VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC HẢI
QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT
TỪ THỰC TIỄN TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC HẢI
QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT
TỪ THỰC TIỄN TỈNH GIA LAI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số : 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. HỒ VIỆT HẠNH
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVCSTE
Bảo vệ chăm sóc trẻ em
CTV
Cộng tác viên
CTXH
Công tác xã hội
HCĐB
Hoàn cảnh đặc biệt
NVCTXH
Nhân viên công tác xã hội
LĐTBXH
Lao động - Thương binh và Xã hội
QLNN
Quản lý nhà nước
đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt............Error: Reference source not found
Bảng 2.8. Yếu tố ảnh hưởng đến quản lý CTXH đối với trẻ em có HCĐB
...................................................................... Error: Reference source not found
Bảng 2.9 Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em năm 2016 tỉnh Gia Lai........Error:
Reference source not found
Bảng 2.10. Quản lý về đối tượng trẻ em có HCĐB Error: Reference source not
found
Bảng 2.11: Thống kê số liệu cơ bản về công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em năm
2016 tỉnh Gia Lai..........................................Error: Reference source not found
Bảng 2.12. Yếu tố ảnh hưởng đến quản lý CTXH đối với trẻ em có HCĐB
...................................................................... Error: Reference source not found
Bảng 2.13. Mức độ lập kế hoạch quản lý Công tác xã hội với trẻ em.......Error:
Reference source not found
Hộp 2.1: Hoạt động tư vấn, tham vấn cho trẻ có HCĐB..........Error: Reference
source not found
Hộp 2.2 Nhận thức về nghề công tác xã hội của cán bộ quản lý...............Error:
Reference source not found
Hộp 2.3 Yếu tố cơ chế chính sách với cán bộ quản lý công tác xã hội....Error:
Reference source not found
Hộp 2.4 Tính chuyên nghiệp của đội ngũ nhân lực với trẻ em có HCĐB. Error:
Reference source not found
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em luôn là niềm hy vọng tự hào của mỗi gia đình, là chủ nhân
tương lai của đất nước. Ngày nay cùng với sự chuyển mình mạnh mẽ của kinh
tế và xã hội, trẻ em ngày càng được quan tâm chăm sóc tốt hơn. Tuy nhiên,
trẻ em dưới 16 tuổi chiếm 30,3% dân số toàn tỉnh; có 180.341 trẻ em dưới 6
tuổi chiếm 12,7% dân số toàn tỉnh; trong đó số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
là 5.168 trẻ, chiếm 1,2% tổng số trẻ em, số trẻ em có nguy cơ rơi vào HCĐB
là 91.723 trẻ em chiếm 21,3% tổng số trẻ em. [47, 2016]. Khi mà các vấn đề
xã hội đang nảy sinh ngày càng phức tạp thì số lượng trẻ em có nguy cơ rơi
vào hoàn cảnh đặc biệt ngày càng tăng vì vậy làm thế nào để phát huy vai trò
của nhân viên công tác xã hội vẫn còn là một câu hỏi lớn, làm thế nào để việc
quản lý công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt một cách hiệu
quả cũng là vấn đề cần nghiên cứu để đưa ra những đề xuất phù hợp với tình
hình thực tế hiện nay.
Ở tỉnh Gia Lai, vấn đề quản lý CTXH đối với trẻ em có HCĐB chưa có
nghiên cứu nào đề cập đến. Do đó, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “ Quản
lý Công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt từ thực tiễn tỉnh Gia
Lai” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình với mong muốn góp phần thúc
đẩy nghề CTXH phát triển chuyên nghiệp, đảm bảo an sinh xã hội và thực
hiện tốt quyền trẻ em.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Từ một số tài liệu, nghiên cứu tổng quát về trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt
Luật BVCSGD trẻ em năm 2004, Luật Trẻ em năm 2016; Các văn bản của
Chính phủ, Bộ Lao động TB&XH liên quan đến trẻ em có HCĐB; các báo
cáo nghiên cứu đánh giá của tổ chức về trẻ em Việt Nam như Unicef, các
chuyên gia nghiên cứu về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Đỗ Thị Ngọc Phương,
Nguyễn Hải Hữu, ....
