Một số công tác để thực hiện tổ chức quản lý, dạy nghề và tạo việc làm cho người sau cai nghiện tại Thành Phố Hồ Chí Minh - Pdf 17

MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
HĐLĐ : Hợp đồng lao động
UBND : Uỷ ban nhân dân
NQ16 : Nghị quyết 16
DN : Doanh nghiệp
TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
BHYT, BHXH : Bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội
TT : Trung tâm.
LỜI MỞ ĐẦU
Nghiện ma tuý và tội phạm ma túy đã và đang hoành hành ở mọi nơi trên
khắp thế giới, bất kể thành phố hay nông thôn, ở vùng núi hay đồng bằng, ở
các nước tư bản giàu có hay các nước chậm phát triển. Trong vòng 15 năm
qua, mặc dù đất nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế - xã
hội góp phần tạo nên những thay đối đáng kể trong đời sống vật chất và tinh
thần cũng như tạo cho con người nhiều nếp sống hiện đại, nhưng rất đông
những người còn lại, đặc biệt là giới trẻ, còn thiếu việc làm, lười lao động, đã
rơi vào tình cảnh bế tắc và tìm đến với ma túy. Bên cạnh đó, không ít gia đình
giàu có sẵn sàng cung cấp tiền bạc cho các cô cậu ấm mà không biết tiền đó
tiêu vào việc gì và chính những đối tượng này đã trở thành con mồi cho bọn
buôn bán ma túy.
Tệ nạn ma túy đã trở thành quốc nạn với nhiều nước, gây cản trở lớn đối
với phát triển kinh tế, xã hội; gây ra tác hại to lớn đối với mọi mặt của cuộc
sống, ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục của dân tộc.. và cần được lên
án, loại bỏ. Trong đó, nghiện ma túy là mối đe dọa đến hạnh phúc của mọi
người, mọi gia đình. Với những tác hại vô cùng to lớn mà ma túy đem lại
Thành phố Hồ Chí Minh, một trọng điểm kinh tế - xã hội ở phía Nam
không chỉ có những thành tựu vượt bậc về mặt kinh tế mà còn phải đối mặt
giải quyết với nhiều tệ nạn xã hội, trong đó có nghiện ma túy. Số lượng
30.000 con nghiện ma túy hiện nay đang tập trung trong các trường, trung tâm
cai nghiện của thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM )đã nói rõ sự thật trớ trêu

các cô và anh chị, toàn thể cán bộ, công chức của Phòng chính sách 06, Cục
phòng, chống tệ nạn xã hội, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội đã giúp em
hoàn thành báo cáo này!
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Tổng quan về tình hình nghiện ma túy ở Việt Nam.
1.1. Các khái niệm liên về ma túy.
1.1.1. Ma túy
Con người đã phát hiện và sử dụng các chất ma túy từ cách đây 6000
năm. Việc trồng và sử dùng các cây có chứa hoạt chất ma túy tự nhiên đã trở
thành thói quen và tập tục của nhiều dân tộc trên thế giới. Từ thời thượng cổ,
người Ba tư và người Ai Cập đã biết dùng nhựa mủ cây thuốc phiện để hút,
tạo cảm giác say sưa và dễ chịu cho con người. Đến sau đó, cây cần sa được
trồnng nhiều ở khu vực Nam Á ( Ấn Độ, I Ran, Thổ Nhĩ Kỳ…). Ma túy đã
tồn tại tư rất lâu đời, bởi vậy tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về ma túy:
Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO ) thì “Ma túy là bất kì chất gì khi đưa
vào cơ thể sống có thể thay đổi một hay nhiều chức năng sinh lý của cơ thể”.
(1)
Theo các chuyên gia về ma túy của Liên Hiệp Quốc thì “Ma túy là
những chất có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo, khi thâm nhập vào cơ thể con
người sẽ làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, làm cho con người bị lệ
thuộc vào ma túy gây nên những tổn thương cho cá nhân và cộng đồng”.(2)
Nhưng theo cách hiểu chung nhất thì ma túy là các chất hóa học có
nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, có khả năng ức chế thần kinh, có tính chất
gây nghiện và khi đưa vào cơ thể quá liều thì sẽ làm thay đổi các chức năng
sinh lý, tâm lý bình thường của con người.
1.1.2. Nghiện ma túy và đôi nét về lịch sử nghiện ma túy ở Việt Nam.
Trước hết, ta cần phân biệt giữa việc sử dụng ma túy, lạm dụng ma túy
và vấn đề nghiện ma túy:
- Sử dụng ma túy là việc dùng ma túy với mục đích chữa bệnh, đúng

