Giải pháp hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy ở nước ta hiện nay - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đã từ lâu, tệ nạn ma túy là một hiểm họa lớn của toàn nhân loại. Trong
đó, nhiều quốc gia đang phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng do tệ
buôn lậu ma túy và nghiện ma túy gây ra cho đời sống kinh tế - xã hội. Ma
túy làm suy thoái nhân cách, phẩm giá con người, tàn phá cuộc sống gia đình,
gây xói mòn đạo lý, làm gia tăng tội phạm, bạo lực, tham nhũng, vắt cạn kiệt
nguồn nhân lực và tài chính, lẽ ra phải được huy động cho việc phát triển kinh
tế - xã hội, đem lại ấm no hạnh phúc cho mọi người. Nghiêm trọng hơn, ma
túy là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lây nhiễm đại dịch thế
kỷ HIV/AIDS trên toàn cầu.
Do siêu lợi nhuận và lợi dụng tự do hóa thương mại, chính sách mở cửa
thu hút đầu tư của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, bọn tội
phạm ma túy tiến hành mở rộng phạm vi hoạt động sản xuất, buôn bán ma túy
kết hợp với rửa tiền. Các nhóm vũ trang móc nối với bọn buôn lậu ma túy và
khủng bố quốc tế để sản xuất ma túy làm nguồn tài chính phục vụ ý đồ chính
trị và khủng bố quốc tế.
Năm 2006, Hiệp định AFTA về tự do hóa thương mại giữa các nước
ASEAN có hiệu lực, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO), đặc biệt là từ năm 2010, khi cộng đồng ASEAN xây dựng nhiều thiết
chế trong quan hệ kinh tế, thương mại, du lịch… con đường xuyên Á, hành
lang kinh tế Đông - Tây mở, việc đầu tư, liên doanh, liên kết sản xuất, buôn
bán, dịch vụ giữa các nước Đông Nam Á cùng các nước trên thế giới sẽ diễn
ra rất sôi động. Đây là thời cơ thuận lợi để tội phạm ma túy lợi dụng hoạt
động, làm gia tăng tình hình buôn bán và sử dụng ma túy ở trong nước.
Tệ nạn ma túy đang diễn biến phức tạp ở các nước trong khu vực nói
chung, ở Việt Nam nói riêng, hàng năm số người nghiện ma túy ở nước ta vẫn
1
tăng bình quân 11%. Tính đến hết năm 2006, toàn quốc có khoảng 140.000
người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý, tăng hơn 50% so với năm 2000. Song
song với những biện pháp quyết liệt chống tội phạm buôn bán ma túy, Nhà

thực sự tái hòa nhập cộng đồng và có cuộc sống yên ổn, trở thành người có
ích cho xã hội.
Để góp phần nhỏ bé vào yêu cầu chung đó, tôi chọn đề tài "Giải pháp
hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy ở nước ta hiện nay"
làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Quản lý kinh tế.
2. Tình hình nghiờn cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua, ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu
liên quan tới vấn đề này, dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể nêu một số đề
tài sau:
Nhóm đề tài về việc làm và giải quyết việc làm trong nền kinh tế thị
trường:
- Đề tài cấp nhà nước 70A.02.02 "Sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc
làm ở Việt Nam", Trần Đình Hoan, Lê Mạnh Khoa, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991.
- Đề tài cấp nhà nước KX-04-04: "Luận cứ khoa học cho chính sách
giải quyết việc làm ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần", của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Hà Nội, 1994.
- Đề tài cấp Nhà nước KX-07-05-05: "Những đặc trưng và xu hướng
biến đổi của cơ cấu xã hội nghề nghiệp nước ta trong giai đoạn hiện nay, dự
báo và kiến nghị", do Tiến sĩ Nguyễn Đình Tấn - Giám đốc Trung tâm Xã hội
học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm, 1995.
- Đề tài "Quản lý nhà nước về việc làm ở Hà Nội", Luận án tiến sĩ kinh
tế Trần Văn Tuấn, Hà Nội, 1995.
- "Thị trường sức lao động thực trạng và giải pháp" của Phó tiến sĩ
Nguyễn Quang Hiển, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1995.
