HỌC VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THANH TRANG
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT TỪ THỰC TIỄN
TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TRẺ EM THIỆT THÒI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HÀ THỊ THƯ
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc
sĩ Công tác xã hội về “Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ có hoàn cảnh đặc biệt
từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội trẻ em thiệt thòi Thành phố Hồ Chí Minh”
là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh
vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LĐ – TB&XH
Lao động - Thương binh và Xã hội
TECHCĐB
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
TTBTXHTETT
Trung tâm Bảo trợ xã hội trẻ em thiệt thòi
DVCTXH
Dịch vụ công tác xã hội
CNCF
Christina Noble Children's Foundation
Hiệp hội trẻ em Christina Noble
CTXH
Công tác xã hội
NVCTXH
Dịch vụ chăm sóc nuôi dưỡng
DVTL
Dịch vụ tâm lý
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1: Đánh giá dịch vụ chăm sóc nuôi dưỡng .............................................. 34
Bảng 2.2: Vai trò của nhà quản lý, nhân viên chăm sóc nuôi dưỡng và nhân viên
xã hội ................................................................................................................... 36
Bảng 2.3: Đánh giá hiệu quả trong điều trị .......................................................... 40
Bảng 2.4: Đánh giá về đội ngũ nhân viên y tế ..................................................... 41
Bảng 2.5: Đánh giá sự hài lòng của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tiếp cận dịch vụ
phòng khám. ........................................................................................................ 42
Bảng 2.6: Đánh giá dịch vụ hỗ trợ giáo dục mầm non ........................................ 47
Bảng 2.7: Đánh giá về dịch vụ hỗ trợ giáo dục phổ cập ...................................... 51
Bảng 2.8: Số học sinh phổ cập tham gia các dịch vụ khác .................................. 53
Bảng 2.9: Nhận xét vai trò của nhân viên xã hội trong dịch vụ hỗ trợ giáo dục..53
Bảng 2.10: Đánh giá về dịch vụ hỗ trợ tâm lý ..................................................... 56
Bảng 2.11. Đánh giá về yếu tố đặc điểm đối tượng ảnh hưởng đến dịch vụ công
tác xã hội ............................................................................................................. 59
Bảng 2.12: Đánh giá yếu tố năng lực, kỹ năng của nhân viên ảnh hưởng đến dịch
vụ công tác xã hội của trung tâm ......................................................................... 61
Bảng 2.13: Đánh giá yếu tố ảnh hưởng từ tổ chức tài trợ đến dịch vụ công tác xã
hội của trung tâm .................................................................................................. 64
năm 2004; Vụ Bảo vệ chăm sóc sức khỏe Bà mẹ trẻ em thuộc Bộ y tế chính thức
được công nhận theo nghị định số 68/CP ngày 11/10/1993 của Thủ tướng Chính
phủ; các chính sách an sinh xã hội dành cho trẻ em như Quyết định 19/2004/QĐTTg của Chính phủ tập trung giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị
xâm hại tình dục, trẻ em lao động trong điều kiện nặng nhọc nguy hiểm…
Hiện cả nước có 248.000 trẻ em cơ nhỡ cần sự giúp đỡ của các tổ chức từ
thiện, theo số liệu thống kê của Bộ LĐ-TB&XH, cho đến tháng 2/2014, cả nước
có trên 40.000 trẻ mồ côi được nhận trợ cấp xã hội nuôi dưỡng tại cộng đồng,
22.000 trẻ được nuôi dưỡng trong các cơ sở tập trung. Quỹ Bảo trợ Trẻ em Việt
Nam là Quỹ của Nhà nước, đã hoạt động có hiệu quả trong suốt thời gian từ khi
thành lập đến nay.
Thành phố Hồ Chí Minh có rất nhiều chương trình chăm lo, cải thiện đời
sống an sinh xã hội cho trẻ em như chương trình giảm nghèo, phổ cập mầm non
cho trẻ dưới 5 tuổi, xây dựng các khu vui chơi, giải trí, ngăn ngừa trẻ lang thang,
trẻ bị xâm hại lao động, đảm bảo phát thẻ BHYT miễn phí cho trẻ em dưới 6
tuổi, trẻ em trong các hộ có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em hộ nghèo đều được hỗ trợ
giảm hoặc miễn phí trong khám và điều trị bệnh trong bệnh viện địa bàn thành
phố.
