VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
N U ỄN THỊ THU THỦ
QUẢN LÝ CÔN TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI N ƯỜI KHU ẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN
TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔN
HÀ NỘI, 2016
TÁC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
N U ỄN THỊ THU THỦ
QUẢN LÝ CÔN TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI N ƯỜI KHU ẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN
TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔN
1.2. Lý luận về quản lý công tác xã hội đối với người khuyết tật ............ 16
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công tác xã hội đối với người
khuyết tật................................................................................................... 26
1.4. Cơ sở pháp lý về quản lý công tác xã hội đối với người khuyết tật ...... 30
Chương 2. THỰC TRẠN
CÔN
TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI N ƯỜI KHU ẾT
TẬT TỪ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ THỌ ........................................................ 35
2.1. Đặc điểm địa bàn và khách thể nghiên cứu ....................................... 35
2.2. Thực trạng quản lý công tác xã hội đối với người khuyết tật từ thực
tiễn tỉnh Phú Thọ ...................................................................................... 41
2.3. Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công tác xã hội đối với
người khuyết tật ........................................................................................ 65
Chương 3. MỘT SỐ IẢI PHÁP NÂN CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
CÔN TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI N ƯỜI KHU ẾT TẬT TỪ THỰC
TIỄN TỈNH PHÚ THỌ ................................................................................ 72
3.1. Giải pháp về xây dựng chính sách ..................................................... 72
3.2. Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực ............................................. 73
3.3. Giải pháp về nâng cao nhận thức của cộng đồng và cán bộ làm công
tác quản lý ................................................................................................. 75
3.4. Giải pháp về phát triển cơ sở vật chất và tăng cường nguồn lực về tài
chính.......................................................................................................... 77
KẾT LUẬN .................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 81
Bảng 2.3 Trình độ học vấn phân theo độ tuổi ................................................. 48
Bảng 2.4: Tỷ lệ khuyết tật phân theo dạng khuyết tật và theo giới ................ 52
Bảng 2.5: Tỷ lệ người khuyết tật phân theo mức độ khuyết tật và theo giới.. 53
Bảng 2.6: Tỷ lệ người khuyết tật theo giới và nguyên nhân ........................... 54
Bảng 2.7: Trình độ học vấn của người khuyết tật ........................................... 56
Bảng 2.8. Mức độ ảnh hưởng của năng lực, trình độ cán bộ quản lý ............. 65
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu dạng khuyết tật toàn tỉnh (thống kê năm 2015) ............. 39
Biểu đồ 2.2: Độ tuổi của cán bộ ..................................................................... 44
Biểu đồ 2.3: Độ tuổi của cán bộ quản lý ......................................................... 45
Biểu đồ 2.4: Độ tuổi của cán bộ làm việc trực tiếp với người khuyết tật ....... 46
Biểu đồ 2.5: Trình độ chuyên môn của cán bộ .............................................. 48
Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ người khuyết tật cơ cấu theo giới tính .............................. 50
Biểu đồ 2.7: Độ tuổi người khuyết tật phân theo giới tính ............................. 51
Biểu đồ 2.8: Tỷ lệ người khuyết tật phân theo dạng khuyết tật ...................... 52
Biểu đồ 2.9: Tỷ lệ người khuyết tật phân theo mức độ khuyết tật .................. 53
Biểu đồ 2.10: Tỷ lệ khuyết tật phân theo nguyên nhân .................................. 54
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Người khuyết tật là một vấn đề luôn được Đảng, Nhà nước và xã hội
quan tâm. Ngày 13 tháng 12 năm 2006, Liên hợp quốc đã chính thức thông qua
công ước về quyền của người khuyết tật – một công ước đầu tiên về nhân quyền
trong thế kỷ XXI- để bảo vệ và nâng cao quyền cũng như cơ hội của khoảng 650
triệu người khuyết tật trên toàn thế giới.
Ở Việt Nam, ngày 30 tháng 7 năm 1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã
ban hành Pháp lệnh về người tàn tật và đến ngày 17 tháng 6 năm 2010 Luật
Người khuyết tật số 51/2010/QH12 đã được ban hanh thay thế Pháp lệnh về
sinh mối quan hệ xã hội đa chiều về lợi ích cá nhân, nhóm xã hội, tập thể và nhà
nước. Những vần đề nêu trên không chỉ giải quyết bằng luật pháp, bằng hành
chính, kinh tế, bằng tuyên truyền, giáo dục, vận động xã hội, mà nó đòi hỏi phải
có sự can thiệp mang tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ, chuyên gia được
đào tạo về công tác xã hội, cách giải quyết mang đầy tính nhân văn, nhân ái,
nhân đạo phù hợp với truyền thống và đạo lý của người Việt Nam. Công tác xã
hội nói chung và công tác xã hội đối với người khuyết tật nói riêng được quan
tâm và triển khai tích cực trong các bộ, ngành, địa phương, qua đó đã tác động
làm chuyển biến nhận thức, hành vi của cá nhân, gia đình, cộng đồng đối với
người khuyết tật, góp phần thực hiện tốt hơn việc hỗ trợ người khuyết tật trong mọi
mặt của đời sống.