3
- "Chiến lược việc làm và đào tạo nghề thời kỳ 2001 -2010" của Tiến sĩ
Nguyễn Hữu Dũng, Tạp chí Lao động xã hội, 2001.
- Đề tài "Phát triển thị trường sức lao động, giải quyết việc làm qua thực
tế ở Hà Nội", Luận án tiến sĩ kinh tế Đỗ Thị Xuân Phương, Hà Nội, 2005.
Nhóm đề tài về tổ chức cai nghiện, quản lý sau cai nghiện và tạo việc

về tác động tiêu cực của tệ nạn ma túy tới đời sống kinh tế - xã hội, sự cần
thiết phải tổ chức và quản lý sau cai nghiện ma túy và đề xuất giải pháp hỗ trợ
tạo việc làm cho những người sau cai nghiện ma túy ở nước ta trong giai đoạn
hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về ma túy, sử
dụng ma túy, cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; lý luận về
hỗ trợ tạo việc làm cho đối tượng sau cai nghiện, góp phần hạn chế và khắc
phục tác động tiêu cực của tệ nạn ma túy đối với kinh tế - xã hội.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai
nghiện ma túy ở nước ta.
- Xác định quan điểm và đề xuất các giải pháp hỗ trợ tạo việc làm cho
người sau cai nghiện ma túy ở nước ta hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố tác động tới tạo việc làm cho
người sau cai nghiện ma túy, trọng tâm là cách thức tổ chức quản lý, cơ chế,
chính sách của cơ quan quản lý nhà nước các cấp trong hỗ trợ tạo việc làm
cho người sau cai nghiện.
5
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: đề tài nghiên cứu về vấn đề hỗ trợ tạo việc làm cho những
người sau cai nghiện ma túy có hồ sơ quản lý sau cai nghiện trên phạm vi cả nước.
- Về thời gian: nghiên cứu thực trạng hỗ trợ tạo việc làm cho những
người sau cai nghiện ma túy từ năm 2001 đến năm 2007; đề xuất giải pháp
cho những năm tiếp theo.
- Về nội dung: tập trung nghiên cứu số liệu tổng hợp của các cơ quan
quản lý có liên quan về hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy
và tiến hành khảo sát các mô hình điểm ở một số địa phương trong cả nước.

của luận văn gồm 3 chương, 9 tiết.
7
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MA TÚY, VIỆC LÀM
VÀ HỖ TRỢ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI SAU CAI NGHIỆN MA
TÚY
1.1 . MA TÚY VÀ TÁC HẠI CỦA NGHIỆN MA TÚY ĐỐI VỚI KINH TẾ -
XÃ HỘI
1.1.1 . Một số khái niệm liên quan đến ma túy
* Ma túy
Thuật ngữ "ma túy" xuất hiện ở Việt Nam ban đầu có ý nghĩa là chỉ
thuốc phiện, về sau còn được hiểu là các cây cần sa, cô ca và các loại thuốc
tân dược gây nghiện khác. Có ý kiến giải thích thuật ngữ "ma túy" đó là vì các
chất này có tác dụng như ma thuật, ma quái. Nó chữa được một số bệnh có
hiệu quả cao và làm tăng hưng phấn hoặc ức chế thần kinh, đồng thời làm cho
con người mê mẩn, ngây ngất và túy lúy. Và như vậy, thuật ngữ "ma túy"
được ghép từ các từ ma thuật, ma quái và túy lúy.
Chương trình kiểm soát ma túy quốc tế của Liên hợp quốc (UNDCP)
năm 1991 đã xác định: "Ma túy là những chất độc có tính gây nghiện, có
nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo khi xâm nhập và cơ thể con người thì có tác
dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, làm cho con người bị lệ thuộc
vào chúng gây nên những tổn thương cho từng cá nhân và cộng đồng" [67];
theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), "Ma túy là bất kỳ chất gì mà khi đưa vào cơ
thể sống có thể làm thay đổi một hay nhiều chức năng sinh lý của cơ thể" [67].
