người này cũng giống người bình thường. Tuy nhiên, cũng có những tồn tại nhất
định như ngôn ngữ thiếu hình ảnh, không thể viết và đọc bằng chữ phẳng. Ít di
chuyển nên thể lực giảm sút, cơ bắp thiếu linh hoạt nên dễ tự ty và thiếu niềm tin ở
bản thân. Môi trường cần thiết với họ là tránh tiếng ồn, đảm bảo đủ ánh sáng, dùng
những màu tương phản, hợp lý trong sinh hoạt và các hoạt động khác, cung cấp
thiết bị phóng đại hình ảnh, công cụ di chuyển hỗ trợ thông minh, lối đi thuận tiện
và dễ nhận biết.
Khuyết tật trí tuệ: Xét về mức độ, đây là nhóm khuyết tật thường chịu nhiều
sự thiệt thòi và khó khăn trong cuộc sống. Khuyết tật về trí tuệ được xác định khi: i)
Chức năng trí tuệ dưới mức trung bình (chỉ số thông minh đạt gần 70 hoặc thấp hơn
70 trên một lần thực hiện trắc nghiệm cá nhân; ii) Bị thiếu hụt hoặc khiếm khuyết ít

14


nhất là hai trong số những hành vi thích ứng sau: giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia
đình, kỹ năng xã hội/cá nhân, sử dụng các tiện ích trong cộng đồng, tự định hướng,
kỹ năng học đường, làm việc, giải trí, sức khỏe và an toàn; iii) Tật xuất hiện trước
18 tuổi. NKT về trí tuệ có nhiều hạn chế làm ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường
của họ và người thân cả về trí tuệ (phần lớn chỉ dùng ở mức độ tư duy trực quan cụ
thể, mức độ, nhịp độ tư duy của các thành phần không giống nhau); về trí nhớ (gặp
khó khăn về trí nhớ cả ngắn hạn và dài hạn, khó khăn trong việc nhớ những gì mang

+ Nhu cầu về lao động, thăng tiến, phát triển
NKT thường là đối tượng khó khăn nhất trong bất kỳ xã hội nào và họ có
nhu cầu được sống và làm việc như những người bình thường nhưng do vì họ gặp
phải khuyết tật nên trong sinh hoạt hàng ngày, hoặc trong việc tìm kiếm sinh nhai
họ gặp không ít khó khăn; nhưng họ vẫn là con người vì vậy những nhu cầu của
một con người họ đều có (cụ thể 5 loại nhu cầu cơ bản theo A.Maslow) nhưng việc
đáp ứng các nhu cầu đó thường gặp khó khăn nhất định nên khát vọng của họ lại
càng rất cao.
Thực tế cho thấy, hiện nay một số nhu cầu bậc cao của NKT ít có cơ hội để
hiện thức hóa, NKT cần sự trợ giúp từ phía gia đình, cộng đồng, xã hội để họ có
thêm cơ hội đáp ứng các nhu cầu, giúp họ có cuộc sống bình thường, được phát
triển và hòa nhập. Một vài điểm cần chú ý:
- Sự thiếu hụt về thể chất dẫn tới khả năng hoạt động chức năng của NKT có
thể bị giảm sút, họ gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong sinh hoạt, lao động, học
tập…Vì vậy, mà NKT cần được hỗ trợ, ưu tiên đặc biệt về: chăm sóc sức khỏe,
phục hồi chức năng, làm tay chân giả, cung cấp xe lăn, máy trợ thính, thiết bị tiện
nghi, nhà ở,… cần có được các dịch vụ giáo dục đặc biệt dành cho NKT;
- Do bị bệnh tật, khó khăn trong việc đi lại hoặc giao tiếp hạn chế nên hoạt
động lao động, giao lưu khó khăn hơn so với người bình thường nếu không có hỗ
trợ xã hội thì phạm vi quan hệ xã hội ở NKT sẽ bị thu hẹp. Gia đình, cộng đồng và
xã hội cần tạo điều kiện cho NKT hòa nhập vào cuộc sống xã hội của những người
bình thường và môi trường cộng đồng, gia đình cũng cần được thích ứng với hoàn
cảnh của NKT;
- NKT cần được học văn hóa, học nghề phù hợp với dạng tật và có nhu cầu
làm việc để kiếm tiền nuôi sống bản thân và phụ giúp gia đình. Các công việc thủ

16


công đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên nhẫn có thể phù hợp với họ, việc làm vừa đem lại niềm



Theo Thuật ngữ Đào tạo nghề của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), dạy
nghề/đào tạo nghề là những hoạt động chủ yếu nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và
thái độ cần cho việc làm trong một nghề, nhóm nghề có liên quan hoặc cho việc thực
hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực nào đó của hoạt động kinh tế. Việc đào tạo ở đây bao
gồm: đào tạo ban đầu, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, cập nhật và đào tạo liên quan
đến công việc chuyên môn hóa.
Theo Điều 5, Chương I, Luật Dạy nghề: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học
nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học
nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học”.
Như vậy, dạy nghề là một quá trình tác động có mục đích, có ý thức của con
người nhằm phát triển tay nghề (dạy nghề) và đạo đức, văn hóa nghề nghiệp (nhân
cách) của họ (thể hiện trên 2 mặt: kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ nghề nghiệp),
phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động và phát triển nguồn lực quốc gia.
Theo Điều 68, Luật Dạy nghề: “Đào tạo nghề cho NKT nhằm giúp họ có năng
lực thực hành nghề phù hợp với khả năng lao động của mình để tự tạo việc làm hoặc
tìm được việc làm ổn định đời sống, hòa nhập cộng đồng”. Luật Dạy nghề chủ yếu đề
cập đến mục đích của hoạt động đào tạo nghề cho NKT, từ đây có thể thấy một số dấu
hiệu sau:
- Hoạt động đào tạo nghề cho NKT diễn ra trong mối quan hệ giữa hoạt động
dạy và hoạt động học;
- Mục đích của hoạt động đào tạo nghề cho NKT là trang bị cho NKT những
điều kiện để họ thực hiện một nghề theo sự phân công lao động xã hội. Đó là hệ thống
các kiến thức nghề nghiệp (gồm kiến thức chung và kiến thức chuyên biệt); các kỹ
năng, kỹ xảo hoạt động nghề nghiệp và thái độ đối với nghề nghiệp (say mê, yêu nghề,
tâm huyết với công việc,…);
- Việc đào tạo nghề cho NKT phải phù hợp với đặc điểm của đối tượng đào
tạo là NKT.
Như vậy, có thể khái quát đầy đủ: Dạy nghề đối với NKT là hoạt động dạy và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status