VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀM HỮU HIỆP
QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM
CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT TỪ THỰC TIỄN
TỈNH THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀM HỮU HIỆP
QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM
CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT TỪ THỰC TIỄN
TỈNH THÁI BÌNH
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số
: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
2.1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu ....................................................................... 33
2.2. Thực trạng về quản lý công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại
tỉnh Thái Bình ........................................................................................................ 38
2.3. Các yếu tố tác động đến quản lý công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt tại tỉnh Thái Bình ..................................................................................... 52
Chương 3 . GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ
HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT TỪ THỰC TIỄN TỈNH
THÁI BÌNH ................................................................................................... 59
3.1. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động hoạch định trong quản lý công
tác xã hội ................................................................................................................ 59
3.2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động ra quyết định trong quản lý
công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt .................................................. 60
3.3. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết xung đột trong quản
lý công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt .............................................. 61
3.4. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra giám sát trong quản lý
công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt .................................................. 62
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................... 70
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTXH
: Bảo trợ xã hội
CTXH
: Công tác xã hội
án phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 (sau đây gọi tắt là Đề án
32). Sau khi Đề án 32 được phê duyệt, các hoạt động công tác xã hội đã được các cơ
quan và các tổ chức xã hội quan tâm thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau góp
một phần hỗ trợ các đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương giải quyết khó khăn và hòa
nhập với cuộc sống của cộng đồng. Trong đó các hoạt động công tác xã hội thì công
tác hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt luôn được quan tâm, đặt lên hàng đầu.
Những năm qua, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về chính trị, kinh
tế và xã hội. Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, liên tục và ổn định, đời sống
nhân dân không ngừng được cải thiện, hệ thống an sinh xã hội nói chung và công
tác xã hội nói riêng ngày càng được quan tâm. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu
đã đạt được, vẫn còn nhiều vấn đề xã hội bức xúc cần được xem xét một cách
nghiêm túc để có hướng đi đúng với mục tiêu phát triển vì con người. Bảo vệ và
chăm sóc trẻ em là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới, vì
rằng trẻ em hôm nay sẽ là những chủ nhân trong tương lai của đất nước; Chủ tịch
Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài của nhân dân Việt Nam cũng đã từng nói: “Vì lợi
ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”. Tuy nhiên hiện
nay, vấn đề trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng đang là một
vấn đề xã hội bức xúc, không phải chỉ riêng nước ta mà là vấn đề chung của các
nước trên thế giới. Nguyên nhân của vấn đề này có nhiều, có nguyên nhân xuất phát
từ nền kinh tế thị trường, có nguyên nhân xuất phát từ gia đình, có nguyên nhân
thuộc về cơ chế, chính sách. Các em rất cần sự quan tâm, trợ giúp của Nhà nước,
của các cấp các ngành và đặc biệt là sự quan tâm từ phía gia đình và toàn xã hội.
Hiện nay số lượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần sự trợ giúp xã hội rất
lớn, phần lớn trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tập trung ở các vùng có điều kiện kinh tế
còn khó khăn, thiên tai bão lụt hay xảy ra và tỷ lệ hộ nghèo cao; nhưng lâu nay các
1
em chỉ nhận được sự trợ giúp của đội ngũ cán bộ nhân viên không chuyên nghiệp ở
chăm sóc tại nhà, chăm sóc tập trung và các hình thức chăm sóc hỗ trợ không chính
thức khác. Tình trạng số lượng cho con nuôi ra nước ngoài cao trong khi đây được
quy định là biện pháp cuối cùng chỉ sử dụng khi không còn cách nào khác. Ngoài
ra, báo cáo cũng chỉ ra rằng Việt Nam còn thiếu các quy định cụ thể cho việc truy tố
những đối tượng hoạt động môi giới cho nhận con nuôi trái pháp luật..[33]
“Đánh giá tình hình chăm sóc nhận nuôi và việc thực hiện quyết định
38/2004/QĐ-TTg”, một nghiên cứu được phối hợp thực hiện giữa Bộ Lao động,
Thương binh và Xã hội với UNICEF năm 2011. Nghiên cứu đã phân tích, đánh giá
thực trạng trẻ em mồ côi, trẻ em cần được chăm sóc thay thế cũng như thực trạng
việc thực hiện Quyết định 38/2004/QĐ-TTg ngày 17/3/2004 của Thủ tướng Chính
phủ về chính sách trợ giúp kinh phí cho gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em
mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi. Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng trẻ mồ côi và trẻ
bị bỏ rơi dự kiến sẽ còn tăng lên do những biến đổi kinh tế-xã hội, hầu hết các cán
bộ của Chính phủ ở cả cấp trung ương và địa phương, cũng như cán bộ nhân viên
các Trung tâm Bảo trợ xã hội và những gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ ít biết
đến Quyết định số 38/2004/QĐ-TTg, đặc biệt là ở cấp huyện và cấp xã có những trẻ
em và gia đình thuộc đối tượng thụ hưởng của Quyết định 38. Nghiên cứu nhận
thấy mô hình chăm sóc nhận nuôi là mô hình phù hợp để thí điểm ở các khu vực
thành phố/đô thị, là nơi được biết có số lượng trẻ em bị bỏ rơi cao hơn và có nhiều
khả năng hơn là các gia đình có điều kiện tài chính, có các kỹ năng và sẵn lòng nhận
nuôi dưỡng trẻ và cũng có ý kiến phỏng vấn cho rằng không nên áp dụng mô hình
chăm sóc nhận nuôi ở các khu vực nông thôn bởi vì hình thức chăm sóc này không
phù hợp với văn hóa địa phương và các tập quán truyền thống..[4]
“Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam: đánh giá pháp luật và chính
sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam” là đánh
giá của Vụ Pháp chế, Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội phối hợp với các
chuyên gia của một số bộ, ngành liên quan. Đánh giá tập trung đến pháp luật đối với
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, so sách với các chuẩn mực quốc tế, tìm ra những thiếu
hụt và hạn chế của pháp luật Việt Nam, trên cơ sở đó kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn
c, Philippines, Thái Lan, Singapore, Nhật Bản,
Trung Quốc, việc cung cấp dịch vụ xã hội chủ yếu là trách nhiệm của các bộ và cơ
quan nhà nước. Tại các quốc gia này, cán bộ xã hội vẫn thực hiện chức năng tham
vấn tâm lý xã hội, nhưng lồng ghép với đánh giá các nhu cầu phúc lợi xã hội và
4
quản lý việc tiếp cận với các dịch vụ xã hội đa dạng khác nhau. Dịch vụ xã hội cũng
có thể bao gồm việc xem xét các nhu cầu phát triển của trẻ em, gia đình, cộng đồng
và lồng ghép với sự tham gia của cộng đồng..[12]
“Một số giải pháp bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn” là bài
viết của tác giả Trần Thị Thanh Thanh, nguyên Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban Dân
số, Gia đình và Trẻ em, Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam. Tác giả đã
nêu bật các loại trẻ em thuộc đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt và tình hình trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam. Dưới góc nhìn về vai trò và hiệu quả hoạt động
bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của các hội, hiệp hội và cơ sở ngoài
công lập, TS Thanh đã đưa ra các khuyến nghị với cơ quan có thẩm quyền, tạo
điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách hỗ trợ các tổ chức này hoạt động có hiệu
quả hơn..[31]
Ở góc tiếp cận khác về giải pháp bảo vệ và chăm sóc trẻ em, tác giả Nguyễn
Xuân Lập, nguyên Phó cục trưởng Cục Bảo trợ xã hội qua bài viết “Một số giải
pháp bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt” đã tổng quan tình hình trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt và những chính sách của Nhà nước vận dụng trong những
năm qua. Để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc trẻ em, thúc
đẩy thực hiện mục tiêu vì trẻ em, đảm bảo các quyền cơ bản cho trẻ em theo Công
ước quốc tế về Quyền trẻ em và luật pháp Việt Nam, tác giả đã đưa ra bảy giải pháp
về cần tập trung thực hiện trong thời gian tới. Bảy giải pháp mà tác giả đưa ra đã
cảnh đặc biệt.
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý CTXH với trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt.
- Đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài đặt ra những nhiệm vụ
nghiên cứu như sau:
- Làm sáng tỏ các khái niệm về người trẻ em, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và
quản lý công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt tại tỉnh Thái Bình.
6
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý công tác xã hội với trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt.
- Đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý công
tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Một số hoạt động của quản lý CTXH với trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt tại Tỉnh Thái Bình.
- Phạm vi không gian và thời gian: Các cơ sở chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt tại Tỉnh Thái Bình; Thời gian: 2015 – 2016
- Phạm vi khách thể:
+ Cán bộ quản lý làm việc trong l nh vực chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc
đặc biệt.
Nghiên cứu sẽ tiến hành phỏng vấn sâu tại một số cơ sở chăm sóc trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt. Cụ thể là:
+ Cán bộ lãnh đạo cấp Sở, cán bộ lãnh đạo trong ban giám đốc và cấp
Trưởng, phó phòng: 10 trường hợp để đánh giá về các hoạt động quản lý CTXH
+ Nhân viên làm việc trong các cơ sở: 10 trường hợp nhằm đánh giá về hiệu
quả của các hoạt động quản lý CTXH.
Tổng số: 20 trường hợp.
- Phương pháp phân tích tài liệu
Là phương pháp thu thập thông tin từ các công trình nghiên cứu và các tài
liệu có sẵn của các tác giả trong và ngoài nước. Phương pháp này được áp dụng
phân tích các tài liệu như: Các văn bản pháp luật liên quan đến công tác xã hội và
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của cả nước và của tỉnh Thái Bình; Các quy định,
chính sách của cơ quan, tổ chức trong l nh vực quản lý công tác xã hội… Ngoài ra
luận văn còn phân tích một số báo cáo khoa học, khoá luận tốt nghiệp có liên quan;
Phân tích số liệu báo cáo từ cơ sở cung cấp; Tìm hiểu về các Nghị định, Thông tư
8
hướng dẫn dành cho đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; Phân tích một số báo
cáo khoa học, khoá luận tốt nghiệp có liên quan.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài nghiên cứu sử dụng những kiến thức và lý thuyết chủ đạo trong quản
lý, quản trị công tác xã hội, an sinh xã hội, chính sách trợ giúp xã hội dành cho các
nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội như trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật,
người nhiễm HIV/AIDS… nhằm ứng dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn,
vào việc tiếp cận, trợ giúp và giải quyết các vấn đề xã hội của đối tượng. Bên cạnh
đó nghiên cứu cũng góp phần vào việc giúp các cá nhân, các tổ chức trong và ngoài
10
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT
1.1. Khái niệm công cụ
- Trẻ em: Theo luật bảo vệ chăm sóc trẻ em năm 2004: Trẻ em là những
công dân Việt Nam dưới 16 tuổi. [16, Điều 1]
- Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường
về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà
nhập với gia đình và cộng đồng, bao gồm: Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ
em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học;
trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với
chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại
tình dục; trẻ em nghiện ma tuý; trẻ em vi phạm pháp luật. [16, Điều 40].
- Quản lý
Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống
nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá
vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống”[23] Có nhiều quan
điểm khác nhau về khái niệm Quản lý và Quản trị tuy nhiên trong luận văn này
Quản lý và Quản trị được hiểu với ngh a tương đương.
- Công tác xã hội
Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp
các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng
cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách,
nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và
phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội [6]
- Quản lý công tác xã hội
Theo Skidmore "Quản lý công tác xã hội là một tiến trình chuyển đổi chính
cảnh khó khăn được hỗ trợ, chăm sóc vào năm 2010. Tiếp theo đó, chính phủ đã
ban hành Quyết định số 1555/QĐ-TTg về việc phê duyệt chương trình hành động
quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012 – 2020.
Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 – 2015, đã triển khai Dự
án xây dựng và nhân rộng các mô hình trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt dựa
vào cộng đồng. Đối với trẻ em mồ côi, mục tiêu của dự án: Giảm tỷ lệ trẻ em lang
thang xuống 7/10.000 trẻ em. Tiếp theo đó, chính phủ đã ban hành Quyết định số
2361/QĐ-TTg ngày 22/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình
bảo vệ trẻ em giai đoạn 2016 – 2020 [5].