Từ các quan niệm nêu trên, có thể nêu khái niệm như sau: ma túy là
những chất có nguồn gốc từ tự nhiên hay nhân tạo và khi dùng không được
8
chỉ dẫn có thể gây nghiện, làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của con người
cũng như sự ổn định và phát triển của cộng đồng.
* Nghiện ma túy

* Cai nghiện ma túy
Đó là biện pháp giúp người nghiện ma túy thông qua chữa trị để từ bỏ
ma túy, phục hồi sức khỏe tinh thần và tái hòa nhập cộng đồng. Thực chất
"cai nghiện ma túy" là quá trình giải quyết sự rối loạn ba yếu tố của người
nghiện (trạng thái sinh lý, tâm lý, nhận thức và hành vi).
Liên hợp quốc đưa ra định nghĩa: cai nghiện là một biện pháp tổng hợp
gồm các tác động về y học, pháp luật, giáo dục học, đạo đức… nhằm điều trị
giúp người nghiện ma túy cắt các hội chứng cai nghiện, phục hồi sức khỏe và
tái hòa nhập xã hội.
* Tái nghiện ma túy
Quá trình nghiện ma túy đã tạo cho người nghiện luôn có phản xạ nhạy
cảm với ma túy, nên dù đã cắt cơn nhưng có thể sau 4 - 5 năm, hễ cứ nhìn
thấy ma túy, ngửi hơi ma túy, tiếp xúc với người nghiện, thậm chí nói đến tên
loại ma túy quen dùng, là cơn thèm khát ma túy lại bùng lên dữ dội, khó có
thể kiềm hãm được. Vì vậy, khi ra khỏi các trung tâm cai nghiện, người cai
trở lại sống với gia đình và cộng đồng, chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của môi
trường xã hội còn chưa trong sạch ma túy dẫn đến khả năng tái sử dụng ma
túy là rất cao. Việc tái sử dụng ma túy chính là tái nghiện ma túy và theo
PGS,TS Nguyễn Xuân Yêm thì:
Tái nghiện được hiểu là một đối tượng nghiện ma túy đã được
gia đình, chính quyền, các đoàn thể tại địa phương giúp đỡ, giáo dục,
chữa trị cai nghiện để trở lại cuộc sống bình thường trong xã hội. Thế
nhưng vì một lý do nào đó họ đã không kiềm chế được những ham
10
muốn cá nhân, những suy nghĩ lệch lạc nên lại tiếp tục sử dụng các
loại chất ma túy, người ta gọi trường hợp này là tái nghiện [70].
Ranh giới giữa tái sử dụng ma túy (tái nghiện) và dứt khoát đoạn tuyệt
với ma túy là rất mong manh. Chính vì vậy, công việc phòng, chống tái
nghiện khi người cai hòa nhập cộng đồng là một việc làm tất yếu phải được
thực hiện.

Ma túy mang lại những món siêu lợi nhuận cho người buôn bán nó.
Chính vì vậy, đã có rất nhiều kẻ bất chấp luật pháp, đạo đức để lao vào phạm
tội buôn bán ma túy. Lực hút của đồng tiền từ buôn bán ma túy đã khiến cho
nhiều kẻ không cần để ý đến những hình phạt cao nhất mà luật pháp quốc tế
cũng như luật pháp của mỗi nước dành cho tội phạm về ma tuý. Lợi dụng
điểm yếu là sự lệ thuộc vào ma túy của những người nghiện ma túy vẫn chưa
hết khi họ từ trung tâm cai nghiện trở về tái hòa nhập cộng đồng nên bọn
buôn bán ma túy tìm mọi cách rủ rê, lôi kéo để người nghiện sau cai phải tái
sử dụng ma túy, với hình thức ban đầu là cho không thuốc nhưng khi đã
nghiện lại thì chúng bắt phải mua hoặc phải giúp chúng tiêu thụ ma túy.
 Nguyên nhân tái nghiện
Nguyên nhân chủ quan từ bản thân người nghiện.