Đã có rất nhiều nghiên cứu về tình hình trẻ em Việt Nam nói chung, trẻ có
hoàn cảnh đặc biệt nói riêng nhưng vấn đề nghiên cứu dịch vụ công tác xã hội
cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt ít thấy. Vì nghề CTXH còn quá mới mẻ và đang
1
trong quá trình hoàn thiện, các trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH mới được
thành lập, đang trong thời gian thí điểm ở một số thành phố lớn. Các hoạt động
hỗ trợ trẻ em như trường, trại, làng SOS, mái ấm, nhà mở, phòng tư vấn… được
xem là mô hình bảo vệ chăm sóc trẻ em nên việc chuyển hướng từ mô hình sang
dịch vụ CTXH đang dần dần hình thành. Vai trò của NVXH chưa được quy định
của pháp luật, cũng như hoạt động của DVCTXH chưa được thể chế hóa để có
TECHCĐB này bị xâm phạm đến quyền. Hiện nay các chính sách của Nhà nước
về công tác bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em ngày càng mở rộng hơn về đối
tượng, các chính sách này được triển khai thực hiện đầy đủ, tăng cường nguồn
lực mọi mặt cả huy động trong nước và hợp tác Quốc tế. Chất lượng, hiệu quả
các hoạt động, dịch vụ chăm sóc trẻ ngày càng được nâng cao. Công tác bảo vệ
trẻ em đã được triển khai thực hiện ở cả 03 cấp độ: phòng ngừa, can thiệp, giảm
thiểu các nguy cơ và hỗ trợ, phục hồi cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn.[24]
Một số kinh nghiệm Quốc Tế và những vấn dề đặt ra đối với việc phát
triển các dịch vụ công tác xã hội trong công tác bảo vệ trẻ em, nói lên trong bối
cảnh toàn cầu hoá, sự hỗ trợ của nhiều tổ chức Quốc tế như UNICEF, ILO, Tầm
nhìn Thế giới, quỹ Nhi đồng Anh, Mỹ, Thụy Điển.v.v những tổ chức này đã
quan tâm hỗ trợ nhiều dự án, chương trình, mô hình hoạt động chăm sóc, bảo vệ
trẻ có ý nghĩa. Nhà nước ta cũng có nhiều văn bản, pháp luật, chế độ, chính sách
có liên quan đến công tác bảo vệ trẻ em nói chung và TECHCĐB nói riêng để
các ngành, các cấp, các địa phương triển khai thực hiện. Bài viết có cái nhìn về
dịch vụ công tác xã hội, sự cần thiết của sự phát triển các dịch vụ xã hội đối với
công tác bảo vệ trẻ em. Thông tin cho chúng ta một số kinh nghiệm của Quốc tế
về hoạt động cung cấp các dịch vụ công tác xã hội và quá trình hình thành các
dịch vụ công tác xã giáo dục hoà nhập tại Việt Nam bảo vệ trẻ em tại Việt Nam,
những tồn tại và những vấn đề đặt ra trong việc phát triển dịch vụ công tác xã
hội bảo vệ trẻ em.[20]
3
Giáo dục hoà nhập – cánh cửa rộng mở cho trẻ em tại Việt nam, khoá
luận của tác giả Lê Minh Hằng, sinh viên trường Swarthmore College, bài viết
nêu cần can thiệp sớm hệ thống giáo dục hoà nhập cho phép mọi trẻ em khuyết
tật cũng như trẻ bình thường được học tập trong một môi trường, trẻ khuyết tật
Với đề tài đã chọn và từ thực trạng cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối
với các trẻ tại trung tâm về dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng; dịch vụ hỗ trợ y tế,
phục hồi chức năng; dịch vụ hỗ trợ tiếp cận giáo dục; dịch vụ hỗ trợ tâm lý, tôi
muốn nghiên cứu, phân tích, đánh giá, so sánh với các hệ thống dịch vụ công tác
xã hội của các cơ sơ, cấp ngành, địa phương khác và tìm ra những giải pháp mới
hiệu quả hơn, khả thi hơn và chuyên nghiệp hơn trong việc thực hiện hoạt động
cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nhằm xác định vai trò của dịch vụ CTXH đối với TECHCĐB, vai trò của
NVXH triển khai các dịch vụ CTXH từ thực tiễn trung tâm bảo trợ xã hội trẻ em
thiệt thòi thành phố Hồ Chí Minh.
