Giải pháp nâng cao chất lượng dạy nghề cho người khuyết tật tại trung tâm bảo trợ dạy nghề và tạo việc làm cho người tàn tật TPHCM - Pdf 24

PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Việt Nam hiện có trên 5,3 triệu người khuyết tật (NKT), chiếm 6,4% dân số. NKT
ở độ tuổi lao động từ 16 - 55 (đối với nữ) và từ 16 - 60 (đối với nam), chiếm khoảng
70%. Đa số NKT sống cùng với gia đình và có mức sống nghèo hoặc trung bình. Chính
vì vậy sự quan tâm tạo điều kiện cho người khuyết tật hòa nhập với xã hội là một trong
những chính sách mà nhà nước và chính phủ đang quan tâm, trong đó công tác đào tạo
nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật cũng được Nhà nước đặc biệt chú trọng.
Pháp lệnh người tàn tật (năm 1998) được ban hành dẫn đến số lượng người khuyết tật
được học nghề ngày càng tăng, giai đoạn 1999-2004 có gần 19.000 người, giai đoạn
2005-2008 có khoảng 24.000 người. Hiện tại trong cả nước có 260 cơ sở dạy nghề,
trong đó 55 cơ sở chuyên biệt và 205 cơ sở có tham gia dạy nghề cho người khuyết tật
1
. Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào tạo cũng đã dành hàng trăm tỷ
đồng kinh phí cho việc đầu tư xây dựng cơ sở, hỗ trợ dạy nghề cho người khuyết tật
mỗi năm.
Trên cả nước có nhiều tổ chức hoạt động hỗ trợ cho người khuyết tật trong đó có
Hiệp hội Sản xuất, kinh doanh của người tàn tật (VABED) được thành lập tháng
9/2003. Hiệp hội đã đề nghị và được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số
51/2008/QĐ-TTg, ngày 24/4/2008 dành một số ưu tiên về thuế và vay vốn cho các cơ
sở sản xuất, kinh doanh của NKT nhằm phát triển sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, tạo
thêm nhiều việc làm dành cho NKT. Hiện tại Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
đang cùng một số Bộ, ngành khẩn trương hoàn thiện Dự luật Người khuyết tật, đã xin ý
kiến của ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự kiến sẽ trình ra Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa
1 Báo cáo Tổng kết tình hình thi hành pháp lệnh về người tàn tật (Hà Nội, 2009).
1
XII diễn ra vào trung tuần tháng 10 tới nhằm bảo vệ quyền lợi, lợi ích của người
khuyết tật.
Nhìn lại bức tranh học nghề và tạo việc làm của NKT ở Việt Nam trong những năm
qua, chúng ta thừa nhận là đã có một bước tiến bộ hết sức tích cực. Nhận thức của xã
hội về NKT đã đổi mới, không còn coi NKT là những người ít có khả năng, là gánh

cho người khuyết tật.
3. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI:
Để nhiệm vụ nghiên cứu được tập trung và chuyên sâu, phù hợp với thời gian nghiên
cứu, đề tài chỉ giới hạn trong phạm vi:
- Khảo sát thực trạng chất lượng dạy nghề May tại Trung tâm.
- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dạy nghề May tại Trung tâm.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy nghề May tại trung tâm vì vậy người
nghiên cứu tập trung vào 3 yếu tố chủ yếu đó là:
- Giáo viên và cán bộ quản lý.
- Chương trình, giáo trình.
- Cơ sở vật chất, thiết bị đồ dùng dạy học của lớp May và trung tâm.
Phân loại các dạng khuyết tật rất phong phú và đa dạng, trong khả năng và thời gian
hạn chế, người nghiên cứu chỉ tập trung tìm hiểu:
- Khuyết tật vận động (yếu chân trái, yếu tay trái, yếu hai chân, cụt một chân, gù,
vẹo cột sống)
- Khiếm thính
Thông qua ý kiến của các chuyên gia là cơ sở để đánh giá tính thực tiễn của các giải
pháp được đề xuất trong đề tài.
3
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC :
Nếu thực hiện các giải pháp do tác giả đề xuất thì sẽ nâng cao chất lượng dạy nghề
May tại trung Bảo trợ - Dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật TP.HCM.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn chất lượng dạy nghề.
- Khảo sát và nhận xét thực trạng chất lượng dạy nghề May tại trung tâm Bảo trợ - Dạy
nghề và tạo việc làm cho người tàn tật TP.HCM
- Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dạy nghề May tại trung tâm Bảo
trợ - Dạy nghề và tạo việc làm cho người tàn tật TP.HCM
- Kiểm nghiệm – đánh giá tính khả thi của đề tài thông qua phương pháp chuyên gia.
6. ĐỐI TƯỢNG – KHÁCH THỂ:

ngưỡng, nhiều người trong chúng ta muốn có, và chỉ có số ít người trong chúng ta có
thể có”.
3
2 Trần Khánh Đức, Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, NXB Giáo Dục Việt Nam, 2009,
Tr.427
3 Improving Higher Education, Ronald Barnett, The Society for Research into Higher education and Open
University Press.
5
Với quan niệm chất lượng tương đối thì chất lượng tương đối có hai khía cạnh:
khía cạnh thứ nhất là đạt được mục tiêu (phù hợp với tiêu chuẩn) do người sản xuất đề
ra gọi là “chất lượng bên trong”. Khía cạnh thứ hai chất lượng được xem là sự thỏa
mãn tốt nhất những đòi hỏi của người dùng gọi là “chất lượng bên ngoài”.
Mỗi cơ sở đào tạo luôn có một nhiệm vụ được ủy thác, nhiệm vụ này thường do
các chủ sở hữu quy định, điều này chi phối mọi hoạt động của nhà trường. Từ nhiệm
vụ được ủy thác này, nhà trường xác định các mục tiêu đào tạo của mình sao cho phù
hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội – đạt chất lượng bên ngoài; và các hoạt động của
nhà trường sẽ được hướng vào nhằm đạt mục tiêu đó – đạt “chất lượng bên trong”
NHU CẦU XÃ HỘI
MỤC TIÊU ĐÀO TẠO
KẾT QUẢ ĐÀO TẠO
Kết quả đào tạo phù hợp với nhu cầu sử dụng  Đạt chất lượng ngoài
Kết quả đào tạo khớp với mục tiêu đào tạo  Đạt chất lượng trong
Hình 1.1: Quan niệm về chất lượng
4
1.1.2 Khái niệm về dạy nghề:
4 Nguyễn Việt Hùng, Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, Bài đăng trong tập Kỷ yếu Hội thảo kiểm định chất
lượng - TCDN
6
Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhắm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề
nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm

chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ có liên quan để chữa trị cho người khuyết tật về mặt
y học sẽ giúp người khuyết tật có một cuộc sống bình thường. Mô hình này nhấn mạnh
đến bản chất chính của người khuyết tật, chú trọng rất ít hay không để ý gì đến môi
trường xã hội hay môi trường vật thể xung quanh người đó.
Mô hình xã hội về khuyết tật: theo mô hình này những rào cản và định kiến của xã
hội dù là có chủ ý hay vô ý là những nguyên nhân chính xác định ai là người khuyết tật
và ai là người không khuyết tật. Mô hình này cho rằng một số người có những khác
biệt về mặt tâm lý, trí tuệ hoặc thể chất (những khác biệt mà đôi khi có thể coi là những
khiếm khuyết) so với chuẩn mực chung, nhưng những khác biệt này sẽ không dẫn đến
khó khăn nghiêm trọng trong cuộc sống xã hội nếu có sự giúp đỡ và có suy nghĩ ứng
xử tích cực như xóa bỏ rào cản xã hội và đảm bảo sự tiếp cận với môi trường vật thể sẽ
có ý nghĩa tích cực trong việc giảm bớt hoặc vượt qua những hạn chế giúp người
khuyết tật hoạt động và tham gia vào mọi mặt của cuộc sống. Mô hình khuyết tật về xã
hội nhấn mạnh đến sự bình đẳng và chú trọng đến những thay đổi cần thiết của xã hội.
Cả hai mô hình trên có những mặt mạnh và yếu, tương bổ cho nhau. Mô hình
khuyết tật cá nhân phát huy tác dụng tốt trong lĩnh vực y tế, phục hồi chức năng và
đảm bảo xã hội. Trong khi đó mô hình xã hội về khuyết tật có thể là công cụ quan
trọng trong việc giải quyết các vấn đề người khuyết tật bị tách biệt khỏi cuộc sống
chung, vấn đề về những bất lợi và vấn đề phân biệt đối xử. Mô hình xã hội ghi nhận
8
rằng câu trả lời cho câu hỏi liệu một ai đó có bị xếp vào danh sách người khuyết tật hay
không có liên quan chặt chẽ đến các yếu tố như văn hóa, thời gian và môi trường.
1.1.3.2 Phân loại khuyết tật:
Để phân loại khuyết tật, Chính phủ Việt Nam đã sử dụng phương pháp phân loại
của tổ chức Y tế thế giới (WHO), trong đó khuyết tật được chia thành 7 loại chính như
sau:
- Khuyết tật thể chất/ vận động (chẳng hạn: cụt tay chân, tê liệt, tật bẩm sinh
khác)
- Khuyết tật nghe/ nói (giao tiếp).
- Khuyết tật nhìn.

1.2.1 Luật người khuyết tật:
Điều 32. Dạy nghề đối với người khuyết tật
1. Nhà nước bảo đảm để người khuyết tật được tư vấn học nghề miễn phí, lựa
chọn và học nghề theo khả năng, năng lực bình đẳng như những người khác.
2. Cơ sở dạy nghề có trách nhiệm cấp văn bằng, chứng chỉ, công nhận nghề
đào tạo khi người khuyết tật học hết chương trình đào tạo và đủ điều kiện theo
quy định của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề.
10
3. Cơ sở dạy nghề tổ chức dạy nghề cho người khuyết tật phải bảo đảm điều
kiện dạy nghề cho người khuyết tật và được hưởng chính sách ưu đãi theo quy
định của pháp luật.
4. Người khuyết tật học nghề, giáo viên dạy nghề cho người khuyết tật được
hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.
Điều 33. Việc làm đối với người khuyết tật
1. Nhà nước tạo điều kiện để người khuyết tật phục hồi chức năng lao động,
được tư vấn việc làm miễn phí, có việc làm và làm việc phù hợp với sức khỏe
và đặc điểm của người khuyết tật.
2. Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được từ chối tuyển dụng
người khuyết tật có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng vào làm việc hoặc đặt ra tiêu
chuẩn tuyển dụng trái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội làm việc
của người khuyết tật.
3. Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là người khuyết
tật tùy theo điều kiện cụ thể bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và
môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật.
4. Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là người khuyết
tật phải thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật về lao động đối với lao động
là người khuyết tật.
5. Tổ chức giới thiệu việc làm có trách nhiệm tư vấn học nghề, tư vấn và giới
thiệu việc làm cho người khuyết tật.
6. Người khuyết tật tự tạo việc làm hoặc hộ gia đình tạo việc làm cho người

2. Được tư vấn học nghề, tư vấn việc làm miễn phí.
3. Được giảm hoặc miễn học phí.
12
4. Người tàn tật, khuyết tật học nghề thuộc hộ nghèo được miễn học phí, được
cấp học bổng và hỗ trợ ăn, ở, đi lại theo quy định của pháp luật.
Điều 72. Chính sách đối với giáo viên dạy nghề cho người tàn tật, khuyết tật
1. Nhà nước đầu tư đào tạo và bồi dưỡng về chuyên môn, kỹ năng, phương pháp
dạy nghề đối với giáo viên dạy nghề cho người tàn tật, khuyết tật.
2. Giáo viên dạy nghề cho người tàn tật, khuyết tật được hưởng chế độ đối với
giáo viên dạy nghề quy định tại Điều 62 của Luật này và được hưởng phụ cấp
đặc thù theo quy định của Chính phủ.
1.2.3 Thông tư quy định chuẩn giáo viên, giảng viên dạy nghề : (Phụ lục 16)
Điều 5. Tiêu chí 2: Năng lực chuyên môn
1. Tiêu chuẩn 1: Kiến thức chuyên môn đối với giáo viên sơ cấp nghề
- Có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp trở lên; có trình
độ A về tin học trở lên;
- Nắm vững kiến thức của môn học, mô-đun được phân công giảng dạy;
- Có kiến thức về môn học, mô-đun liên quan;
- Có hiểu biết về thực tiễn sản xuất của nghề.
2. Tiêu chuẩn 2: Kỹ năng nghề đối với giáo viên sơ cấp nghề
- Có kỹ năng nghề tương đương trình độ trung cấp nghề hoặc bậc 3/7, bậc 2/6
hoặc là nghệ nhân cấp tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương trở lên;
- Thực hiện thành thạo các kỹ năng nghề quy định trong chương trình môn
học, mô-đun được phân công giảng dạy;
- Biết tổ chức lao động sản xuất, dịch vụ nghề được phân công giảng dạy;
- Nắm vững kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động của nghề
Điều 6. Tiêu chí 3: Năng lực sư phạm dạy nghề
13
Tiêu chuẩn 1: Trình độ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề, thời gian tham gia
giảng dạy

phương thức và phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt
nghiệp của cơ sở giáo dục và đào tạo”.
Tyler (1949) cho rằng: Chương trình đào tạo về cấu trúc phải có 4 phần cơ bản:
1. Mục tiêu đào tạo.
2. Nội dung đào tạo
3. Phương pháp hay quy trình đào tạo.
4. Cách đánh giá kết quả đào tạo.
Như vậy chương trình đào tạo không chỉ phản ánh nội dung đào tạo mà là một văn
bản hay bản thiết kế thể hiện tổng thể các thành phần của quá trình đào tạo, điều kiện,
cách thức, quy trình tổ chức, đánh giá các hoạt động đào tạo để đạt được mục tiêu đào
tạo.
 Phân loại chương trình đào tạo :
7
Chương trình môn học: là loại chương trình đào tạo mà cấu trúc, nội dung cơ bản
được xây dựng hay thiết kế chủ yếu từ các môn học theo lĩnh vực khoa học tự nhiên, xã
hội – nhân văn, khoa học công nghệ. Thông thường các chương trình môn học sử dụng
theo học chế năm học, giáo dục đại học là theo từng năm đào tạo. Chương trình môn
7 Trần Khánh Đức. Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, NXB Giáo Dục Việt Nam, Tr. 222
15
học có thể được thiết kế theo các học phần, đơn vị học trình hoặc theo hệ thống tín chỉ
với quá trình Mô-đun hóa các nội dung đào tạo.
 Ưu điểm:
- Bảo đảm tính logic của hệ thống kiến thức, kỹ năng của từng phần học hoặc môn học.
- Mục tiêu đào tạo toàn diện được thực hiện thông qua từng môn học, khối môn học và
mối liên hệ giữa chúng.
- Dễ xây dựng và điều chỉnh chương trình do đã có nhiều kinh nghiệm dạy – học và tài
liệu tham khảo.
 Khuyết điểm:
- Thời gian học kéo dài, nặng lý thuyết và theo đơn mục tiêu (môn học) không thuận
tiện cho người học và nhu cầu thực tế và nhân lực ngoài xã hội.

- Người học được coi là hoàn thành chương trình đào tạo khi chứng tỏ là đã thông thạo
tất cả các năng lực thực hiện quy định trong chương trình, không phụ thuộc vào thời
lượng học tập.
- Người học có thể học theo năng lực và nhịp độ riêng của từng cá nhân. Vì vậy người
học có thể nhập học và kết thúc quá trình học tập ở các thời điểm khác nhau.
- Bằng cấp, chứng chỉ của người học được thể hiện đầy đủ nội dung và kết quả học tập
theo chương trình tạo cơ sở để chuyển đổi, liên thông với những chương trình có liên
quan ở trình độ cao hơn.
17
- Quá trình đào tạo chú trọng hình thành năng lực thực hiện (các công việc, nhiệm vụ
chuyên môn của nghề) theo các chuẩn mực, tiêu chuẩn hành nghề đặt ra.
Xu hướng của chương trình đào tạo là: hướng tới người học, liên thông, linh hoạt và
mở, hình thành năng lực hành nghề cụ thể,. Tuy nhiên đào tạo theo mô hình này cũng
có một số hạn chế:
- Người học khó thích ứng nhanh với thay đổi của công việc trong lao động nghề
nghiệp do đào tạo hướng sâu vào một hoặc vài công việc cụ thể.
- Phải có điều kiện (trang thiết bị, vật liệu, tài liệu kỹ thuật) và môi trường gắn đào tạo
với việc làm trực tiếp.
- Tổ chức đào tạo phức tạp do chương trình đào tạo linh hoạt và tính cá nhân hóa cao
Nội dung CTĐT là tập hợp hệ thống các kiến thức về văn hóa – xã hội, khoa học
- công nghệ, các chuẩn mực thái độ - nhân cách, các kỹ năng lao động chung và
chuyên biệt cần thiết để hình thành những phẩm chất và năng lực nghề nghiệp phù hợp
với một loại hình lao động nghề nghiệp cụ thể.

Đây là yếu tố rất quan trọng có ảnh hưởng lớn đến CLĐT của một trường. Nội dung
CTĐT tốt phải đảm bảo được sự cân đối giữa lý thuyết và thực hành, các môn học có
thời lượng phân bố hợp lý và phải có sự hỗ tương lẫn nhau, kết quả cuối cùng phải
hình thành được kiến thức, kỹ năng và thái độ tốt cho người học.
Mỗi mô hình có những ưu điểm và lợi thế riêng nhưng qui trình của nó thường bắt
đầu từ việc đánh giá nhu cầu và xác định mục tiêu (từ tổng quát đến cụ thể), kế tiếp là

1.3.3. Cơ sở vật chất:
Phương tiện giảng dạy: là những đối tượng mang nội dung dạy học, được sử dụng
trưc tiếp vào quá trình dạy học để chuyển biến nội dung hướng đến mục tiêu dạy
học.
8
Dạy học là một quá trình truyền thông bao gồm sự lựa chọn, sắp xếp và phân phối
thông tin trong một môi trường sư phạm thích hợp; sự tương tác giữa người học và các
thông tin. Trong bất kì tình huống dạy học nào cũng có một thông điệp được truyền đi,
thông điệp đó thường là nội dung của chủ đề được dạy, cũng có thể là các câu hỏi về
nội dung cho người học, các phản hồi từ người dạy đến người học về nhận xét, đánh
giá các câu trả lời hay các thông tin khác.
Trong mối quan hệ giữa các thành phần tham gia quá trình dạy học, phương tiện
chở thông điệp từ giáo viên theo một phương pháp giảng dạy nào đó.
THẦY GIÁO
HỌC SINH
Phương
Tiện
Thông điệp
Phương pháp
8 TS. Nguyễn Văn Tuấn. Lý Luận dạy học, Trường ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật TPHCM, Tr. 37
20
Hình 1.3:Trong mối quan hệ giữa thông điệp và phương tiện,phương tiện chở thông
điệp đi (Phương tiện dạy học, Tô Xuân Giáp)
Phương tiện có thể đóng nhiều vai trò trong QTĐT. Các phương tiện dạy học thay
thế cho những sự vật, hiện tượng và các quá trình xảy ra trong thực tiễn mà giáo viên
và học sinh không thể tiếp cận trực tiếp được. Chúng giúp cho thầy giáo phát huy tất cả
các giác quan của học sinh trong quá trình truyền thụ kiến thức, do đó giúp cho học
sinh nhận biết được quan hệ giữa các hiện tượng và tái hiện được những khái niệm, qui
luật làm cơ sở cho việc đúc rút kinh nghiệm và áp dụng kiến thức đã học vào thực tế
sản xuất.