Tái nghiện có xảy ra hay không xảy ra được quyết định trực tiếp, cuối
cùng bởi người nghiện sau cai. Tại sao những người đã có hiểu biết về tác hại
của ma túy qua quá trình trải nghiệm của bản thân, qua sự giáo dục, tư vấn tại
các trung tâm lại dễ dàng nghiện trở lại các chất ma túy? Nguyên nhân thuộc
về người nghiện bao gồm:
+ Bị lệ thuộc về tâm lý vào các chất ma túy:
Quá trình nghiện ngập trước khi đi cai ở các trung tâm đã gây ra sự rối
loạn cho người nghiện ma túy cả về thể chất cho đến nhận thức, hành vi, hay
12
chính là mất cân bằng cả về thể chất và tinh thần. Cai nghiện ma túy giúp cho
người nghiện từ bỏ được hội chứng cai, loại bỏ một phần sự mất cân bằng chứ
không xóa được sự lệ thuộc về tâm lý, ý thức. Hành vi sử dụng lại các chất
ma túy là biểu hiện rõ ràng nhất sự lệ thuộc đó, nó giống như một phương
thức mà người nghiện tìm đến để xóa đi trạng thái mất cân bằng. Sau khi cai,
cách suy nghĩ, hành vi của người nghiện vẫn còn bị ảnh hưởng rất đậm nét
bởi ma túy. Theo nhận định của hội đồng chuyên viên về lạm dụng ma túy của
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì:
Sự lệ thuộc vào chất ma túy trước hết và chủ yếu là sự lệ

Cũng về nguyên nhân tò mò dẫn đến sử dụng ma túy, Báo cáo tình hình
lạm dụng ma túy ở Việt Nam của UNDCP có đề cập: tò mò và xã giao chơi
bời là hai nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sử dụng ma túy (60%).
Những con số đó lưu ý chúng ta về các giải pháp phòng chống tái
nghiện ma túy, phải làm cho người nghiện sau cai có đủ tự tin, nghị lực và
hiểu biết để vượt qua sự thèm nhớ, tò mò muốn sử dụng lại ma túy.
* Người nghiện không đủ can đảm và nghị lực để đoạn tuyệt với sự lôi
kéo của những bạn bè xấu. Với những thói quen cũ, người nghiện vẫn tiếp tục
giao du với những bạn bè trước đây và đa số những người bạn này là những
người có nhu cầu và thói quen giống người nghiện. Vì thế mà nguy cơ tái
nghiện ma túy bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra với người sau cai.
Nguyên nhân khách quan
* Do bạn bè rủ rê
Các đối tượng nghiện nhưng chưa cai nghiện hoặc người đã tái nghiện
trước, những người buôn bán các chất ma túy luôn tìm cách lôi kéo, rủ rê để
người cai nghiện trở lại sử dụng ma túy và trở thành tái nghiện. Báo cáo kết
quả điều tra người nghiện ma túy năm 2001 đã làm rõ: bị rủ rê là nguyên nhân
14
chính dẫn tới nghiện ma túy của các đối tượng (63,5%) [15]. Tái nghiện vì
nguyên nhân này lại cao là do bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ
xã hội, trong đó có quan hệ bạn bè. Bạn bè đóng vai trò rất lớn trong cuộc
sống của mỗi cá nhân. Hành động của mỗi cá nhân dù tốt hay xấu đều tìm
thấy dấu ấn của những người bạn anh ta. Hành vi sử dụng trở lại các chất ma
túy không nằm ngoài nhận xét đó. Sau khi được cai nghiện, trở về với cộng
đồng, mọi cái dường như đều trở nên mới lạ, gần gũi nhất với người sau cai
lúc này là gia đình và bạn bè của họ. Bạn bè của người nghiện chủ yếu là bạn
tiêm chích cũ, có người đã cai nghiện, có người chưa cai, có người tái nghiện.
Sự tiếp xúc, giao lưu với những người bạn nghiện cũ khiến họ gợi nhớ những
cảm giác do ma túy đem đến. Trong hoàn cảnh đó, nếu một người bạn của
người đã cai sử dụng ma túy, "khoe" ma túy hay mời chào sử dụng ma túy…

đồng hoặc từ các trung tâm cai nghiện trở về, người nghiện hầu như chẳng
còn gì ngoài hai bàn tay trắng. Trong thời gian nghiện hút, họ bán hoặc cầm
cố tất cả những gì mình có. Sức khỏe người nghiện sau nhiều năm nghiện hút,
chích, mắc nhiều bệnh, bây giờ họ phải chịu thêm sự hành hạ của các bệnh
mới khi ngừng sử dụng ma túy nên sức khỏe suy sụp khó có thể có được việc
làm có thu nhập đảm bảo cho cuộc sống bản thân và gia đình. Người nghiện
thường kêu ca buồn chán khi ở nhà vì không có việc làm, mệt mỏi, ăn không
ngon, ngủ không đẫy giấc. Khi không có việc làm ổn định hoặc thu nhập thấp
không đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình thì con người ta trở nên
chán chường, bi quan và rất dễ sa vào tái nghiện. Không có việc làm dẫn đến
một mặt là người nghiện có nhiều thời gian rỗi, có cơ hội giao du với những
người bạn cũ, mặt khác, làm tăng thêm tính lười nhác của người nghiện, giảm
quyết tâm cai nghiện ma túy.
16
Những người nghiện sau khi được cai trở về với cộng đồng trong tình
trạng không có việc làm rất dễ trở lại với ma túy. "Nhàn cư vi bất thiện", vì
thất nghiệp, người nghiện lang bạt "nay đây mai đó", trở lại những điểm tiêm
chích xưa, gặp bạn nghiện cũ, thấy những hình ảnh hết sức quen thuộc làm
cho cảm giác thèm muốn trào dâng…Tái nghiện chỉ còn là ngày một ngày
hai.
Việc làm là một nhân tố khá quan trọng cho người nghiện tái hòa nhập
cộng đồng và đoạn tuyệt với ma túy. "Kết quả điều tra khảo sát người nghiện
cho thấy nguyên nhân tái nghiện tập trung cao nhất vào lý do người nghiện
sau cai không có việc làm nên tái nghiện (chiếm 39,4%), sau đó là không có
sự quản lý, hỗ trợ (chiếm 21,7%), còn lại tập trung vào hai nguyên nhân khác:
do mua ma túy ngoài thị trường quá dễ (chiếm 20,7%) và bị kỳ thị bởi cộng
đồng (chiếm 17,2%) [66].
Nguyên nhân dẫn tới người nghiện sau cai không tìm được việc làm,
trước hết là do họ bị hạn chế về mặt thể chất và cả tâm lý. Mặc dù được điều
trị tại các trung tâm, song sự suy yếu về sức khỏe, biến đổi về hình thức,

* Tác hại về kinh tế
- Đối với bản thân người nghiện: Nghiện và tái nghiện ma túy gây ảnh
hưởng nặng nề đến sức khỏe của người nghiện, khiến họ bị suy giảm mạnh
mẽ khả năng lao động sản xuất, tuy không làm ra của cải vật chất hoặc làm ra
ít nhưng tiền tiêu dùng cho ma túy luôn được họ khai thác từ gia đình hoặc
thông qua những hành vi phạm tội.
- Đối với gia đình người nghiện: Nghiện ma túy và tái nghiện ma túy
khiến gia đình người nghiện bị điêu đứng về kinh tế: người nghiện lần lượt
đem tiền bạc, của cải trong gia đình đi đổi lấy ma túy, đẩy đời sống gia đình
đi vào đổ vỡ, mâu thuẫn, xung đột sâu sắc và bần cùng.
18
- Đối với nền kinh tế của đất nước: Ma túy gây ảnh hưởng nặng nề đến
nền kinh tế của đất nước. Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội thì đến cuối năm 2006 cả nước có khoảng 140.000 người nghiện có hồ
sơ quản lý, nếu trung bình một ngày người nghiện dùng hai tép heroin (mỗi tép
giá 50.000 đ) thì một năm tổng số người nghiện đã tiêu tốn khoảng 5.110 tỷ
đồng. Khi số lượng người nghiện trên tái nghiện thì số tiền tiêu phí sẽ lớn hơn
rất nhiều. Ngoài ra, hàng năm ngân sách nhà nước phải chi hàng trăm tỷ đồng
cho công tác cai nghiện phục hồi, phòng chống tái nghiện, trả lương cho đội
ngũ cán bộ làm công tác phòng chống tệ nạn ma túy, chưa kể tiền của gia đình
người nghiện đóng góp. Thêm vào đó, nghiện và tái nghiện ma túy làm tổn
thất một nguồn nhân lực rất lớn cho phát triển kinh tế vì đại đa số người
nghiện, tái nghiện đều trong độ tuổi lao động và còn rất trẻ. Như vậy, thiệt hại
về kinh tế do tái nghiện ma túy gây ra không chỉ dừng lại ở các con số kể trên.