Tìm hiểu sâu thực trạng dịch vụ CTXH đối với TECHCĐB mang tính
chuyê nghiệp của ngành CTXH tại trụng tâm bảo trợ xã hội trẻ em thiệt thòi.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận văn tập trung giải quyết những
nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và dịch vụ
công tác xã hội, chính sách pháp luật của Việt Nam đối với TECHCĐB, tại cơ sở Bảo
trợ xã hội.
- Đánh giá thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tại trung tâm và
các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này.
5
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hơn nữa đối với dịch vụ công tác
xã hội về chăm sóc, nuôi dưỡng; hỗ trợ y tế, phục hồi chức năng; hỗ trợ giáo
dục; hỗ trợ tâm lý đối với trẻ tại trung tâm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
hoàn cảnh đặc biệt trong nước và ngoài nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu: Mẫu nghiên cứu được tiến hành
trên nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đang được chăm sóc, nuôi
dưỡng tại Trung tâm. Số lượng mẫu nghiên cứu là 90 đối tượng, 40 cán bộ, nhân
viên Trung tâm và được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên đơn giản.
- Phương pháp phân tích tài liệu: sử dụng các thông tin, số liệu, tài liệu từ
các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu chính của
trung tâm phục vụ cho quá trình nghiên cứu như: các văn bản pháp luật, Nghị định,
Thông tư của Chính phủ và các Bộ ngành liên quan đến chế độ, chính sách hỗ trợ
đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; các bản thỏa thuận “Hợp tác xây dựng và vận
hành trung tâm BTXH trẻ em thiệt thòi” giai đoạn 2011 - 2021, hợp tác về kinh phí
hoạt động, về thực hiện các chế độ chính sách đối với các bộ, công nhân viên Trung
tâm; các Quyết định về thành lập và quy định tổ chức bộ máy của trung tâm; các
bảo cáo tổng kết năm, báo cáo thống kê…
- Phương pháp điều tra bảng hỏi: là phương pháp dựa trên hình thức hỏi
đáp gián tiếp dựa trên bảng các câu hỏi được soạn thảo trước, điều tra viên tiến
hành phát bảng hỏi, hướng dẫn thống nhất cách trả lời các câu hỏi, người được
hỏi tự đọc các câu hỏi trong bảng hỏi rồi ghi cách trả lời của mình vào phiếu hỏi
rồi gửi lại cho các điều tra viên.
Với phương pháp này, bảng hỏi sẽ được phát cho 90 trẻ hoặc phụ huynh,
gia đình trẻ nhằm thu thập thông tin về các nhu cầu dịch vụ công tác xã hội của
7
trẻ và thực trạng việc cung cấp dịch vụ cũng như sự hỗ trợ, mức độ đáp ứng về
chất lượng và hiệu quả đối với các hoạt động của trung tâm.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: thu thập thông tin xã hội học thông qua việc
tác động tâm lý học xã hội trực tiếp giữa người đi phỏng vấn và người được
phỏng vấn trên cơ sở mục tiêu của đề tài nghiên cứu.
7. Cơ cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và danh
mục các biểu bảng, phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt
Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt tại trung tâm bảo trợ xã hội trẻ em thiệt thòi thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt từ thực tiễn trung tâm bảo trợ xã hội trẻ em thiệt thòi
thành phố Hồ Chí Minh.
9
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI TRẺ CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT
1.1. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: khái niệm và đặc điểm
1.1.1. Một số khái niệm
* Khái niệm trẻ em
Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam năm 2004,
trẻ em là người dưới 16 tuổi [21].
Theo công ước quốc tế về Quyền trẻ em, trẻ em là người dưới 18 tuổi
[18].
Như vậy khái niệm trẻ em hiện nay chưa có sự thống nhất giữa các cơ
quan tổ chức trong và ngoài nước.