13
Ngày 26 tháng 4 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
647/QĐ-TTg phê duyệt Đề án chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em
bị bỏ rơi, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em
khuyết tật nặng và trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa giai đoạn 2013-2020.
Đề án nhằm huy động sự tham gia của xã hội, nhất là gia đình, cộng đồng trong việc
chăm sóc, trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để ổn định cuộc sống.
Mục tiêu cụ thể của Đề án là phấn đấu đến năm 2020 có 95% trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn được nhận sự trợ giúp và được cung cấp các dịch vụ xã hội phù
hợp; tiếp tục thí điểm mô hình gia đình, cá nhân nhận nuôi có thời hạn đối với trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; mô hình dạy nghề gắn với tạo việc làm cho trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các
cơ sở bảo trợ xã hội và nhà xã hội để đủ điều kiện chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt..[11]
Trên địa bàn Thái Bình, thực hiện Chương trình Quốc gia bảo vệ trẻ em, mục
tiêu trong giai đoạn 2011- 2015 giảm tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và đảm bảo ít
nhất 90% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp, chăm sóc để phục hồi, tái hòa
nhập và có cơ hội phát triển. Đồng thời, 70% trẻ em được phát hiện có nguy cơ rơi vào
cảnh đặc biệt
Trong Bộ Tư Bản, Mác đưa ra một hình ảnh về một hoạt động quản lý, đó là
hoạt động của người chỉ huy một dàn nhạc. Người này không chơi một loại nhạc cụ
nào mà dùng cây đũa chỉ huy để điều khiển các nhạc công chơi các nhạc cụ khác
nhau để tạo nên một bản giao hưởng. Điều đó nói nên rằng một nghệ sỹ độc tấu thì
tự điều khiển lấy mình, còn đối với một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng.
Hoạt động của mỗi tổ chức mang lại những kết quả, hiệu quả khác nhau đều
liên quan đến quản lý. Hiệu quả cao khi kết quả đạt được nhiều hơn so với chi phí;
và hiệu quả thấp khi chi phí nhiều hơn so với kết quả đạt được.
Trong thực tế, hoạt động quản lý sẽ có hiệu quả khi:
- Giảm thiểu chi phí các nguồn lực ở đầu vào mà vẫn bảo đảm đạt được kết
quả thực hiện các mục tiêu ở đầu ra.
- Giữ nguyên các yếu tố đầu vào (chi phí nhân lực, vật lực, tài chính) mà gia
tăng kết quả thực hiện các mục tiêu ở đầu ra.
- Vừa giảm được các chi phí ở đầu vào, vừa tăng kết quả thực hiện các mục
tiêu ở đầu ra.
15
1.4. Các hoạt động của quản lý công tác xã hội với trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt
Theo, quan điểm về phân chia hoạt động quản lý, Henry Fayol (1841 -1925)
đã nêu 5 hoạt động: lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra. Vào
những năm 1930, Lyther Gulick và Lydal Urwich đã nêu 7 hoạt động quản lý, viết
tắt là POSDCORB; P: Planning - lập kế hoạch, O: Organizing - Tổ chức; S: Staffing
- Quản lý nhân lực; D: Directing - Chỉ huy; CO: Coordinating - Phối hợp; R:
Reviewing - Kiểm tra; B - Budgeting - Tài chính. Một số nhà khoa học quản lý lại
nêu công thức POSDCIR, trong đó: I: Innovating: Đổi mới; R: Representation - Đối
ngoại. Gần đây, có ý kiến của (James Stoner và Stephen P. Robbins) dùng khái
Hoạch định có nhiều loại khác nhau tuỳ theo cơ sở phân biệt chúng:
Theo thời gian: có hoạch định dài hạn, ngắn hạn và trung hạn;
Theo cấp độ: có hoạch định v mô, hoạch định vi mô;
Theo mức độ: có hoạch định chiến lược, hoạch định tác nghiệp;
Theo phạm vi: có hoạch định toàn diện, hoạch định từng phần;
Theo l nh vực: có hoạch định kinh doanh, dịch vụ, nhân sự, tài chính ...
- Vai trò của hoạch định:
+ Tính hiệu quả: Mỗi một tổ chức đều hướng đến một số mục tiêu nào đó
trong tương lai. Để tồn tại và phát triển, hoạch định là nhịp cầu nối giữa hiện tại và
tương lai. Hoạch định cũng làm cho chúng ta luôn sẵn sàng đối phó với mọi tình
huống thay đổi có thể sảy ra, liên kết được các nguồn lực, nhờ đó sẽ làm tăng khả
năng đạt được các mục tiêu và kết quả mong muốn của tổ chức.
+ Tính kết quả: Nhờ hoạch định từ trước mà một tổ chức có thể nhận ra và
tận dụng được các cơ hội và giúp các nhà quản lý chủ động ứng phó với sự bất trắc
và rủi ro. Thông qua hoạch định đề ra các nhiệm vụ, thiết lập các mục tiêu, xây
dựng các định mức, tiêu chuẩn, chỉ tiêu, dự đoán các biến cố và lựa chọn các chiến
lược để thực hiện mục tiêu đã xác định. Mặt khác, nhờ có hoạch định mà các nhà
quản lý có thể biết tập trung chú ý vào việc thực hiện các mục tiêu trọng điểm trong
những kgoảng thời gian khác nhau.
+ Sự chịu trách nhiệm và phát triển tinh thần làm việc tập thể: Khi thực hiện
những công việc đã được hoạch định cẩn thận, khoa học, chu đáo từ trước mọi
người cảm thấy trách nhiệm của cá nhân trong tổ chức, có tinh thần làm việc thoải
mái, hăng hái và mọi người hợp tác, gắn bó với nhau.
17
1.4.1.2. Mục tiêu và cơ sở khoa học của hoạch định
- Mục tiêu:
Mục tiêu là những mong đợi của nhà quản lý muốn đạt được trong tương lai
+ Đảm bảo huy động và sử dụng tốt nhất những nguồn tiềm năng để thực
hiện có hiệu quả các quyết định quản lý đã được xác định;
+ Đảm phản ứng linh hoạt, năng động và có hiệu quả đối với mọi yếu tố tác
động từ bên ngoài;
+ Đảm bảo phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng về lâu dài.
- Nguyên tắc:
+ Nguyên tắc khoa học;
+ Nguyên tắc hệ thống, không chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau;
+ Nguyên tắc kế thừa;
+ Nguyên tắc xuất phát từ nhu cầu của khách hàng;
+ Nguyên tắc kết hợp quyền hạn, quyền lợi và trách nhiệm;
+ Nguyên tắc chuyên môn hoá;
+ Nguyên tắc phát huy tối đa tính năng động và tự chủ của các cấp thừa hành.
+ Nguyên tắc năng động, linh hoạt và tận dụng thời cơ;
+ Nguyên tắc tập trung vào mắt xích chủ yếu;
+ Nguyên tắc hiệu quả;
1.4.1.4. Nội dung và phương pháp hoạch định
- Nội dung hoạch định:
Nội dung của công tác hoạch định trong mỗi trường hợp tuy có sự khác nhau
về các nội dung chi tiết, song xét về mặt cơ cấu thành phần thì nội dung của hoạch
định đều có chung ít nhất 4 thành phần cơ bản:
+ Mục tiêu của tổ chức;
+ Biện pháp để đạt được mục tiêu;
+ Nguồn lực;
+ Thực hiện.
Trong thực tế, nội dung của mỗi phần đều được xác định trong một thể thống
nhất, hoàn chỉnh và có liên quan chặt chẽ với nhau. Thông thường mục tiêu phải
được xác định phù hợp với khả năng thực hiện và nguồn lực con người và vật chất
có thể huy động và sử dụng. Nội dung của các biện pháp phải căn cứ vào mục tiêu
đã xác định và phù hợp với trình độ, năng lực của người thực hiện.
* Khái niệm
Quyết định quản lý là hành vi sáng tạo của nhà quản lý nhằm định ra chương
trình và tính chất hoạt động của tổ chức để giải quyết một vấn đề đã chín muồi, trên
20