* Tác hại đối với xã hội:
Nghiện ma túy gắn liền với bệnh tật, nghiện ma túy đồng nghĩa là thân
tàn ma dại, sức khỏe bị suy kiệt, người nghiện chỉ có tuổi thọ trung bình là 40
tuổi, trong khi tuổi thọ bình quân của người bình thường là 75 tuổi. Vì thế sẽ
là lãng phí nguồn nhân lực, sức lực lớn của cả xã hội, nếu như không tổ chức
cai nghiện, hỗ trợ tạo việc làm giúp người sau cai nghiện tái hòa nhập cộng

con người với những chỗ làm việc cụ thể, là những giới hạn xã hội cần thiết
trong đó lao động diễn ra, đồng thời nó là điều kiện cần thiết để thỏa mãn nhu
cầu xã hội về lao động, là nội dung chính của hoạt động con người. Về giác
độ kinh tế, việc làm thể hiện mối tương quan giữa sức lao động và tư liệu sản
xuất, giữa yếu tố con người và yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất. Việc
làm gắn với quá trình tăng thu nhập, giảm sự nghèo khổ của người lao động,
đồng thời không đi ngược lại với lợi ích cộng đồng mà pháp luật quy định.
Nói cách khác, việc làm là những công việc, là những hoạt động có ích,
20
không bị pháp luật cấm và mang lại thu nhập cho bản thân hoặc tạo điều kiện
để tăng thu nhập cho các thành viên trong gia đình, đồng thời góp phần cho xã
hội.
Hiến pháp 1992, chương V đã quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân, trong đó có quyền được làm việc: "Lao động là quyền và nghĩa
vụ của công dân. Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc
làm cho người lao động" (Điều 55) [48].
Bộ luật Lao động đầu tiên của Việt Nam được Quốc hội khóa IX thông
qua đã khẳng định ở đoạn 1 Điều 13, chương II, việc làm "là mọi hoạt động
lao động sáng tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm" [47].
Như vậy, theo khái niệm trên có hai yếu tố là thu nhập và không bị
pháp luật cấm là hai điều kiện cần và đủ để được thừa nhận là việc làm. Ý
nghĩa luật pháp - xã hội của khái niệm này là ở chỗ nó xóa bỏ sự phân biệt đối
xử lao động giữa các thành phần kinh tế, động viên mọi tổ chức, cá nhân tạo
việc làm cho người lao động. Đồng thời cũng thể hiện đặc trưng của Nhà
nước pháp quyền, khuyến khích mọi người làm những việc không bị pháp
luật cấm.
* Việc làm là vấn đề vừa mang ý nghĩa kinh tế vừa là vấn đề xã hội, chính trị
Về mặt kinh tế, vấn đề việc làm gắn liền với vấn đề sản xuất. Hiệu quả
của việc giải quyết tốt vấn đề việc làm cũng chính là hiệu quả của sản xuất.
Giải quyết tốt được vấn đề việc làm thì mới đảm bảo được sản xuất phát triển,

* Tạo việc làm trong nền kinh tế thị trường
Tạo việc làm là một quá trình tạo ra môi trường cho người lao động và
hình thành các chỗ làm việc, sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm
việc để có các việc làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động
22
và người sử dụng lao động, đồng thời đáp ứng được mục tiêu phát triển đất
nước.
Với khái niệm trên, tạo việc làm không chỉ là nhiệm vụ chức năng của
nhà nước mà còn là trách nhiệm của xã hội, của các cơ quan doanh nghiệp và
ngay bản thân người lao động. Hiện nay, các chính sách của Nhà nước luôn
quan tâm chú trọng đến tạo việc làm cho người lao động thông qua các văn
bản quy phạm pháp luật, các chương trình, chính sách hỗ trợ tới tận hộ gia đình,
các cá nhân sẵn sàng làm việc. Chính vì vậy, chính sách Nhà nước là một trong
những tác động quan trọng rất mạnh đến việc làm của người lao động như
khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất như giảm thuế tiền sử dụng
đất, thuê nhà xưởng, văn phòng, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng điện đường, trường
trạm nhằm phục vụ cho các công trình sản xuất. Bên cạnh đó, các chương
trình, chiến lược phát triển, các hoạt động cụ thể của các doanh nghiệp cũng tác
động trực tiếp đến giải quyết việc làm cho người lao động như đào tạo nguồn lao
động, tuyển dụng, bố trí, sắp xếp lao động phù hợp năng lực và yêu cầu...
Tạo việc làm có nghĩa là tạo thêm được việc làm mới cho người lao
động, mang tính chất là người lao động đang không có việc làm nay có việc
làm, hoặc có việc làm không ổn định nay có việc làm ổn định, lâu dài. Như
vậy, tạo việc làm là tạo thêm việc làm mới từ các cơ chế chính sách của Nhà
nước cũng như việc tuyển dụng thêm lao động của các doanh nghiệp.
Ngoài ra tạo việc làm là sự hình thành môi trường thuận lợi nhằm kết
hợp các yếu tố sức lao động và tư liệu sản xuất, thông qua cơ chế chính sách
khuyến khích thu hút của Nhà nước, thông qua sự hoạt động đầu tư của nhà
sản xuất nhằm tạo thêm nơi làm việc mà người lao động có thể dùng sức lao
động của mình sản xuất thêm nhiều của cải cho xã hội.

24
- Bổ sung, sửa đổi một số chính sách cụ thể khuyến khích các lĩnh vực,
các doanh nghiệp, các hộ gia đình và các cá nhân tạo việc làm mới, thu hút
người lao động…
Từ năm 1998, Chương trình quốc gia giải quyết việc làm (Quyết định
126/1998/QĐ-TTg ngày 11/7/1998) ra đời với mục tiêu mỗi năm tạo 1,3 - 1,4
triệu chỗ làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị xuống 5% và nâng tỷ lệ sử
dụng lao động nông thôn lên 75% vào năm 2000.
Tiếp tục chính sách về vấn đề việc làm, Chương trình mục tiêu quốc gia
xóa đói, giảm nghèo và việc làm, ban hành kèm theo Quyết định
143/2001/QĐ-TTg ngày 27/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ đã đề ra mục
tiêu mỗi năm giải quyết việc làm cho 1,4 đến 1,5 triệu lao động, giảm tỷ lệ
thất nghiệp ở thành thị xuống dưới 6% và nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao
động ở nông thôn lên trên 80%. Trong lĩnh vực việc làm, Chương trình tập
trung giải quyết những vấn đề cơ bản sau:
- Phát triển kinh tế, tạo mở việc làm, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu
ngành nghề, cơ cấu lao động trong nông thôn. Trong công nghiệp, vừa phát
triển các ngành có khả năng sử dụng nhiều lao động, vừa phát triển các ngành
sử dụng lao động có trình độ cao.
- Đẩy mạnh xuất khẩu lao động và chuyên gia.
- Tập trung hỗ trợ người thất nghiệp, người thiếu việc làm và các đối
tượng yếu thế vay vốn với lãi suất ưu đãi để tạo việc làm.
1.2.2. Hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện
1.2.2.1. Vai trò của Nhà nước trong hỗ trợ tạo việc làm cho người sau
cai nghiện
Nhà nước là cơ quan quyền lực tối cao, có vai trò đầu não trong tổ chức
các hoạt động liên quan đến công tác phòng, chống ma túy, cụ thể trong hỗ
25

Trích đoạn Định hướng hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy Phát triển kinh tế xã hội, tạo mở việc làm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status