Trong dự thảo trình Quốc hội về Luật trẻ em năm 2016 quy định: “Trẻ em
là người dưới 18 tuổi” tăng 2 tuổi so với quy định về trẻ em của Luật Bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em hiện hành. Theo đó, “người dưới 18 tuổi chưa phát
hiện để thỏa mãn nhu cầu của mình. Nếu không được thỏa mãn sẽ gây ra những
căng thẳng dẫn đến đe dọa sự tồn tại của con người. Khi giúp đỡ trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt dù làm với cá nhân hay nhóm, nhân viên xã hội cần phải xác định
được nhu cầu cảm nhân (felt need) và nhu cầu cần (they need). Nhu cầu cảm
nhân là nhu cầu được xác định và xuất phát từ bản thân đối tượng. Còn nhu cầu
cần là nhu cầu xuất phát từ những người khác.
- Trước hết là nhu cầu về mặt vật chất phục vụ cho việc ăn uống, vệ sinh,
đảm bảo cho sự phát triển thể chất của trẻ.
- Thứ hai, nhu cầu về mái ấm gia đình, là chỗ dựa về vật chất và tinh thần
của trẻ. Gia đình đóng vai trò rất quan trọng, đây là môi trường xã hội hóa đầu
tiên và cũng là mạnh nhất của trẻ. Trong những trường hợp can thiệp việc tách
đứa trẻ ra khỏi bố mẹ chúng là trường hợp bất khả kháng, khi không còn một
giải pháp nào thay thế nữa.
11
- Nhu cầu được giải trí vui chơi (nhu cầu phát triển), học tập, thông qua
những hoạt động này đứa trẻ được hòa mình vào xã hội và tự khẳng định mình.
- Nhu cầu được tôn trọng, trẻ luôn đòi hỏi nhu cầu này từ người lớn, ở bạn
bè và ở cha mẹ. Sự tôn trọng này sẽ làm tăng sự tự tin, nghị lực của trẻ.
- Nhu cầu cao nhất của trẻ đó là tự khẳng định mình, chứng minh rằng
mình có năng lực, mình có thể làm được mọi việc.[27,tr102;14,tr9]
1.1.3. Các lý thuyết tiếp cận đối với trẻ có hoàn cảnh đặc biệt
1.1.3.1. Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Abraham Maslow là nhà khoa học nổi tiếng ông đã xây dựng thuyết nhu
cầu của con người, nhu cầu của con người được chia làm 5 bậc thang từ đáy lên
đến đỉnh. Thuyết này xếp nhu cầu con người từ thấp đến cao, nhu cầu về sinh
học, nhu cầu được an toàn, nhu cầu được chấp nhận được sự yêu thương, nhu
cầu được tôn trọng và nhu cầu được phát triển. Khi con người đã thoả mãn nhu
giác an toàn và nảy sinh sợ hãi.
Giai đoạn thứ 2 là giai đoạn từ 1 tuổi đến 3 tuổi, đây là gia đoạn hình thành
tính tự chủ, ý thức độc lập mong muốn có quyền riêng ở đứa trẻ. Những hành vi
luôn bị ngăn cấm, hạn chế sự thể hiện tính độc lập sẽ làm cho trẻ nảy sinh cảm
giác nghi ngờ, xấu hổ dẫn đến nhút nhát và lệ thuộc vào người khác.
Giai đoạn thứ 3 là giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi, được coi là giai đoạn của óc
sáng kiến, giai đoạn của sự sáng tạo, trẻ khá tò mò muốn tìm hiểu thế giới xung
quanh bằng nhiều con đường. Chính vì vậy chúng thường có những trò chơi
nguy hiểm, hay đặt ra nhiều câu hỏi “tại sao”, Cần động viên, khuyến khích trí
tưởng tượng của trẻ dưới sự kiểm soát của người lớn. Nếu không được khuyến
khích, khám phá, trẻ sẽ không biết làm và cảm giác tội lỗi.
Giai đoạn thứ 4 là giai đoạn từ 6 tuổi đến lúc dậy thì 12 tuổi - Mâu thuẫn
giữa tài năng và sự tự ti hay mâu thuẫn giữa sự chăm chỉ và sự thấp kém.
Giai đoạn 5: Thanh thiếu niên từ 13 - 20 tuổi - Mâu thuẫn giữa cái chính
mình và sự mơ hồ về vai trò bản thân.
Giai đoạn 6: Thanh niên - từ 20 đến 35 Tuổi - mâu thuẫn giữa Gắn bó và Cô
lập trong các mối quan hệ hay mâu thuẫn giữa sự thân thiện với sự tách biệt
13
Giai đoạn 7: Trung niên - từ 35 đến 60 tuổi - mâu thuẫn giữa sáng tạo và
đình trệ
Giai đoạn 8: Cao niên - từ 60 tuổi trở lên - mâu thuẫn giữa hoàn thành và
thất vọng. Trong 8 giai đoạn trên đều có 2 mặt tích cực và tiêu cực, lành mạnh và
không lành mạnh.
Theo Erikson, hầu hết mọi người đều không đạt được hoàn toàn sự tích
cực trong mỗi giai đoạn phát triển của mình. Tác giả muốn vận dụng lý thuyết
này để làm cơ sở đánh giá thực trạng việc hỗ trợ tâm lý cho trẻ tại trung tâm ở
các giai đoạn từ 0 đến 15 tuổi. Sự phát triển tâm lý trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
đang chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục tại trung tâm có phù hợp với lứa tuổi của
CTXH nhằm giúp cá nhân và cộng đồng TỰ GIÚP. Nó không phải là một hành
động ban bố của từ thiện mà nhằm phát huy sứ mệnh của hệ thống thân chủ (cá
nhân, nhóm và cộng đồng) để họ tự giải quyết vấn đề của mình [1;32].
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu và dựa trên các khái niệm trên tác giả
tạm hiểu về dịch vụ công tác xã hội đối với TECHCĐB như sau: DNCTXH là
một số hoạt động mang tính chuyên nghiệp nhằm phòng ngừa, hạn chế, khắc
phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng nhu cầu cơ bản cho TECHCĐB, nhằm đáp ứng
những nhu cầu vật chất cơ bản cho trẻ như dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục và dịch
vụ vui chơi, giải trí....
1.2.2. Nguyên tắc và yêu cầu đối với nhân viên xã hội khi cung cấp dịch
vụ công tác xã cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
"Công tác xã hội được bắt nguồn từ 6 giá trị cốt lõi: dịch vụ, công bằng xã
hội, nhân phẩm và giá trị của con người, tầm quan trọng của các mối quan hệ
con người, liêm chính và năng lực " (NASW, 1999). Vì vậy khi nhân viên xã hội
thực hiện các dịch vụ công tác xã hội đối với TECHCĐB phải áp dụng các giá trị
này, phải thừa nhận quyền của trẻ là được nhận những dịch vụ hỗ trợ và quyền
thể hiện sự cam kết hành động theo những kết luận và ý kiến, đánh giá chuyên
môn, những điều này đã được thể hiện rõ trong nguyên tắc đạo đức của Hiệp hội
Nhân viên Công tác xã hội Quốc gia (1999) [33].
15
- NVCTXH cần chấp nhận TECHCĐB không được có thái độ mặc cảm,
định kiến đối với trẻ trong bất kể tình huống nào, phải luôn tôn trọng và thấu
hiểu, không phê phán hay áp đặt ý kiến của mình lên trẻ. Giúp trẻ lấy lại lòng tự
trọng, tự tin bộc lộ và có động lực để biến đổi.
- NVCTXH phải để trẻ hoặc gia đình TECHCĐB cùng tham gia giải
quyết vấn đề, chú ý tới các năng lực tiềm ẩn trong mỗi trẻ hoặc gia đình trẻ để họ
có thể phát huy, tự quyết định hành động, tự giải quyết vấn đề, chúng ta không
phẩm chất của bản thân. Cần nắm rõ vai trò, nhiệm vụ của mình trong từng lúc
từng nơi và trong từng trường hợp cụ thể, luôn phải giữ gìn phẩm chất, đạo đức
và nhân cách của một NVCTXH. Luôn luôn rà lại động cơ, đánh giá lại cách
làm, ghi chép diễn tiến công việc, các cuộc tiếp xúc. Lắng nghe và nhận sự
hướng dẫn của những người chuyên nghiệp hơn mình.