nỗ lực của Chính phủ, diện tích trồng cây thuốc phiện đã bị thu hẹp nhiều.
Trước kia, người nghiện ma tuý chủ yếu tập trung ở vùng núi phía Bắc, nơi
đồng bào có tập tục trồng cây thuốc phiện và hút thuốc phiện với tổng số khoảng
30.000 người. Miền Nam dưới chế độ cũ, tệ nạn ma tuý phát triển tràn lan; theo
thống kê, vào trước năm 1975, có khoảng 170.000 người nghiện và tập trung ở
các thành phố, thị xã. Sau ngày hoà bình lập lại ở Miền Bắc năm 1954, và giải
phóng miền Nam thống nhất đất nước năm 1975, dưới chủ trương, đường lối,
chính sách của Đảng, Nhà nước, nền kinh tế phát triển theo hướng kế hoạch hoá
tập trung, xã hội được quản lý nghiêm ngặt, do đó tệ nạn ma tuý được đẩy lùi rõ
rệt. Năm 1980, cả nước chỉ còn 30.000 – 40.000 người nghiện.
Từ cuối nhưng năm 1980 đến nay, nước ta chuyển từ kinh tế kế hoạch
hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã
mang lại nhiều thành tựu to lớn về kinh tế và xã hội. Tuy nhiên những năm
gần đây, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, trong xã hội đã có nhiều
biến đổi nhất định, phát sinh một số vấn đề xã hội đáng quan tâm, đặc biệt là
tệ nạn nghiện ma tuý. Tình hình nghiện ma túy không ngừng gia tăng và ngày
càng phức tạp đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu và hiểu sâu hơn về vấn đề
này. Nghiện ma túy ở Việt Nam hiện nay mang một số đặc điểm sau:
- Số lượng người nghiện ma túy ngày càng tăng qua các năm. Qua số
liệu thống kê của các tỉnh, thành phố trong cả nước từ năm 1994 đến nay, số
lượng người nghiện liên tục gia tăng. Năm 1994, cả nước mới chỉ có 55.445
người nghiện, đến nay có trên 130.000 người, bình quân mỗi năm tăng hơn
7.000 người nghiện, chiếm 13,5%. Đặc biệt là năm 2000 cho đến nay, mỗi
năm số người nghiện tăng trên 10.000 người. Theo số liệu báo cáo tình hình
nghện ma túy từng năm của Cục phòng, chống tệ nạn xã hội thì số người
nghiện có hồ sơ quản lý đã tăng nhanh từ năm 2000 đến nay. Cụ thể ở bảng
sau:
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Số đối tượng 92.682 101.408 116.112 127.776 130.387 129.054 130043
Bảng số liệu trên cho thấy, số đối tượng nghiện ma túy đã tăng 37.376

túy không loại trừ bất kỳ ai, bất kỳ gia đình nào, từ thành thị đến nông thôn,
từ tội phạm, gái mại dâm đến công nhân, viên chức hay ngay cả học sinh, sinh
viên.
- Nghiện ma túy gắn với tội phạm ngày càng tăng.
Với những đặc điểm như trên, ma túy đã và đang gây những tác hại to
lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội:
- Về mặt kinh tế: Nghiện ma tuý làm tăng nhiều khoản chi phí xã hội.
Theo khảo sát của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, bình quân một
người nghiện tiêu tốn cho việc mua ma tuý là 120.000đ/ ngày, một năm nước
ta có gần 130.000 người nghiện thì tiêu tốn hết trên 1.000 tỷ đồng cho việc
dùng ma tuý. Bên cạnh đó, hàng năm nhà nước tiêu tốn một khoản lớn cho
việc khắc phục hậu quả do ma tuý để lại. Nghiện ma tuý hàng năm làm giảm
lực lượng lao động, giảm tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, môi trường du
lịch dẫn đến giảm thu ngân sách.
Tệ nạn ma túy khiến hàng năm nhà nước phải dành một khoản ngân
sách khá lớn cho công tác phòng chống ma túy:
+ Chi phí cho công tác tuyên truyền giáo dục phòng chống ma túy
+ Chi phí cho công tác vận động tuyên truyền xóa bỏ cây thuốc phiện
+ Chi phí cho công tác tổ chức cai nghiện cộng đồng, xây dựng và quản
lý các trung tâm cai nghiện.
+ Chi phí cho hoạt động kiểm soát ma túy ở biên giới, điều tra truy tố,
xét xử tội phạm về ma túy.
+ Chi phí cho hoạt động hợp tác quốc tế về phòng chống ma túy
+ Chí phí về giam giữ cải tạo số người phạm tội về ma túy.
- Tệ nạn ma túy ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.
Qua số liệu báo cáo cho thấy, trên 70% số vụ phạm tội hàng năm là do người
nghiện ma túy gây nên.
- Về mặt xã hội, tệ nạn ma túy làm tăng số người bị nhiễm HIV/AIDS,
gần 70% số người nhiễm HIV là do nghiện ma túy.
Tệ nạn ma túy làm tăng tệ nạn mại dâm, làm tăng tai nạn giao thông,

Để phòng, chống tệ nạn ma túy, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành đồng
thời ba công tác chính: công tác giảm cung ma túy, công tác giảm cầu ma túy
và công tác giảm hại ma túy. Cho đến nay, chúng ta mới tổ chức thực hiện hai
công tác đầu, công tác thư ba đang trong giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm.
2.1.Về công tác giảm cung ma túy.
Đến nay, nhà nước ta đã ban hành nhều văn bản pháp luật cũng như
nhiều biện pháp để ngăn chặn việc sản xuất, tàng trữ, buôn bán và vận chuyển
trái phép các chất ma túy:
- Năm 1991, cuộc vận động, tuyên truyền nhân dân phá bỏ không trồng
cây thuốc phiện. Bằng nhiều hình thức khác nhau giúp người dân hiểu tác hại
to lớn của ma túy cũng như hậu quả nghiêm trọng của nghiện ma túy đến mọi
mặt đời sống.
- Năm 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 06/CP về tăng cường
công tác chỉ đạo phòng chống và kiểm soát ma túy.
- Năm 1994, Cục phòng chống tệ nạn xã hội có quyết định thành lập
hình thành các cơ quan chuyên trách về phòng, chống tệ nạn xã hội, trong đó
có ma túy.
- Luật phòng chống ma túy ban hành 12 năm 2000 đã được Quốc hội
Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 8 thông qua.
Ngay trong phần mở đầu của Luật phòng chống ma túy được thông qua
tại Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 8, Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh đã
phát biểu:
“ Tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn của toàn xã hội, gây tác hại cho sức
khỏe, làm suy thái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia
đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc
gia”. Tại điều 36, chương V quy định quản lý nhà nước về phòng chống ma
túy đã nêu:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện các chiến lược, chủ trương, chính sách,
kế hoạch về phòng, chống ma túy;
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về

tác cai nghiện cũng là một công việc khó khăn và phức tạp đòi hỏi phải có sự
phối hợp hoạt động của các cấp, các ngành và toàn thể cộng đồng.
Bên cạnh việc thi hành Luật phòng chống ma túy, Chính phủ đã ban
hành nhiều văn bản pháp luật khác nhằm tạo hành lang pháp lý để thực hiện
cai nghiện cho các đối tượng nghiện ma túy.
- Nghị định số 135/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10/6/2004 quy
định chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động
của sơ sở chữa bệnh.
Trong đó quy định cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Luật phòng, chống ma
túy và cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được gọi
chung là Trung tâm – Chữa bệnh - Giáo dục- Lao động xã hội (gọi tắt là các
trung tâm) là nơi chữa trị, học tập và lao động phục hồi đối với người nghiện
ma túy, người bán dâm bị xử lý bằng cách đưa vào các cơ sở chữa bệnh,
người nghiện ma túy và người bán dâm chưa thành niên nhưng tự nguyện vào
cơ sở chữa bệnh để cai nghiện, chữa trị.
Nghị định cũng đã quy định tổ chức hoạt động của trung tâm.
Chức năng, nhiệm vụ:
- Tiếp nhận phân loại, tổ chức chữa trị, phục hồi sức khỏe cho người vào
trung tâm; tổ chức lao động trị liệu, lao động sản xuất; tổ chức học tập, giáo
dục, dạy nghề, bảo đảm các điều kiện vật chất, sinh hoạt tinh thần cho những
người đưa vào trung tâm.
- Nghiên cứu thực hiện mô hình, quy trình chữa trị cai nghiện phục hồi;
tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ công chức, nhân viên
của trung tâm.
- Quản lý, sử dụng các nguồn kinh phí theo quy định, giữ gìn an ninh
trật tự an toàn xã hội tại các trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội.
- Phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan để tổ chức, quản lý,
chữa bệnh, giáo dục, lao động, dạy nghề và hướng nghiệp cho các đối tượng
vào trung tâm.
Điều 32 tại Nghị định này còn quy định về chế độ lao động đối với các

Vai trò của quản lý:
- Quản lý nhằm tạo ra sự thống nhất lý trí trong tổ chức.
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận: chủ thể quản lý (cá
nhân, tổ chức làm nhiệm vụ quản lý, điều khiển) và đối tuợng quản lý, đây là
mối quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc.
- Quản lý bao giờ cũng là quản lý con nguời.
Với những vai trò trên thì quản lý là việc làm cần thiết đối với những đối
tượng sau cai nghiện vì:
- Trước đây, quy trình cai nghiện ma túy có 5 giai đoạn liên hoàn nhưng
đa số các trung tâm mới chủ yếu mới dừng lại ở giai đoạn cắt cơn, chưa chú ý
giai đoạn phục hồi, chức năng của cơ thể, đặc biệt là công tác quản lý sau cai
tại cộng đồng bị bỏ trống. Bởi vậy, tỷ lệ tái nghiện gần như 100% đối tượng.
- Việc phân công quản lý nhà nước về cai nghiện ma túy chưa tốt nên địa
bàn cơ sở sau cai nghiện không được giám sát chặt chẽ.
Tái nghiện sẽ gây nên những hậu quả nghiêm trọng vô cùng to lớn bởi
mức độ sẽ nặng hơn trước và khả năng cai nghiện khó khăn phức tạp hơn
nhiều lần. Điều này đòi hỏi phải có sự quan tâm, đầu tư hơn nữa vào công tác
quản lý, giám sát sau cai nghiện. Hiệu quả công tác này càng cao thì tỷ lệ
người tái nghiện càng giảm.
Hai là, dạy nghề và tạo việc làm:
Nghề là một hình thức phân công lao động, nó đòi hỏi kiến thức lý
thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất
định, như nghề mộc, nghề cơ khí…
Dạy nghề là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn, nghiệp
vụ cho nguời lao động, để họ có thể đảm nhận một công việc nhất định.
Dạy nghề là đào tạo nhân lực kĩ thuật trực tiếp trong sản xuất và dịch vụ,
có năng lực thực hành nghề tuơng xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức,
luơng tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong trong công nghiệp, sức
khỏe, nhằm tạo điều kiện cho nguời học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc
làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp

làm lại cuộc đời.
Lao động giúp người sau cai nghiện phục hồi tính nhân bản của mỗi con
người mà đối tượng đã mất trong giai đoạn dùng ma túy, tạo nếp sống vị tha,
vì mọi người, sống có kỷ cương và trách nhiệm với bản thân, mọi người và
với công việc.
Khi lao động, các đối tượng sẽ thấy mình tạo ra được các giá trị mới
trong cuộc sống từ vật chất đến tinh thần, họ tự hào về công việc, mình đang
làm thông qua kết quả lao động, giúp họ giải quyết khủng hoảng về tinh thần,
biết quý trọng đồng tiền, quý trọng sức lao động và sống có ý thức hơn.
Tạo việc làm còn giúp người sau cai nghiện hàn gắn lại uy tín với xã hội,
tạo lập cuộc sống tốt đẹp hơn, giúp họ dễ dàng hòa nhập với cộng đồng.
2.3. Công tác giảm hại ma túy.
Thực tế cho thấy, các nước trên thế giới đã tiến hành các biện pháp can
thiệp giảm hại rừ rất lâu và ở các mức độ khác nhau song còn rất mới ở Vệt
Nam. Hệ thống các văn bản pháp luật hầu như không đề cập đến công tác
giảm tác hại trong phòng, chống mại dâm, ma túy để phòng ngừa lây truyền
HIV/AIDS.
Có nhiều biện pháp can thiệp nhằm giảm hại của ma túy. Tôi chỉ xin nêu
một giải pháp thay thế trong cai nghiện: đó là phương pháp sử dụng
Methadone cho chăm sóc người cai nghiện đang được thực hiện thí điểm tại
Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh. Đây được xem như một liệu pháp
hiệu quả nhằm giảm hại cho người nghiện ma túy. Methadone là một lọai ma
túy được dùng cho người nghiện để thay thế heroin, giúp người nghiện có thể
dần quên và không phải mua, sử dụng heroin, không cần tiêm chích ma túy,
giảm nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS và giảm nguy cơ với cộng đồng.
Ở Việt Nam, phương pháp này mới chỉ thực hiện thí điểm và thực hiện
chưa đồng bộ, kể cả về cơ sở pháp lý cũng như các yếu tố khác.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC QUẢN LÝ,
DẠY NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI SAU CAI NGHIỆN
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

cải thiện rõ rệt. Mức tiêu dùng hàng hóa dịch vụ của dân cư hàng năm tăng
trên 10%. Số hộ có mức sống nghèo khó ngày một giảm. Cơ sở hạ tầng được
nâng cấp qua các năm tăng lên, nhất là các huyện ngoại thành, trên 50% số xã
đã có đường ôtô đi đến trung tâm xã; 100% số xã có điện lưới quốc gia với
trên 55% số hộ đã được dùng điện; 100% số xã có trạm y tế có trường tiểu
học; khoảng 85% số xã có trường trung học cơ sở…
Hiện nay, Thành phố đã dành 15% ngân sách địa phương cho sự nghiệp
phát triển giáo dục nên đã tăng số lượng học sinh học phổ thông và đại học.
Từ năm 1995, Thành phố đã đạt tiêu chuẩn xóa mù chữ và phổ cập tiểu học.
Sự nghiệp y tế phát triển mạnh, đáp ứng ngày càng nhiều yêu cầu chăm
sóc và bảo vệ sức khỏe của người dân tại thành phố và dân cư các địa phương
khác đến Thành phố.
Có thể nói, TP. HCM là một trung tâm kinh tế xã hội lớn của cả nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được về mặt kinh tế xã hội, Thành
phố cũng phải đối mặt với tình hình tội phạm ngày càng phức tạp và gia tăng
cả về số lượng và quy mô, trong đó có tệ nạn ma túy. Chính hạn chế này gây
ảnh hưởng lớn đến sự phát triển về mọi mặt của Thành phố và gây nhiều bức
xúc đối với trong nhân dân.
1.2. Thực trạng về tình hình nghiện ma túy và công tác cai nghiện tại
thành phố Hồ Chí Minh.
1.2.1. Tình hình nghiện ma túy trên địa bàn Thành phố.
Thành phố Hồ Chí Minh có số dân cao nhất cả nước, với gần 7 triệu người
và gần 2 triệu người nhập cư. Thành phố có hàng ngàn cơ sở kinh doanh nhạy
cảm như karaoke, massage, bia ôm, nhà hàng, khách sạn, hớt tóc nam nữ và rất
nhiều địa bàn đã nổi tiếng phức tạp. Theo báo cáo chưa đầy đủ năm 1994, toàn
thành phố có trên 5.000 người nghiện và đến nay có khoảng 36.000 người
nghiện có hồ sơ quản lý, tăng gần 31.000 người, tăng trên 600%.
Đa số đối tượng còn rất trẻ, phần lớn trong lứa tuổi thanh niên, tỷ lệ người
nghiện hút trong lứa tuổi từ 18 – 25 là 52% và từ 26 – 35 chiếm 37,75% …
Về trình độ học vấn, tuyệt đại đa số người nghiện có trình độ học vấn rất