2.2. Từ một số nghiên cứu về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt dưới góc
độ công tác xã hội của một số tác giả
Vũ Nhi Công (2009), Vai trò của nhân viên xã hội trong tiến trình giúp trẻ
em đặc biệt khó khăn hội nhập cuộc sống, Kỷ yếu hội thảo ngày Công tác xã hội
thế giới 2009, “Nhân viên xã hội - tác nhân của sự thay đổi”. nghiên cứu này
chỉ đề cập đến vai trò của nhân viên công tác xã hội ( CTXH) trong quá trình
Những nghiên cứu đã được công bố nói trên chưa có đề tài nào nghiên
cứu về quản lý công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt để đưa ra
được các biện pháp góp phần thúc đẩy hiệu quả của công tác này, những về
mặt lý luận các tài liệu trên cũng đã chỉ ra các khái niệm về trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt, các vấn đề tâm sinh lý của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhu
cầu chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; có nghiên cứu đã theo
3
cách tiếp cận mới là dựa trên quyền trẻ em, về mặt thực tiễn cũng đã chỉ ra
thực trạng công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại một số địa
phương. Trên cơ sở kết quả của các nghiên cứu cũng là nguồn tài liệu rất quan
trọng giúp cho các định hướng của tác giả khi thực hiện nghiên cứu đề tài
“Quản lý công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt từ thực tiễn
tỉnh Gia Lai”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý CTXH đối với trẻ em có
HCĐB tại tỉnh Gia Lai, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý CTXH
đối với trẻ em có HCĐB từ thực tiễn tỉnh Gia Lai nhằm giúp CTXH trong
lĩnh vực này tại tỉnh đạt hiệu quả cao hơn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý CTXH đối với trẻ em có
HCĐB
Tìm hiểu, phân tích đánh giá về thực trạng QLNN về CTXH đối với trẻ
em có HCĐB tại tỉnh Gia Lai
Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CTXH đối với
nhóm trẻ em có HCĐB tại tỉnh Gia Lai.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
luận về công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: các khái niệm cơ
bản, vấn đề lý luận liên quan đến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, quản lý CTXH
với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
5.2.2 Phương pháp quan sát
Quan sát các hoạt động quản lý công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt đối với lĩnh vực công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt tại tỉnh Gia Lai.
Mục đích của phương pháp: Thông qua quan sát hoạt động thực tiễn
của cán bộ quản lý CTXH đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở tỉnh Gia Lai
làm phong phú thêm cho các kết quả nghiên cứu phương pháp điều tra bằng
bảng hỏi.
5.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Tiến hành các cuộc phỏng vấn sâu các cán bộ quản lý công tác xã hội
đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhân viên công tác xã hội tại tỉnh Gia
Lai Chúng tôi sẽ tiến hành phỏng vấn 3 cán bộ cấp Sở, 17 cán bộ cấp huyện,(
thị xã, thành phố ) và 5 nhân viên công tác xã hội các cấp.
5
Mục đích của phương pháp: Để có thông tin sâu hơn về đối tượng
nghiên cứu, đề tài cũng tiến hành các cuộc phỏng vấn sâu đối với cán bộ quản
lý công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhằm khai thác có chiều
sâu hơn các nội dung mà phương pháp điều tra định lượng không phù hợp hoặc
bổ sung cho cách tiếp cận này cho kết quả định lượng thêm phong phú.
5.2.4 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích của phương pháp: Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là
phương pháp nghiên cứu chính của đề tài này là phương pháp nghiên cứu
định lượng dựa trên các khái niệm đã được thao tác hóa. Bảng hỏi là công cụ
thu thập thông tin chủ yếu trong cuộc điều tra này, câu hỏi được xây dựng
Những phát hiện của nghiên cứu sẽ làm cơ sở khoa học cho các nhà quản lý
trong việc hoạch định cơ chế chính sách và xây dựng các chương trình, kế
hoạch, đề án, chiến lược bảo vệ trẻ em, cung cấp các dịch vụ CTXH chuyên
nghiệp cho trẻ em có HCĐB tại tỉnh Gia Lai góp phần thực hiện tốt nhất các
quyền cơ bản của trẻ, nhất là trẻ em có HCĐB.
7. Kết cấu của luận văn
Nội dung luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý công tác xã hội đối với trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt.
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt tại tỉnh Gia Lai.
Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác xã hội đối
với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt từ thực tiễn tỉnh Gia Lai.
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT
1.1. Những vấn đề lý luận về quản lý công tác xã hội đối với trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt
1.1.1. Khái niệm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
1.1.1.1 Khái niệm trẻ em:.
Trẻ em là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau.
Tùy theo nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hay cấp độ đánh giá mà đưa ra
những định nghĩa hay khái niệm về trẻ em. Có thể tiếp cận về mặt sinh học,
tiếp cận về mặt tâm lý học, y học, xã hội học… Tuy vậy, trong các định nghĩa
và khái niệm đó đều có những điểm chung và thống nhất là căn cứ vào tuổi
đời để xác định số lượng trẻ em. Điều 1, Công ước về Quyền trẻ em năm
- Trẻ em bị xâm hại tình dục.
- Trẻ em nghiện ma túy.
- Trẻ em vi phạm pháp luật.
1.1.2.3. Các nguyên nhân gây ra hoàn cảnh đặc biệt.
Theo số liệu thống kê, khoảng 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn, bao gồm: trẻ nhiễm HIV/AIDS, trẻ em nghiện ma túy, trẻ em bị xâm
hại tình dục, trẻ em mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em khuyết tật nặng, trẻ em
là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em lao động nặng nhọc, nguy hiểm, trẻ
em vi phạm pháp luật, trẻ em làm việc xa gia đình, trẻ em lang thang, trẻ em
lao động sớm...
Có rất nhiều nguyên nhân nhưng có thể chia làm 2 nhóm nguyên nhân.
Đó là, nhóm nguyên nhân khách quan và nhóm nguyên nhân chủ quan.
Nhóm nguyên nhân khách quan:
+ Nguyên nhân về kinh tế: Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường,
khó tránh khỏi sự phân hoá giàu nghèo, phân hoá xã hội. Gốc rễ của vấn đề
này là quy luật cạnh tranh, một bộ phận dân cư giàu lên nhanh chóng và bộ
phận dân cư khác không đủ sức cạnh tranh sẽ bị rơi vào tình trạng nghèo,
nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
Bên cạnh đó, sự chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp dân cư, giữa
các vùng cũng làm gia tăng trẻ em lang thang kiếm sống, lao động trẻ em và
trẻ em bị xâm hại tình dục...
9
Mặt khác, lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền làm một số giá trị đạo
đức xã hội bị đảo lộn: li dị, li thân, bỏ rơi con cái, mức độ quan tâm của cộng
đồng, làng, xã đối với trẻ em ngày càng giảm sút. Trẻ em thường rất nhạy
cảm với sự thay đổi của môi trường, do vậy tình trạng bỏ nhà ra đi, trộm cắp,
bụi đời, nghiện hút ngày càng gia tăng ở lứa tuổi các em.
Hậu quả chất độc hoá học trong chiến tranh còn kéo dài cho nhiều thế
hệ và để lại gánh nặng cho xã hội mà đối tượng gánh chịu trực tiếp là số trẻ
em tàn tật được sinh ra.
Nhóm nguyên nhân chủ quan: Do nhận thức về vấn đề trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn còn hạn chế, không chỉ riêng nhận thức của trẻ em, gia
đình mà còn cả xã hội về vấn đề trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn còn
nhiều hạn chế, chưa thấy được trách nhiệm tổ chức thực hiện và nguy hại đối
với xã hội. Đặc biệt là mối quan hệ gắn liền vấn đề trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn với phát triển nguồn nhân lực cao trong tương lai.
Sự thiếu hụt về đầu tư của Nhà nước vào một số vùng, địa phương, sự
thiếu quan tâm của các cấp, chính quyền, sự thiếu trách nhiệm của một số bậc
cha mẹ trong việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em, sự nhạy cảm của trẻ
em với môi trường sống đang là những nguyên nhân làm cho tình trạng trẻ rơi
vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ngày càng tăng.
+ Những nguyên nhân thuộc về gia đình: Những biến đổi nhanh chóng
của sản xuất, đời sống, giao thông liên lạc, thông tin đại chúng... đang làm
thay đổi những mối quan hệ của con người trong gia đình và xã hội. Hiện
tượng li hôn, li thân, sinh con ngoài giá thú, bỏ rơi con... không còn là cá biệt
mà đã trở thành phổ biến tăng lên nhiều lần trong những năm qua.
Bên cạnh đó, một số bậc cha mẹ khác do phải lo kinh tế thiếu sự chăm
sóc, bỏ mặc con cái khi các em bỏ học hoặc đi lang thang, kiếm sống, bụi
đời... Một số khác có xu hướng khuyến khích con cái bỏ học đi làm nhằm
tăng thêm thu nhập cho gia đình và bớt gánh nặng về kinh tế. Số gia đình
khác do quá nghèo hoặc bệnh tật, sức khoẻ yếu... không đủ điều kiện để chăm
sóc hoặc cho con đi học...