- NVCTXH cần phải xây dựng mối tương quan với TECHCĐB và gia
đình trẻ, đó phải là mối quan hệ bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Không nên dùng
kiến thức, kỹ năng của mình để lèo lái theo ý muốn. Tránh tạo sự phụ thuộc về
tâm lý, giúp trẻ và gia đình trẻ mau chóng không cần tới mình nữa.
- NVCTXH sẽ phải hành động như một người môi giới, người tư vấn cho
TECHCĐB hay phụ huynh của trẻ. Công nhận quyền thụ hưởng dịch vụ mà
mình mang tới cho trẻ.
1.2.3. Các dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
1.2.3.1. Dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng
Trẻ vào trung tâm được tiếp nhận thông tin, sàng lọc và phân loại; Đánh
giá về tâm sinh lý, tình trạng sức khoẻ và các nhu cầu của trẻ từ đó lập kế hoạch
chăm sóc và thực hiện chăm sóc trẻ. Trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng các
dữ liệu thu thập của trẻ được tổng hợp, phân tích và giám sát, đánh giá sự tiến
triển để điều chỉnh kế hoạch chăm sóc khi cần thiết.
Trẻ được cung cấp đầy đủ ba bữa ăn sáng, trưa và tối mỗi ngày, bảo đảm
đủ dinh dưỡng, calo và có chất đạm (thịt, cá, đậu nành, chất bột đường, ngũ cốc,
rau quả). Có chế độ dinh dưỡng đặc biệt cho trẻ sơ sinh, trẻ khuyết tật, trẻ nhiểm
HIV trẻ bị ốm hoặc suy dinh dưỡng … Ngoài chế độ trợ cấp nuôi dưỡng hàng
17
tháng theo quy định, trung tâm huy động sự giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân,
cộng đồng.
Trẻ được cung cấp đầy đủ nước uống sạch và bảo đảm vệ sinh tắm giặt
chi phí điều trị, nhân lực và thời gian chăm sóc bệnh.
1.2.3.3.Dịch vụ hỗ trợ giáo dục
Trung tâm bảo đảm cung cấp cho trẻ được học văn hoá (đối với trẻ có khả
năng học tập) được học nghề (đối với trẻ em từ 13 tuổi trở lên), cụ thể:
Bảo đảm cho trẻ được phổ cập giáo dục, cung cấp giáo dục chính quy
hoặc không chính quy trong các trường công lập, dân lập hoặc tại cơ sở trung
tâm.
Giáo dục cho trẻ về đạo đức xã hội, vệ sinh, kiến thức phòng chống lây
nhiễm HIV/AIDS, sức khoẻ sinh sản và các chủ đề khác phù hợp với độ tuổi và
giới tính.
Hướng dẫn trẻ các phương pháp tự phòng tránh buôn bán, lạm dụng, bạo
hành và bóc lột.
Cung cấp sách vở, tài liệu học tập và bố trí nơi học tập cho trẻ.
Tư vấn để trẻ tự lựa chọn học nghề và phù hợp với điều kiện của địa
phương.
Trẻ được hỗ trợ học tiếp lên các cấp hoặc học nghề tuỳ thuộc vào độ tuổi,
sự lựa chọn và nhu cầu thị trường.
Công tác hỗ trợ giáo dục cho trẻ khuyết tật và trẻ em nghèo được trung
tâm tổ chức thực hiện theo mô hình chất lượng cao thông qua các chương trình
giáo dục mầm non, giáo dục đặc biệt, giáo dục phổ cập, chuẩn hoá các quy trình
các hoạt động, công tác quản lý, giám sát và đánh giá. Qua đó trẻ có nhiều cơ hội
phát triển nhận thức và ngôn ngữ sớm hoà nhập cộng đồng.
1.2.3.4. Dịch vụ hỗ trợ tâm lý
Trung tâm thực hiện hỗ trợ dịch vụ về công tác xã hội bao gồm:
Tư vấn, tham vấn để giải quyết sự căng thẳng về quan hệ, tình cảm và trợ
giúp tiếp cận các dịch vụ xã hội; tổ chức các cuộc tiếp xúc, trao đổi để tìm ra khó
khăn và cách thức giải quyết khó khăn; trợ giúp về thức ăn, chỗ ở tạm thời; hỗ
19