“Giảm tội phạm, ma túy và mại dâm” ban hành ngày 1/11/ 2001 của Ủy ban
nhân dân Thành phố. Đây chỉ là một trong 12 công trình trọng điểm của
Thành phố về phòng, chống tệ nạn xã hội. Với nguồn kinh phí thực hiện gần
500 tỷ đồng, chương trình 3 giảm đã thu được nhiều thành quả. Công tác bắt
giữ tội phạm đã có nhiều chuyển biến tích cực làm giảm đáng kể các vụ vi
phạm ma túy và mại dâm. Lực lượng cảnh sát được sự ủng hộ giúp đỡ nhiệt
tình của người dân, đã triệt phá nhiều tụ điểm buôn bán và sử dụng ma túy.
Điển hình là vụ vận chuyển ma túy do tên John Nguyễn (quốc tịch Mỹ) cầm
đầu,thu 1822 viên ma túy tổng hợp; vụ Trần Vĩnh Lâm, bắt 6 đối tượng, thu
giữ 1,2 kg heroin; vụ Chu Đức Hải, thu giữ 1,3 kg heroin, 431 viên ma túy
tổng hợp…
Song song những biện pháp quyết liệt chống tội phạm buôn bán ma túy,
Thành phố cũng đã quan tâm đến việc tổ chức cai nghiện cho những người sa
vào con đường nghiện ngập có thể cắt cơn, phục hồi nhân phẩm, và sức khỏe
để tái hòa nhập cộng đồng. Tuy nhiên, một thực tế đáng buồn cho thấy, tỷ lệ
tái nghiện sau khi cắt cơn trở về hòa nhập cộng đồng là rất cao, trên 95%.
Qua việc triển khai hình thức cai nghiện bắt buộc cho thấy thời gian cai
nghiện từ một đến hai năm đối với các đối tượng mắc nghiện là quá ngắn, rất
dễ dẫn đến tình trạng tái nghiện và không tạo được những kỹ năng và kiến
thức cần thiết để có thể tìm việc làm, sống cuộc sống ổn định, bên cạnh các
nguyên nhân chủ yếu như:
- Người nghiện ma túy thường chích thẳng vào tĩnh mạch, chất gây
nghiện đã tác động và lưu lại trong vùng khoái cảm của não bộ. Muốn cai
nghiện hoàn toàn phải loại bỏ vùng khoái cảm đó trong não bộ, đó là việc
không thể thực hiện, trừ một số đối tượng thật sự có ý chí cao và được sự giúp
đỡ tận tình của cộng đồng thì mới thắng được sự thèm khát ấy.
- Thêm vào đó, bọn tội phạm buôn bán ma túy vẫn hiện diện khắp nơi,
cung cấp hàng chục kg heroin thì rất khó ngăn chặn tình trạng tái nghiện cũng
như ngăn ngừa những đối tượng mới mắc nghiện.
- Chưa chú ý đến hướng nghiệp, dạy nghề và giải quyết việc làm cho

định này bao gồm 4 chương, 26 điều, quy định cụ thể các đối tượng áp dụng
vào các cơ sở biện pháp đưa vào cơ sở dạy nghề và giải quyết việc làm tại
điều 2 của Nghị quyết:
- Người đã kết thúc thời gian cai nghiện tập trung tại các cơ sở cai
nghiện bắt buộc, theo quy định tại điều số 28 của Luật phòng chống ma túy
đủ 18 tuổi mà tự nguyện vào cơ sở dạy nghề và giải quyết việc làm.
- Người đã kết thúc thời gian cai nghiện tập trung không tự nguyện vào
các cơ sở dạy nghề và giải quyết việc làm nhưng có khả năng tái nghiện cao
nếu được đưa trở lại cộng đồng. Người có khả năng tái nghiện cao là những
người:
 Đã bị cai nghiện bắt buộc tại trung tâm Chữa bệnh- Giáo dục – Lao
động xã hội từ lần thứ hai trở lên.
 Trong thời gian cai nghiện có hành vi vi phạm nội quy của trung tâm,
bị thi hành kỷ luật lần thứ hai trở lên.
 Không có cam kết của gia đình, cơ quan, đơn vị doanh nghiệp, nhà
trường về việc đảm bảo việc tiếp tục trở lại cộng đồng.
b - Trình Quốc hội cho phép áp dụng một số chế độ ưu đãi về thuế thu
nhập doanh nghiệp cho các cơ sở và doanh nghiệp sử dụng lao động là người
sau cai nghiện trong thời gian thực hiện NQ16. Về vấn đề này, Thường trực
Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách và Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội với
đề nghị của Chính phủ về việc cần thiết áp dụng một số chế độ ưu đãi về thuế
thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp sử dụng lao động là người
sau cai nghiện và các doanh nghiệp này còn gặp một số khó khăn trong việc
sử dụng lao động đặc biệt này. Việc áp dụng một biện pháp hỗ trợ thể hiện sự
quan tâm, động viên của Nhà nước đối với các doanh nghiệp sẽ góp phần
quan trọng để công tác phòng chống ma tuý và cai nghiện đạt kết quả tốt hơn.
Theo dự tính, mỗi năm cần khoảng 10 tỷ đồng hỗ trợ cho doanh nghiệp này,
Chính phủ có thể sử dụng từ nguồn quỹ an sinh xã hội, nguồn quỹ dự trữ tài
chính, hoặc ngân sách dự phòng để giải quyết.
c - Quyết định số 212/2006 – TTg ngày 20/9/2006 về “Tín dụng với các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status