Ngoài ra, một số gia đình bố mẹ quá khắt khe, cư xử thô bạo, hắt hủi
con cái làm chúng sợ hãi, xa lánh... Chính sự thiếu hiểu biết, nhận thức hạn
chế, thiếu trách nhiệm hoặc thiếu biện pháp quản lý trong việc chăm sóc con
cái của một số bậc cha mẹ và gia đình là một trong những nguyên nhân dẫn
đến tình trạng gia tăng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Đặc điểm tâm lý
Trẻ em có HCĐB là nhóm trẻ không được sống và lớn lên trong điều
kiện bình thường như các trẻ em khác. Các em phải trải qua, phải chịu đựng và
phải đối phó với những biến cố đặc biệt xảy ra trong giai đoạn trẻ thơ của
mình. Những biến cố này tác động không nhỏ đến cuộc sống, tâm sinh lý và sự
12
trưởng thành của các em. Những khó khăn trong đời sống mà trẻ gặp phải có
thể dẫn đến những vấn đề nguy hại với tâm lý và sự hình thành nhân cách của
trẻ. Chúng ta biết rằng, ở trẻ em, quá trình xã hội hóa diễn ra mạnh mẽ và liên
tục. Chính quá trình xã hội hóa này hình thành nên nhân cách của trẻ. Trong
quá trình xã hội hóa đó, trẻ tương tác với những cá nhân khác, nhóm khác,
chịu ảnh hưởng của những hệ thống khác nhau. Nhận thức và hành vi của trẻ
chi phối lẫn nhau trong mối quan hệ biện chứng. Cả nhận thức và hành vi của
trẻ đều nằm trong phạm vi tác động của môi trường xung quanh, của sự tương
tác xã hội trẻ tiếp xúc hằng ngày. Cũng chính từ đó, trẻ có thể hình thành
những nhận thức sai lầm về bản thân qua quá trình xã hội hóa, hoặc hệ thống
giáo dục gây sức ép quá lớn tới trẻ dễ khiến trẻ khủng hoảng tâm lý. Bên cạnh
đó, trẻ còn phải đối mặt với nhiều sức ép, ảnh hưởng tiêu cực của hoàn cảnh,
các tệ nạn xã hội như mại dâm, ma túy, tình trạng lang thang, lạm dụng trẻ
em... Tất cả những điều này khiến cho quá trình xã hội hóa của trẻ bị đảo lộn
theo hướng không mong đợi, dễ làm méo mó nhận thức, hành vi và nhân cách
của trẻ. Hệ quả của những vấn đề này để lại trong tâm lý của trẻ rất sâu sắc và
có tính ảnh hưởng lâu dài, nghiêm trọng.
Những vấn đề tâm lý của trẻ có HCĐB thường biểu hiện ở các vấn đề
sau đây
+ Niềm tin huỷ hoại
+ Sự ứng phó với trầm cảm
đảm bảo cho sự phát triển về mặt thể chất của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
Với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhu cầu này rất quan trọng, là cơ sở để tồn
tại của các em, vì vậy, để thỏa mãn nhu cầu này nhiều em bất chấp hiểm nguy
rình rập hàng ngày liên quan đến an toàn về sức khỏe, thậm chí tính mạng.
Thứ hai, nhu cầu về mái ấm gia đình, là chỗ dựa về mặt thể chất và tinh
thần của trẻ em có HCĐB. Gia đình đóng vai trò rất quan trọng, đây là môi
trường xã hội hóa đầu tiên và cũng là mạnh nhất của đưa trẻ. Trong những
trường hợp can thiệp,tách đưa trẻ ra khỏi bố mẹ (gia đình) chúng là trường
hợp bất khả kháng, không còn một giải pháp nào thay thế nữa;
Nhu cầu được giải trí vui chơi (nhu cầu phát triển), học tập, thông qua
những hoạt động này đưa trẻ em có HCĐB được hòa mình vào xã hội tự
khẳng định mình;
Nhu cầu được tôn trọng, trẻ em có HCĐB luôn đòi hỏi nhu cầu này từ
người lớn, ở bạn bè và ở cha mẹ. Sự tôn trọng này sẽ làm tăng sự tự tin, nghị
lực của trẻ em có HCĐB.
14
Nhu cầu cao nhất của trẻ là tự khẳng định mình, chứng minh rằng mình
có năng lực, mình có thể làm được mọi việc.
Nhu cầu đối với từng nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt:
- Đối với trẻ em lang thang, trẻ em di cư:
Trẻ em lang thang thường kiếm sống trên đường phố, hầu hết các em
đều xa nhà, không có chỗ ở ổn định, môi trường sống thiếu an toàn dễ bị lôi
kéo, lạm dụng. Trẻ em lang thang cần được: tư vấn, trợ giúp tâm lý và hỗ trợ
trở về hòa nhập với gia đình. Cung cấp thông tin, kiến thức về pháp luật, kỹ
năng sống, phòng chống tệ nạn xã hội... để biết cách tự chăm sóc và bảo vệ
bản thân; trợ giúp để có một công việc, một nghề phù hợp, một nơi cư trú tạm
thời an toàn. Gia đình của trẻ em lang thang cần có những hiểu biết về mối
toàn, trẻ cần được đưa ra khỏi môi trường lao động hiện tại, được hỗ trợ điều
trị phục hồi sức khoẻ; trẻ và gia đình cần được tư vấn để nhận biết những mối
nguy hại đối với bản thân, được hỗ trợ vốn, kiến thức để phát triển kinh tế, hỗ
trợ để giảm bớt khó khăn trong thời gian đầu, được hỗ trợ học nghề và tìm
việc làm phù hợp. Ðối với những trẻ còn khả năng học tập cần được hỗ trợ
sách vở, quần áo và các điều kiện khác để đến trường.
- Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi:
Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi rất cần có một
môi trường, người chăm sóc tốt, yêu thương gắn bó để trẻ vượt qua được
những khó khăn, mặc cảm của chính mình; trẻ cần có kỹ năng, kiến thức để tự
chăm sóc, bảo vệ, cần có đủ dinh dưỡng để phát triển bình thường như những
trẻ em khác, được học hành, tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí và các
hoạt động xã hội khác để hoà nhập với bạn bè và cộng đồng. Người chăm sóc
trẻ cần được hỗ trợ để có kiến thức, kỹ năng nuôi dạy trẻ, giúp trẻ phát triển
hài hoà về thể chất và tinh thần.Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị
bỏ rơi đến tuổi trưởng thành cần được định hướng nghề nghiệp, được hỗ trợ
học nghề, tạo việc làm để tự lập.
- Trẻ em khuyết tật, tàn tật, trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học,
trẻ em bị tai nạn thương tích nặng, trẻ em nhiễm HIV/AIDS:
Vấn đề lớn nhất đối với nhóm trẻ em này là cần được trợ giúp để điều
trị phục hồi, nâng cao thể trạng sức khoẻ. Trẻ em khuyết tật, tàn tật cần được
học hoà nhập; trẻ em khiếm thính, khiếm thị, trẻ câm điếc cần được học các
lớp chuyên biệt; trẻ cần có các công cụ, phương tiện để giúp trẻ vận động,
phục hồi chức năng. Gia đình và người chăm sóc trẻ phải trẻ phải có kiến thức
chăm sóc tích cực, được tư vấn về các dịch vụ y tế có liên quan; gia đình và
cộng đồng nơi trẻ cư trú cần được truyền thông, tư vấn về chống phân biệt kỳ thị.
16
[36, tr.9].
17
Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Quản lý là tác động có hướng
đích của chủ thể quản lý, dựa trên nhận thức những quy luật khách quan của
hệ quản lý đến các quá trình đang diễn ra nhằm đạt mục đích đặt ra một cách
tối ưu” [25, tr.23].
Từ những quan niệm trên ta có thể hiểu: Quản lý là tác động có tổ
chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý một cách gián
tiếp và trực tiếp thông qua các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.
1.1.3.2. Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền
lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người
để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực
hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
1.1.3.3. Khái niệm quản lý công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Quản lý công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là một bộ
phận quan trọng trong quản lý xã hội. Theo cấp độ quản lý, quản lý CTXH
với trẻ em có HCĐB là cấp độ quản lý nhà nước. Quá trình đó bao gồm các
hoạt động giáo dục của bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương.
Vậy có thể hiểu: “Quản lý công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt là hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước (cấp trung ương,
cấp địa phương) được tổ chức có mục đích, có kế hoạch nhằm tác động tới
đối tượng quản lý liên quan đến lĩnh vực CTXH với trẻ em có HCĐB để
thực hiện mục tiêu đề ra”.
1.1.4 Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.1.4.1 Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow