THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC QUẢN LÝ DẠY NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI SAU CAI NGHIỆN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - Pdf 69

THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC QUẢN LÝ DẠY NGHỀ VÀ
TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI SAU CAI NGHIỆN TẠI THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
1. Sự cần thiết tổ chức quản lý, dạy nghề và tạo việc làm cho người sau cai
nghiện.
1.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh.
1.1.1. Đặc điểm kinh tế:
Thành phố Hồ Chí Minh với số dân trên 7 triệu người và phần diện tích lên
tới trên 2600km2, bao gồm 19 quận và 5 huyện, rất thuận lợi cho việc phát triển
kinh tế. Bởi vậy, TP.HCM là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, với sự tốc độ
tăng trưởng kinh tế dẫn đầu, đạt trên 12%.
Thành phố chính là hạt nhân kinh tế trọng điểm phía nam, đóng góp GDP
là 66,1% vào tổng GDP của vùng Nam Bộ. Đây cũng là nơi thu hút vốn đầu tư
nước ngoài mạnh nhất cả nước, số dự án đầu tư chiếm khoảng 1/3 tổng số dự án
nước ngoài trên cả nước.
Bên cạnh đó, Thành phố cũng đạt tổng thu ngân sách lớn nhất cả nước mặc
dù gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, TP. HCM cũng là thành phố cảng lớn nhất cả
nước, là trung tâm xuất nhập khẩu. Kim ngạch xuất nhập khẩu ngày càng chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch của cả nước. Đến nay, kim ngạch xuất nhập
khẩu trên địa bàn thành phố đạt 14,2 tỷ USD, tăng 25%. TP. HCM cũng là trung
tâm tài chính, ngân hàng lớn nhất cả nước, dẫn đầu về số lượng ngân hàng và
doanh số quan hệ tài chính tín dụng. Doanh thu của hệ thống ngân hàng Thành
phố chiếm 1/3 tổng doanh thu các ngân hàng trên toàn quốc. Về thị trường
chứng khoán, đã có trên 50 công ty được niêm yết hoạt động, tổng số vốn cổ
phần niêm yết trên 2000 tỷ đồng.
Trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập, TP. HCM luôn tỏ ra là một
trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, dịch vụ lớn nhất cả nước. Là động lực
cho công cuộc công phát triển kinh tế xã hội ở Nam Bộ và phục vụ công cuộc
công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
1.1.2. Đặc điểm xã hội:
Song song với sự phát triển mạnh mẽ về mặt kinh tế, tình hình xã hội nói

nghiện hút trong lứa tuổi từ 18 – 25 là 52% và từ 26 – 35 chiếm 37,75% …
Về trình độ học vấn, tuyệt đại đa số người nghiện có trình độ học vấn rất
thấp. Tỷ lệ người mù chữ chiếm khoảng 13%; số người mới học bậc tiểu học từ
lớp 1 đến lớp 5, trong đó không ít người đã tái mù chiếm khoảng 23,6%. Số
người học bậc trung học cơ sở chiếm tỷ lệ 43%, trong đó có khoảng 10 – 12%
đã học hết cấp nhưng không có chứng chỉ như học bạ, giấy chứng nhận khẳng
định họ đã học bậc học này. Chỉ có 18,7% học viên cai nghiện khai đang học
trung học phổ thông. Rất ít người tốt nghiệp tú tài. Tóm lại, có khoản 70% số
người cai nghiện tập trung không đủ trình độ học vấn tối thiểu để theo học một
nghề kỹ thuật.
Về trình độ nghề nghiệp, có tới 43% tổng số người nghiện không có một
nghề kiếm sống khi vào trung tâm. Có khoảng 35% tổng số người cai nghiện là
lao động phổ thông, chưa từng được đào tạo một ngành nghề cơ bản nào. Số
người cai nghiện từng là công nhân viên chức chiếm khoảng 1,6% và 9,2% là
học sinh, sinh viên.
Bên cạnh đó, rất đông trong số này chuyên đi trộm cắp cướp giật. Khoảng
38% số con nghiện có tiền án, tiền sự, và hàng năm, số người chết vài nghiện
ma túy ngày một tăng.
Tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, tiêu cực của đời sống xã hội nảy
sinh, sự gia tăng tệ nạn nghiện ma túy tạo nên nhiều bất an cho đời sống người
dân.
- Tệ nạn tiêm chích ma túy, mại dâm bùng nổ, mỗi năm xảy ra hơn 16000 vụ
phạm pháp hình sự, trong đó tỷ lệ phạm tội ở lứa tuổi thanh thiếu niên nghiện
ma túy ngày càng tăng.
- Số đối tượng cai nghiện tại cộng đồng và các cơ sở chữa bệnh với thời gian 3 –
6 – 12 tháng, sau đó hồi gia hầu hết đã tái nghiện với tỷ lệ 95 – 97%, cùng với
số lượng người nghiện ma túy gia tăng, tỷ lệ lây nhiễm HIV/AIDS tăng cao.
1.2.2. Hạn chế công tác cai nghiện phục hồi đến năm 2002.
Tình hình tội phạm ma túy diễn ra phức tạp như trên, Thành phố đã tổ chức
nhiều chương trình và các hoạt động khác nhau nhằm đấu tranh chống tệ nạn xã

sau cai nghiện nên khi trở lại cộng đồng dễ bị tái nghiện.
- Công tác quản lý người sau cai nghiện chưa chặt chẽ, đối tượng không có
việc làm ổn định cuộc sống nên quay trở lại với ma túy.
2. Cơ sở pháp lý của công tác tổ chức, quản lý, dạy nghề và tạo việc làm cho
người sau cai nghiện tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Xuất phát từ thực tế trên, theo tờ trình của Chính phủ, tại kỳ họp 3, Quốc
hội khoá 11 đã thông qua Nghị Quyết số 16/2003/QH11 (gọi tắt là NQ 16) “Về
thực hiện thí điểm về tổ chức quản lý, dạy nghề và tạo việc làm cho người sau
cai nghiện ma tuý ở TPHCM và một số tỉnh, thành phố khác trực thuộc Trung
ương”.
Nghị quyết 16 đề cập đến các nội dung chủ yếu sau:
- Giao Chính phủ chỉ đạo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh và một số tỉnh thành phố khác trực thuộc Trung Ương thực hiện
thí điểm tổ chức quản lý, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai
nghiện ma túy, chuẩn bị các điều cần thiết để tái hòa nhập cộng đồng.
- Quy định các đối tượng được áp dụng các biện pháp tổ chức quản lý, dạy
nghề và giải quyết việc làm.
- Thời gian áp dụng là từ 1 – 2 năm, trường hợp cần thiết có thể kéo dài
nhưng không quá 3 năm
- Chính phủ xem xét phê duyệt Đề án tổ chức quản lý, dạy nghề và tạo việc
làm của Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh thành phố khác trực thuộc
Trung ương. Trong đó cũng quy định cụ thể sự phối hợp thực hiện của các bộ,
ngành và các đơn vị liên quan.
2.1. Sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các bộ ngành trong việc thực
hiện NQ16
Để thực hiện tốt NQ16, Đảng và Nhà nước tiếp tục quan tâm, tăng cường
việc chỉ đạo thông qua việc ban hành các văn bán pháp luật như sau:
a - Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 146/2004/NĐ-CP ngày
17/4/2004 quy định thủ tục, thẩm quyền quyết định đưa người vào cơ sở quản
lý, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện ma túy. Nghị định

cai nghiện ma túy”
d - Thông tư liên tịch số 13/2007/TTLT – BLĐTBXH – BNV – BTC ngày
28/8/2007 giữa Bộ Lao động – Thương binh xã hội, Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính
hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp đối với cán bộ, viên chức làm việc tại các
cơ sở quản lý người nghiện ma túy, người bán dâm và người sau cai nghiện ma
túy.
e - Thông tư số 05/2007/ TT- BTC ngày 18/01/2007 của Bộ Tài chính về
một số nội dung của Quyết định số 212/2006 ở trên về tín dụng đối với các cơ
sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ và doanh nghiệp sử dụng lao động là người sau
cai nghiện.
2.2. Sự quan tâm, kiểm tra giám sát thực hiện của Ủy ban nhân dân
Thành phố.
Thành phố đã xây dựng và ban hành 23 văn bản hướng dẫn cụ viểc triển
khai thực hiện NQ16 cũng như các quy chế về công tác quản lý, dạy nghề và
giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện. Ngoài ra, ban hành các chế độ,
chính sách chăm lo cán bộ, nhân viên, và thu hút các doanh nghiệp đầu tư dạy
nghề, giải quyết việc làm cho các đối tượng sau cai tại các trung tâm; giải quyết
tái hòa nhập cộng đồng, và ban hành quy định quản lý, giúp đỡ người tái hòa
nhập tại địa phương. Nghiên cứu soạn thảo tài liệu, giáo trình để giảng dạy, giáo
dục cho học viên như: Giáo dục ý thức pháp luật, đạo đức truyền thông, lý
tưởng cho thanh niên, giáo dục sức khỏe, thể chất, tinh thần; tài liệu tập huấn
cho cán bộ, kỹ năng tư vấn người nghiện và gia đình…
Như vậy, trong 4 năm qua, TP. HCM đã có được một hệ thống các văn bản
khá hoàn thiện, đồng bộ để thực hiện, thể chế hóa NQ16 của Quốc hội đồng thời
hướng dẫn việc triển khai các Nghị định, Quyết định của Chính phủ và Thủ
tướng chính phủ.
Thêm vào đó, để đảm bảo cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác chữa trị,
giáo dục dạy nghề và giải quyết việc làm cho học viên và người sau cai nghiện,
Thành phố đã đầu tư nâng cấp và xây mới 20 trung tâm cùng với đầu tư thêm cơ
sở hạ tâng kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ công tác giáo dục và dạy nghề. Tại

Bảng 1: Số đối tượng tiếp nhận vào các trung tâm
Đơn vị: người
Đến 7/2004 Đến 6/2005 Đến 10/2006
Số đối tượng sau cai vào
trung tâm
7.700 14.187 16.812
Có thể thấy, số đối tượng được tiếp nhận vào các trung tâm tăng lên rất
nhanh sau khi Nghị quyết số 16 của Quốc hội ban hành. Chỉ trong vòng nửa
năm đầu 2004, số đối tượng được đưa vào trung tâm là khoảng 7.700 người, và
một năm sau cũng là khoảng 6.500 người, nhưng trong khi đó, từ tháng 6/2005
đến tháng 10/2006( trong vòng 16 tháng), chỉ có 2.600 đối tượng được đưa vào
các trung tâm. Điều này chứng tỏ rằng số lượng này sẽ còn tiếp tục giảm do số
đối tượng tái nghiện và số lượng người nghiện mới thấp dần.
Qua 3 năm số đối tượng vào các trung tâm lên đến hơn 16.800 người, trong
khi số ra khỏi trung tâm mới chỉ hơn 9.400 người. Tính đến giữa năm 2007, số
đối tượng sau cai nghiện đang chịu tập trung quản lý ở các trung tâm là trên
10.000 người. Bởi vậy, trong những năm tiếp theo, khi các đối tượng kết thúc
giai đoạn tập trung ở các trung tâm thì số đối tượng hòa nhập cộng đồng sẽ tăng
lên rất nhanh, đây là một áp lực rất lớn đối với công tác tăng cường quản lý
người sau cai nghiện ở các cấp chính quyền địa phương.
Các đối tượng rất đa dạng và có những đặc điểm khác nhau, nhưng khi tiếp
nhận, các trung tâm chỉ phân bổ theo hai đặc tính là phân khu nam nữ và theo
thời hạn vào.
Các đối tượng được bố trí nơi ở gọn gàng, sạch sẽ, thoáng mát, các phòng
được trang bị đầu máy video. Bình quân diện tích, ở mỗi đối tượng được hưởng
3-4m2, mỗi phòng lớn lớn được kết nối với phòng nhỏ của cán bộ để tiện cho
công tác quản lý, giám sát. Qua khảo sát cho thấy, không có trung tâm nào ở
tình trạng kém, chỉ có 1 trung tâm ở mức trung bình, còn lại 3 trung tâm ở điều
kiện tốt.
Tổ chức bếp ăn tập thể và vệ sinh thực phẩm tꦾong các trung tâm được

có trình độ trung học chuyên nghiệp hoặc bằng dài hạn trở lên, đã có chứng chỉ nghề
ngắn hạn, do sức khỏe yếu, và một số ít học viên không thấy phù hợp.
Hiện nay số nghề đào tạo trong các trung tâm có 5- 6 nghề, khóa đào tạo
chủ yếu từ 2-3 tháng đối với các nghề kỹ thuật. Phần lớn các học viên được đào
tạo dưới hình thức kèm cặp đối với các công việc không đòi hỏi trình độ kỹ
thuật cao. Vì vậy kế hoạch đào tạo nghề dài hạn là khó thực hiện. Các trung tâm
chỉ đứng ra tổ chức và quản lý công tác dạy nghề, việc giảng dạy được ký kết
với các cơ sở dạy nghề ở ngoài nhằm đa dạng hóa về các nghề khác nhau, đáp
ứng một phần nhu cầu rất khác nhau của các đối tượng. Nhìn chung các đối
tượng được dạy nghề đánh giá cao hiệu quả của công tác học nghề tại trung tâm.
Ngoài ra, có một xu hướng trong dạy nghề ngắn hạn đó là các trung tâm
thường dạy cho học viên những nghề đơn giản để đáp ứng các hợp đồng gia
công ký kết với các doanh nghiệp như may, thêu, đan, chế biến hạt điều…Sau
khi kết thúc giai đoạn quản lý tập trung thì làm việc tại các cụm công nghiệp là
không mấy khó khăn nhưng nếu hồi gia thì sẽ không phù hợp về công việc. Bởi
vậy 50% số đối tượng đánh giá công tác học nghề tại trung tâm chưa đạt hiệu
quả.
Taị mỗi trung tâm, tùy theo đặc thù thường có từ 1- 2 nghề chính về may
công nghiệp hoặc mộc và cơ điện sửa chữa… Giáo viên dạy nghề tại trung tâm
quản lý sau cai nghiện được thực hiện ký kết hợp đồng với các trung tâm dạy
nghề của các quận thuộc TP. HCM. Một số nghề còn lại thường được tổ chức tại
các xưởng sản xuất của các công ty hợp tác đầu tư xây dựng ở trong khuôn viên
của trung tâm.
Một số bất cập trong công tác quản lý dạy nghề cho các đối tượng cần
được giải quyết như:
- Sức khỏe yếu, tâm lý người sau cai nghiện không tập trung.
- Khó có thể đầu tư nhiều xưởng cho các loại nghề để đào tạo theo nhu
cầu học viên và nhu cầu của thị trường. Các lớp chuyên ngành không đủ hoặc
không có giáo viên giảng dạy lớp lý thuyết kết hợp thực hành.
- Chưa có khả năng đào tạo nghề dài hạn vì khả năng đầu tư trang thiết bị

trung tâm cai nghiện tập trung là công việc giản đơn, nhàm chán, quản lý cả lao
động lẫn công việc chưa thấu đáo, chưa đúng phương pháp…nên thu nhập bình
quân rất thấp.
Số liệu thống kê thu nhập bình quân của lao động trong các cơ sở sản xuất
tại các trung tâm cai nghiện cho thấy chỉ riêng nghề may mang tính phổ thông,
chứa ít nhiều yếu tố kỹ thuật thì thu nhập bình quân tại các cơ sở sản xuất trong
trung tâm cai nghiện chỉ đạt khoảng 170.000đồng/người/


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status