Công tác xã hội là một nghề mới ở Việt Nam nên còn thiếu tính chuyên
nghiệp, thiếu kinh nghiệm, hệ thống dịch vụ công tác xã hội thiếu đồng nhất,
việc tổ chức thực hiện các hoạt động công tác xã hội đối với các đối tượng nói
chung và đối với người khuyết tật nói riêng hiệu quả chưa cao. Các dịch vụ công
tác xã hội cho các nhóm đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương, trong đó có nhóm
khuyết tật còn hạn chế về số lượng và chất lượng. Do đó cần tăng cường công
tác quản lý để hoạch định chính sách, xây dựng cơ chế quản lý, điều phối, giám
sát và hướng dẫn thực hiện công tác xã hội một cách có hiệu quả nhằm đáp ứng
nhu cầu của đối tượng kịp thời, phù hợp và có chất lượng góp phần giải quyết
các vấn đề an sinh xã hội tiến tới một xã hội công bằng, văn minh và phát triển.
2
Công tác xã hội là một lĩnh vực mới, các công trình nghiên cứu chưa
nhiều, đặc biệt là các nghiên cứu về quản lý công tác xã hội đối với người khuyết
tật. Do đó, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý Công tác xã hội đối với
người khuyết tật từ thực tiễn tỉnh Phú Thọ” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ
của mình..
luôn đảm bảo thực hiện quyền của NKT và luôn nhìn nhận họ là một bộ phận
của nguồn nhân lực, tạo một môi trường bình đẳng và không rào cản tiếp cận cho
NKT; Nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc đời sống, giáo dục, y tế, giao
thông, công nghệ thông tin...Cùng với đó là cải cách thủ tục hành chính, tăng
cường hệ thống giám sát, thực thi cũng như xã hội hóa, phân cấp và tăng cường
sự tham gia của NKT [22, tr. 82].
Tuy nhiên, công tác chăm lo cho người khuyết tật cũng còn gặp nhiều khó
khăn. Đó là vẫn tồn tại những định kiến nhất định cản trở sự hòa nhập và đóng
góp cho xã hội của người khuyết tật. Một số phong trào, hoạt động trợ giúp
người khuyết tật còn hình thức, thiếu bền vững. Công tác kiểm tra, giám sát hoạt
động hỗ trợ người khuyết tật từ trung ương đến địa phương chưa được thường
xuyên, việc điều phối còn chưa kịp thời và kém hiệu quả. Chưa có nhiều cơ
quan, đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh thu hút lao động là người
khuyết tật...
Bài viết cũng đưa ra những định hướng cụ thể cho việc trợ giúp xã hội cho
gia đình và cá nhân người khuyết tật trong thời gian tới nhằm đảm bảo an sinh xã
hội cho người khuyết tật.
- Nguyễn Thị Bảo (2007), Hoàn thiện pháp luật về quyền của người
khuyết tật ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh [13, tr. 82]
Tác giả đã chỉ rõ từ thực tiễn và quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về
quyền của người khuyết tật ở Việt Nam, bên cạnh những mặt tích cực cũng đã
bộc lộ những hạn chế cản trở người khuyết tật hoà nhập vào cộng đồng. Việc
nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn đảm bảo tính pháp lý lâu dài, ổn
định có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong bối cảnh thay đổi mạnh mẽ về kinh tế-
4
xã hội đất nước, hướng tới để bảo vệ, chăm sóc và tạo các điều kiện tốt hơn cho
trong đó có những vấn đề xuất phát từ những quy định của luật còn bất cập so
với điều kiện thực tế của đất nước.
Những nghiên cứu, đề tài, báo cáo trên chỉ tiếp cận ở khía cạnh ảnh hưởng
và tác động của chính sách an sinh xã hội tại địa phương ảnh hưởng đến đời sống
của người khuyết tật và gia đình họ; tìm hiểu về vấn đề chăm sóc sức khỏe, trợ
giúp xã hội, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội, hay đánh giá hiệu quả của việc
thực hiện Luật người khuyết tật dưới góc nhìn của người làm chính sách nói
chung chứ không có đề tài nào đi sâu vào việc nghiên cứu sâu sắc về thực trạng
quản lý công tác xã hội đối với người khuyết tật và các giải pháp nâng hiệu quả
của công tác này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý công tác xã hội đối với người
khuyết tật tại tỉnh Phú Thọ; trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp đẩy mạnh và
phát huy công tác quản lý công tác xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiễn
tỉnh Phú Thọ.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý, quản lý công tác xã hội đối
với người khuyết tật.
- Tìm hiểu, phân tích đánh giá về thực trạng người khuyết tật
- Phân tích và đánh giá các yếu tố tác động đến công tác quản lý công tác
xã hội đối với người khuyết tật tại tỉnh Phú Thọ
- Đề xuất hoạt động quản lý công tác xã hội với người khuyết tật từ thực
tiễn tỉnh Phú Thọ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý công tác xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiễn của tỉnh Phú Thọ.
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Cán bộ lãnh đạo từ cấp phòng trở lên và cán bộ làm việc trực tiếp trong
dụng là phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp bảng hