Một số giải pháp nâng cao chất lượng thanh toán không dùng tiền mặt tại chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Thái Nguyên - Pdf 24



1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH HOÀNG PHƢƠNG THUỶ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI CHI
NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

thanh toán qua ngân hàng không chỉ tạo tiền đề, nền tảng cho việc phát triển hoạt
động kinh doanh của ngân hàng mà còn giúp Nhà nƣớc quản lý vĩ mô một cách
có hiệu quả, đặc biệt là trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Vì lẽ đó,tác giả chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng
thanh toán không dùng tiền mặt tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên” để có góc nhìn tổng quan về thực
trạng của hoạt động quản lý TTKDTM ở Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn tỉnh Thái Nguyên(Agribank Thái Nguyên) nói riêng
và ở các Ngân hàng thƣơng mại(NHTM) nói chung, hiện nay. Để từ đó phân
tích đƣợc nguyên nhân cũng nhƣ đề xuất một số giải pháp mở rộng, nâng cao
chất lƣợng dịch vụ này.
2. Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn
2.1. Mục tiêu chung:
Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý TTKDTM tại Agribank Thái
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn3
Nguyên từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lƣợng TTKDTM đạt
đƣợc mục tiêu đã đề ra.
2.2. Mục tiêu cụ thể:
+ Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về TTKDTM;
+ Đánh giá thực trạng công tác quản lý TTKDTM tại Agribank Thái
Nguyên;
+ Xác định các yếu tố tác động đến chất lƣợng TTKDTM tại Agribank
Thái Nguyên;
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng TTKDTM tại
Agribank Thái Nguyên.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu

Ngân hàng.
6. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Luận văn gồm bốn chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thanh toán không dùng tiền mặt
Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu
Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý thanh toán không dùng tiền mặt tại
Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên
Chƣơng 4: Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng quản lý thanh toán
không dùng tiền mặt tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn tỉnh Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn5
MỞ ĐẦU
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THANH TOÁN
KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT

1.1. Cơ sở lý luận về thanh toán không dùng tiền mặt
1.1.1. Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt
Tiền mặt theo nghĩa hẹp, đó là tiền do Ngân hàng Trung ƣơng phát

chủ tài khoản.
1.1.2 Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt
Thanh toán là khâu đầu tiên và khâu cuối cùng để kết thúc chu trình
sản xuất kinh doanh. Vì vậy, có thể khẳng định rằng thanh toán là điều kiện
quan trọng để bảo đảm sự tuần hoàn bình thƣờng của quá trình chu chuyển
vốn trong từng doanh nghiệp, từng đơn vị kinh tế hay thậm chí là từng cá
nhân trong xã hội cũng nhƣ toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Thanh toán là một khâu quan trọng trong quá trình chu chuyển vốn.
Thanh toán nhanh chóng, chính xác, an toàn sẽ làm tăng vòng quay của vốn,
giảm lƣợng tiền trong lƣu thông, tiết kiệm chi phí cho xã hội. Phƣơng tiện
đƣợc sử dụng chủ yếu trong thanh toán đó là tiền tệ. “Tiền tệ là loại hàng hóa
đặc biệt dùng làm vật ngang giá chung cho mọi loại hàng hóa, nó là sự thể
hiện chung của giá trị, biểu hiện tính chất xã hội của lao động và sản phẩm
của lao động”. Tiền tệ đƣợc chấp nhận chung trong thanh toán cho hàng hóa,
dịch vụ hoặc hoàn trả các món nợ, nó là sản phẩm tất yếu của quá trình phát
triển sản xuất và lƣu thông hàng hóa, đƣợc kết tinh, hình thành một cách tự
nhiên trong trao đổi.
Thanh toán bằng tiền mặt là quá trình tiền tệ thực hiện chức năng
phƣơng tiện thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt, đƣợc các tổ chức và cá nhân
sử dụng chi trả ngay về hàng hoá, dịch vụ cho những giao dịch có giá trị nhỏ.
Tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế đó
và tính tiện lợi của phƣơng tiện thanh toán, đồng thời phụ thuộc vào trình độ
dân trí của mỗi quốc gia. Đối với các nƣớc phát triển, tỷ lệ thanh toán bằng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn7
tiền mặt chỉ chiếm khoảng 10% trong tổng phƣơng tiện thanh toán, trong khi
tỷ lệ này ở các nƣớc đang phát triển (trong đó có Việt Nam) thƣờng chiếm từ
30% đến 40%.

khắc phục đƣợc những nhƣợc điểm của thanh toán dùng tiền mặt, có tác động
qua lại với các nghiệp vụ khác trong hoạt động Ngân hàng, khai thác nguồn vốn
tạm thời trong xã hội để đầu tƣ thông qua số dƣ trên tài khoản tiền gửi thanh
toán của các tổ chức cá nhân, làm tăng hệ số tạo tiền của Ngân hàng thƣơng mại.
Để đáp ứng nhu cầu thanh toán ngày càng nhanh gọn, chính xác thì
đòi hỏi phải tổ chức tốt khâu thanh toán. TTKDTM với những ƣu điểm đƣợc
trình bày ở trên và việc sử dụng các công cụ kỹ thuật tuỳ thuộc vào trình độ
phát triển, kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán của từng thời kỳ trở thành yêu cầu
khách quan của nền kinh tế hiện đại, đóng vai trò quan trọng trong sự phát
triển kinh tế của mỗi quốc gia.
1.1.3. Đặc điểm thanh toán không dùng tiền mặt
Sự ra đời của hình thức TTKDTM gắn liền với sự ra đời của đồng tiền
ghi sổ và sự phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của hệ thống ngân
hàng. Sự tồn tại và lớn mạnh của hệ thống này đã tạo điều kiện cho cá nhân
và các tổ chức kinh tế mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng và thực hiện việc
thanh toán thông qua việc chuyển khoản trong hệ thống ngân hàng. TTKDTM
là một hình thức vận động tiền tệ mà ở đây tiền vừa là công cụ để kế toán,
vừa là công cụ để chuyển hóa hình thức giá trị của hàng hóa và dịch vụ. Nó
có một số đặc điểm sau:
Trong TTKDTM, sự vận động của tiền tệ độc lập với sự vận động của
hàng hóa cả về thời gian lẫn không gian và thƣờng không có sự ăn khớp
nhau. Đây là đặc điểm quan trọng và nổi bật nhất của hình thức TTKDTM.
Trong TTKDTM, vật trung gian trao đổi không xuất hiện nhƣ trong
hình thức thanh toán dùng tiền mặt theo kiểu H-T-H mà chỉ xuất hiện dƣới
dạng tiền kế toán hay tiền ghi sổ và đƣợc ghi chép trên các chứng từ sổ sách
kế toán. Đây là đặc điểm riêng của TTKDTM.
Trong TTKDTM, ngân hàng vừa là ngƣời tổ chức vừa là ngƣời thực
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn10
tiền gửi thanh toán để tiến hành cho vay khi các khoản tiền gửi của khách
hàng chƣa đƣợc sử dụng đến, làm cho đồng vốn tham gia nhiều lần vào chu
trình sản xuất, đem lại hiệu quả cho cá nhân và toàn xã hội.
TTKDTM cùng với hoạt động tín dụng tạo ra tiền gửi: Thông qua các
khoản tiền mà khách chuyển vào tài khoản của mình tại Ngân hàng, lại chính
là xuất phát từ Ngân hàng đó là Ngân hàng đã cấp tín dụng. Nhƣ vậy trong
phần lớn trƣờng hợp, chính tín dụng tạo ra tiền gửi. Từ đó rút ra rằng: trong
một số chừng mực nào đó, các Ngân hàng tuỳ thuộc vào việc cấp tín dụng
nhiều hay ít mà làm tăng nhiều hay ít các khoản tín dụng của khách hàng. Từ
đó làm tăng lƣợng khách hàng giao dịch với Ngân hàng. Giúp Ngân hàng
tăng thêm thu nhập, đồng thời đẩy mạnh quay vòng vốn.
TTKDTM đã hạn chế rủi ro, an toàn cao trong lƣu thông và mang lại
thuận lợi trong việc trao đổi hàng hoá. Chẳng hạn ngƣời bán hàng chỉ cầm tờ
séc mà ngƣời mua phát hành đến Ngân hàng phục vụ mình hoặc Ngân hàng
phục vụ ngƣời phát hành thì Ngân hàng sẽ trích nợ tài khoản của ngƣời phát
hành séc nếu tờ séc đó hợp lệ, hợp pháp và trên tài khoản ngƣời mua có đủ
điều kiện và có tài khoản ngƣời bán (ngƣời hƣởng thụ). Không may trong
thời gian chƣa nộp séc (séc vẫn còn thời hạn) mà bị mất thì tài sản của họ vẫn
đƣợc đảm bảo không bị mất nếu khách hàng thông báo việc mất séc với Ngân
hàng của mình kịp thời.
TTKDTM tạo điều kiện cho Ngân hàng thực hiện chức năng kiểm soát
bằng đồng tiền đối với hoạt động của nền kinh tế. Mặt khác, nó giúp cho Nhà
nƣớc có kế hoạch điều hoà lƣu thông tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền, giữ vững
sức mua của đồng tiền.
Thông qua quá trình kiểm soát đối với hoạt động của nền kinh tế, Ngân
hàng có những thông tin để phản ánh lên Chính phủ, thông tin để thực hiện
các dịch vụ của Ngân hàng. Đồng thời cùng với nhà nƣớc, Ngân hàng có biện

tiền mặt
Các đơn vị và cá nhân đƣợc quyền lựa chọn Ngân hàng để mở tài
khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn12
Các đơn vị dự toán, Ngân hàng Nhà nƣớc mở tài khoản tại Kho bạc
Nhà nƣớc.
Các đơn vị và cá nhân có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng hoặc Kho
bạc Nhà nƣớc (gọi chung là Chủ tài khoản) thực hiện TTKDTM phải theo
những quy định trong thể lệ TTKDTM
Việc mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng, Kho bạc Nhà nƣớc và
thực hiện thanh toán qua tài khoản đƣợc ghi bằng đồng Việt Nam. Trƣờng
hợp mở tài khoản và thanh toán bằng ngoại tệ phải thực hiện theo Quy chế
quản lý ngoại hối của Chính phủ Việt Nam ban hành.
Để đảm bảo thực hiện thanh toán đầy đủ kịp thời, các chủ tài khoản (bên
trả tiền) phải có đủ tiền trên tài khoản. Mọi trƣờng hợp thanh toán vƣợt quá số dƣ
tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng, Kho bạc Nhà nƣớc là phạm pháp và phải bị xử lý
theo pháp luật.
1.1.5.2 Quy định chung đối với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán không
dùng tiền mặt
Thực hiện các uỷ nhiệm thanh toán của chủ tài khoản bảo đảm chính
xác, an toàn, thuận tiện. Ngân hàng, Kho bạc nhà nƣớc có trách nhiệm chi trả
bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản trong phạm vi số dƣ tiền gửi theo yêu cầu
của chủ tài khoản.
Kiểm tra khả năng thanh toán của chủ tài khoản (bên trả tiền) trƣớc khi
thực hiện thanh toán và đƣợc quyền từ chối thanh toán nếu tài khoản không
đủ tiền; đồng thời không chịu trách nhiệm về những nội dung liên đới của hai
bên khách hàng.

trừ của Ngân hàng nhà nƣớc (NHNN) Việt Nam hoặc do NHNN Việt Nam
cho phép hoạt động thì giấy in séc, kích thƣớc séc, yếu tố và vị trí các yếu tố
trên séc trắng phải đƣợc thiết kế theo các quy định của NHNN Việt Nam và
những tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể khác của Trung tâm (nếu có).
Séc bao gồm:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn14
- Séc chuyển khoản:
Séc chuyển khoản do chủ tài khoản phát hành để trả trực tiếp cho ngƣời
thụ hƣởng. Séc chuyển khoản chỉ đƣợc áp dụng thanh toán trong phạm vi giữa
các khách hàng có tài khoản ở cùng một chi nhánh Ngân hàng, Kho bạc Nhà
nƣớc hoặc khác chi nhánh Ngân hàng, Kho bạc Nhà nƣớc nhƣng các chi
nhánh này có tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn tỉnh, thành phố.
- Séc bảo chi:
Séc bảo chi do chủ tài khoản phát hành đƣợc Ngân hàng hoặc Kho bạc
Nhà nƣớc đảm bảo chi trả, lập theo mẫu séc chuyển khoản hoặc séc cá nhân.
Ngƣời phát hành séc phải lƣu ý trƣớc số tiền ghi trên tờ séc vào một tài khoản
riêng để Ngân hàng, Kho bạc Nhà nƣớc làm thủ tục bảo chi trƣớc khi giao séc
cho khách hàng.
- Sổ séc định mức:
Sổ séc định mức với số tiền ấn định đƣợc phép phát hành cho cả số séc,
đƣợc áp dụng theo yêu cầu của khách hàng hoặc theo quy định của Ngân hàng,
Kho bạc Nhà nƣớc.
Mức tối thiểu để mở sổ séc định mức là 20 triệu đồng. Muốn sử dụng
sổ séc định mức - khách hàng phải lƣu ý số tiền cần mở sổ séc định mức vào
một tài khoản riêng tại Ngân hàng, Kho bạc Nhà nƣớc. Tiền lƣu ký không
đƣợc hƣởng lãi.
- Séc cá nhân.

lập gửi vào Ngân hàng, Kho bạc Nhà nƣớc phục vụ mình để thu tiền hàng đã
giao, hoặc dịch vụ đã cung ứng. Khách hàng mua và bán phải thống nhất thoả
thuận dùng hình thức thanh toán uỷ nhiệm thu với những điều kiện thanh toán
cụ thể đã ghi trong hợp đồng kinh tế đồng thời phải thông báo bằng văn bản
cho Ngân hàng, Kho bạc Nhà nƣớc phục vụ ngƣời thụ hƣởng biết để làm căn
cứ thực hiện các uỷ nhiệm thu.
Sau khi đã giao hàng hoặc hoàn tất dịch vụ cung ứng, bên thụ hƣởng
lập giấy uỷ nhiệm thu theo mẫu của Ngân hàng, Kho bạc Nhà nƣớc kèm theo
hoá đơn, vận đơn gửi tới Ngân hàng, Kho bạc Nhà nƣớc phục vụ mình hoặc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn16
gửi trực tiếp đến Ngân hàng, Kho bạc Nhà nƣớc phục vụ bên trả tiền để yêu
cầu thu hộ.
Để thu nhanh tiền hàng hoặc dịch vụ theo giấy uỷ nhiệm thu, bên thụ
hƣởng có thể ghi rõ trên giấy uỷ nhiệm thu yêu cầu Ngân hàng, Kho bạc Nhà
nƣớc bên trả tiền chuyển tiền bằng điện và bên thụ hƣởng chịu phí.
Khi nhận đƣợc giấy uỷ nhiệm thu, trong vòng một ngày làm việc, Ngân
hàng, Kho bạc Nhà nƣớc bên trả tiền trích tài khoản của bên trả tiền ngay cho
bên thụ hƣởng để hoàn tất việc thanh toán. Nếu tài khoản bên trả tiền không
đủ tiền để trả thì bên trả tiền bị phạt chậm trả nhƣ đối với ngƣời phát hành séc
quá số dƣ quy định .
1.1.6.4 Thanh toán bằng thư tín dụng
Thƣ tín dụng đƣợc dùng để thanh toán tiền hàng trong điều kiện bên
bán đòi hỏi phải có đủ tiền để chi trả ngay và phù hợp với tổng số tiền hàng
đã giao theo hợp đồng hoặc đơn đặt hàng đã ký.
Khi có nhu cầu, bên mua lập giấy mở thƣ tín dụng yêu cầu Ngân hàng
phục vụ mình trích tài khoản tiền gửi (hoặc tiền vào Ngân hàng) một số tiền
bằng tổng giá trị hàng đặt mua để lƣu ký(ký quỹ) vào một tài khoản riêng.

trong phạm vi hạn mức của thẻ.
Thẻ ký quỹ thanh toán: áp dụng rộng rãi cho mọi khách hàng muốn sử
dụng loại thẻ này, khách hàng phải lƣu ký tiền vào một tài khoản riêng tại
ngân hàng và đƣợc sử dụng thẻ có giá trị thanh toán bằng số tiền ký quỹ ghi
trong thẻ đã lƣu ký.
Thẻ tín dụng áp dụng đối với khách hàng có đủ điều kiện đƣợc Ngân
hàng đồng ý cho vay tiền. Khách hàng chỉ đƣợc thanh toán số tiền trong phạm
vi hạn mức tín dụng đã đƣợc Ngân hàng chấp thuận bằng văn bản.
1.1.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thanh toán không dùng tiền
mặt của Ngân hàng thương mại
1.1.7.1. Môi trường kinh tế vĩ mô
Ngân hàng hoạt động trong nền kinh tế nên rất nhạy cảm với các yếu tố
từ môi trƣờng kinh tế. Những biến động lớn của nền kinh tế có thể dẫn tới sự
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn18
sụp đổ của nhiều ngân hàng và ảnh hƣởng thƣờng mang tính hệ thống. Khi
môi trƣờng kinh tế vĩ mô không ổn định, một mặt tác động trực tiếp tới
TTKDTM, mặt khác ảnh hƣởng tới hoạt động kinh doanh chung của ngân
hàng từ đó lại tác động gián tiếp tới TTKDTM.
Một nền kinh tế phát triển ổn định sẽ là môi trƣờng thuận lợi cho sự
phát triển của TTKDTM. Nền kinh tế phát triển mạnh, hàng hóa đƣợc sản
xuất ra và tiêu thụ với khối lƣợng lớn mọi ngƣời sẽ có khuynh hƣớng ƣa
chuộng việc sử dụng ngân hàng nhƣ là một ngƣời trung gian thanh toán bởi vì
ngân hàng cung cấp các tiện ích cho phép các khách hàng tham gia thanh toán
có thể giảm đƣợc các chi phí vận chuyển, bảo quản, kiểm đếm khi sử dụng
hình thức thanh toán bằng tiền mặt, đồng thời làm cho quá trình thanh toán
đƣợc nhanh chóng, chính xác và an toàn hơn.
1.1.7.2. Môi trường pháp lý

nay. Công nghệ ngân hàng tiên tiến sẽ góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chu
chuyển vốn xã hội , thu hút đƣợc nhiều hơn vốn nhàn dỗi trong dân cƣ phục
vụ cho việc đầu tƣ phát triển kinh tế, để đất nƣớc tiến nhanh trên con đƣờng
công nghiệp hoá hiện đại hoá .
Việc ứng dụng các thành tựu công nghệ tin học và tự động hóa vào thanh
toán sẽ đáp ứng đƣợc yêu cầu nhanh chóng, chính xác, an toàn và tiết kiệm đƣợc
chi phí trong thanh toán. Các hoạt động huy động, chi trả tiền gửi cho khách
hàng và thanh toán có thể đƣợc thực hiện trên các máy vi tính, vừa chính xác, an
toàn lại vừa nhanh chóng, tiện lợi. Các ngân hàng cũng có thể mở rộng các
dịch vụ của mình qua các mạng máy vi tính, đây là một cách tiếp cận, quảng bá
và cung cấp các dịch vụ ngân hàng tới hàng triệu ngƣời với chi phí rất thấp.
Để mở rộng TTKDTM, các ngân hàng có thể đƣa vào sử dụng hệ thống máy rút
tiền tự động, tham gia hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng,
Công nghệ hiện đại cho phép các ngân hàng vƣơn xa hơn ngoài trụ sở ngân
hàng, liên kết với nhau để cùng sử dụng mạng công nghệ, điều này tạo cơ hội cho
các ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động của mình và ảnh hƣởng lẫn nhau nhiều
hơn trong TTKDTM và cả trong những mặt hoạt động khác của ngân hàng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn20
Theo xu thế phát triển hiện nay, các thành tựu khoa học kỹ thuật mới
nhất luôn đƣợc ƣu tiên ứng dụng vào lĩnh vực ngân hàng để sáng chế và đƣa
vào sử dụng các phƣơng tiện thanh toán hiện đại nhất, vừa đảm bảo thanh
toán tức thì, vừa đảm bảo chính xác, an toàn và bí mật.
Hiện nay, công nghệ ngân hàng đang đƣợc xem là một thứ vũ khí cực
mạnh trong cạnh tranh. Với chức năng trung gian thanh toán của mình các
ngân hàng luôn coi trọng cải tiến đổi mới công nghệ để hoàn thiện hệ thống
thanh toán của mình, bởi vì ai cũng ý thức đƣợc rằng, trong môi trƣờng cạnh
tranh khốc liệt hiện nay, công nghệ lạc hậu sẽ dẫn tới chỗ diệt vong.

chức năng tạo tiền những chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ và tƣơng hỗ
với nhau. Khi NHTM là trung gian tài chính thì NHTM sẽ huy động vốn
bằng nhiều cách thức khác nhau, có thể huy động từ các tổ chức kinh tế, huy
động vốn từ dân cƣ qua hình thức tiết kiệm, kỳ phiếu, hay qua phát hành trái
phiếu với các kỳ hạn khác nhau. Qua đó ngân hàng sẽ tập trung một lƣợng
vốn nhàn rỗi từ các thành phần kinh tế khác nhau và khi họ chƣa có nhu cầu
sử dụng hoặc chƣa đến thời hạn thanh toán thì ngân hàng sẽ sử dụng chúng
để cho vay đối với những ngƣời có nhu cầu vay vốn. Khi các bên có nhu cầu
thanh toán, chi trả ngân hàng sẽ đứng ra làm trung gian thanh toán. Nhƣ vậy,
giữa các chức năng của NHTM có mối liên hệ mật thiết với nhau. Khi vai trò
trung gian thanh toán làm tốt, khách hàng sẽ tin tƣởng ngân hàng và gửi tiền
vào ngân hàng ngày càng nhiều nhờ thanh toán hộ, nhƣ thế, vốn ngân hàng
huy động đƣợc lại tăng lên, ngân hàng có thêm vốn để đáp ứng nhu cầu đi
vay và chức năng trung gian tài chính của ngân hàng lại càng đƣợc phát huy.
Với chức năng trung gian thanh toán và trung gian tài chính trong nền kinh tế
quốc dân hệ thống các NHTM đã tăng khối lƣợng tiền tệ lên gấp bội thông
qua cơ chế thanh toán chuyển khoản. Điều này đã làm cho các chức năng của
NHTM ngày càng liên hệ chặt chẽ với nhau. Sự phát triển của mỗi chức năng
sẽ thúc đẩy các chức năng khác phát triển theo. Do đó, hoạt động kinh doanh
chung của ngân hàng sẽ ảnh hƣởng lớn tới TTKDTM của ngân hàng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn22
1.1.7.6. Yếu tố tâm lý
Tâm lý cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hƣởng tới TTKDTM. Con
ngƣời là những sinh vật có ý thức. Hoạt động ý thức diễn ra trong bộ não
ngƣời, một dạng tổ chức đặc biệt của vật chất. Tâm lý là toàn bộ nói chung sự
phản ánh của hiện thực khách quan vào ý thức con ngƣời, bao gồm nhận

Tuy nhiên Hiệp hội các Ngân hàng Thụy Điển cũng cho biết, giảm
dùng tiền mặt cũng làm giảm tệ nạn xã hội. Số tội phạm cƣớp nhà băng ở
Thụy Điển giảm từ 110 ngƣời năm 2010 xuống 16 ngƣời năm 2011, thấp nhất
30 năm trở lại đây. “Ít tiền trong lƣu thông đồng nghĩa với xã hội an toàn hơn,
cả cho ngƣời quản lý và cho công chúng”, chuyên gia an ninh Par Karlsson
nhận định.
Giao dịch điện tử cũng giúp Thụy Điển hạn chế vấn đề tham nhũng so
với các nƣớc khác nhƣ Italia, Hy Lạp. Ngoài ra, đây cũng là động lực giúp
Thụy Điển phát triển một nền kinh tế số. Tuy nhiên, mặt hạn chế của giao
dịch điện tử là khiến tội phạm mạng gia tăng.
Đa số các chuyên gia không cho rằng tiền mặt ở Thụy Điển sẽ sớm
biến mất, nhƣng sẽ giảm dần lƣu thông trong nền kinh tế.
1.2.1.2 Trung Quốc
Trong những năm gần đây, với sự phát triển nhƣ vũ bão của khoa học
công nghệ và xu hƣớng toàn cầu hóa, tự do hóa tài chính đã thúc đẩy các
phƣơng thức TTKDTM phát triển. Do những ƣu việt của TTKDTM, đến nay,
nó đã và đang trở thành phƣơng tiện thanh toán phổ biến và đƣợc nhiều quốc
gia khuyến khích sử dụng, đặc biệt là đối với các giao dịch thƣơng mại, các
giao dịch có giá trị và khối lƣợng lớn.
Tại Trung Quốc, xu hƣớng trong những năm gần đây, các phƣơng tiện
TTKDTM duy trì mức tăng trƣởng nhanh và ngày càng đóng vai trò quan
trọng trong việc thay thế tiền mặt. Trong năm 2011, khoảng 21.414 triệu giao
dịch thanh toán đã đƣợc thực hiện bằng các phƣơng tiện TTKDTM (tăng
16,85% so với năm 2010), với tổng giá trị giao dịch đạt 715,75 nghìn tỷ nhân
dân tệ (NDT) (tăng 13,07% so với năm 2010).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn24
Về khối lƣợng giao dịch thanh toán qua thẻ ngân hàng, giấy tờ có giá

25
thanh toán điển tử.
Trong tổng số khách hàng sử dụng Internet Banking, tỷ lệ khách hàng
doanh nghiệp chiếm 40,5%, tỷ lệ khách hàng cá nhân tại khu vực thành thị
chiếm 20,9%. Cùng với sự tăng lên về số lƣợng khách hàng sử dụng, sự hiểu
biết và việc tiếp cận với các chức năng của Internet Banking ngày càng trở
nên phổ biến hơn. Tần suất sử dụng Internet Banking hàng tháng của khách
hàng cá nhân tăng từ 5 lần năm 2010 lên 5,6 lần năm 2011, và khách hàng
doanh nghiệp tăng từ 10,3 lần lên 11,3 lần.
Việc xử lý thanh toán qua Internet tại Trung Quốc dự kiến sẽ hiệu quả
hơn sau khi hệ thống thanh toán bù trừ và thanh toán Internet Banking liên
ngân hàng của Ngân hàng Trung ƣơng Trung Quốc (PBOC) đƣợc xây dựng,
đƣa vào hoạt động .
Nhờ sự quan tâm và hỗ trợ của Chính phủ và các Bộ, ngành, thẻ ngân
hàng đã phát triển nhanh, cả về số lƣợng và giá trị giao dịch, vƣơn ra cả thị
trƣờng quốc tế. Thẻ ngân hàng đã tăng nhanh, trở thành phƣơng tiện thanh
toán phổ biến, đƣợc sử dụng rộng rãi tại Trung Quốc. Đến cuối năm 2011,
tổng số lƣợng thẻ ngân hàng đƣợc phát hành đạt tới 2,066 tỷ thẻ (tăng 14,8%
so với năm trƣớc; đến tháng 10/2011 đã đạt mức 2,3 tỷ thẻ), trong đó thẻ ghi
nợ là 1,88 tỷ thẻ chiếm 91%, thẻ tín dụng là 186 triệu thẻ. Khối lƣợng và giá
trị giao dịch bằng thẻ ngân hàng năm 2011 là 19.691 triệu giao dịch và
165,99 nghìn tỷ NDT với khối lƣợng và giá trị giao dịch bình quân ngày là
53.948.500 giao dịch và 454.771 triệu NDT.
Đến cuối năm 2011, đã có tổng số 261 tổ chức phát hành thẻ tham gia vào
mạng lƣới thanh toán bù trừ thẻ liên ngân hàng (CUP), trong đó có 218 tổ
chức trong nƣớc và 43 tổ chức nƣớc ngoài. Hiện nay, tăng trƣởng phát hành
thẻ ngân hàng đã chậm lại do gần tới ngƣỡng, nhƣng tỷ lệ thẻ tín dụng đƣợc
phát hành đang tăng nhanh hơn. Các ngân hàng đang tập trung vào chất lƣợng
và hiệu quả của thẻ, đặc biệt chất lƣợng của các dịch vụ thẻ, thay vì chạy theo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status