khuyết tật thì tâm lý người khuyết tật không khác gì người thường.
 Học thuyết “bù trừ” của V. A. Sinhiak – M.M. Nudenman (người Nga): khả
năng bù trừ là một quy luật tự nhiên của cơ thể người. Khi chức năng của một
cơ quan bị suy giảm hay bị mất hoàn toàn thì lập tức có sự gia tăng điều chỉnh
của các giác quan khác để hỗ trợ hoặc thay thế chức năng bị thiếu hụt hay bị
mất. Ví dụ như người khiếm thính họ bị khó khăn trong hình thành ngôn ngữ
nhưng bù lại người khiếm thính lại để ý những chi tiết về hình ảnh nhiều hơn
người bình thường, đây là cơ sở để tư vấn nghề nghiệp cho người khiếm thính.
22
1.5 MỘT SỐ MÔ HÌNH DẠY NGHỀ CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1.5.1 Chương trình dạy nghề phù hợp cho thanh thiếu niên khuyết tật (TTNKT)
của tổ chức World Concern tại Hải Dương, Quảng Nam, Đà Nẵng (1998 – 2005)
1.5.1.1 Mục tiêu:
Giúp người khuyết tật giải quyết các nhu cầu về học nghề, việc làm, và nhu cầu về
tâm lý xã hội.
1.5.1.2 Cấu trúc hoạt động dự án
Khảo sát ban đầu về TTNKT và các doanh nghiệp
Lựa chọn TTNKT và doanh nghiệp
Nhu cầu về kinh tế - xã hội của TTNKT được đáp ứng
Nâng cao nhận thức về người khuyết tật
Dạy nghề
Tạo việc làm và thu nhập
Xóa mù chữ
Dạy ngôn ngữ ước hiệu
Sinh hoạt nhóm định kỳ
Tập huấn các kỹ năng sống
Hoạt động xã hội
Hỗ trợ y tế (kết hợp với các tổ chức và nhà tài trợ khác)
23
1.5.1.3 Các bước thực hiện dạy nghề và tạo việc làm tại cộng đồng cho

- Các doanh nghiệp sẽ tạo việc làm cho học viên sau khóa học.
Kết luận chương 1: Chương này người nghiên cứu trình bày các cơ sở lý luận của đề
tài về các khái niệm: chất lượng, chất lượng đào tạo, dạy nghề cho người khuyết tật.
Phân loại khuyết tật, các văn bản mang tính chất định hướng trong dạy nghề cho người
khuyết tật, tâm lý người khuyết tật. Những yếu tố chính ảnh hưởng đến chất lượng dạy
nghề cho người khuyết tật. Một số mô hình dạy nghề cho người khuyết tật.
Chương 2:
CƠ SỞ THỰC TIỄN DẠY NGHỀ MAY TẠI TRUNG
TÂM BẢO TRỢ - DẠY NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM
CHO NGƯỜI TÀN TẬT TPHCM.
25

Trích đoạn Giới thiệu về Trung tâm Bảo trợ-Dạy nghề và giới thiệu việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh. Hoạt động dạy nghề: Xây dựng các tiêu chí làm cơ cở để nhận xét chất lượng đào tạo ngành May HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status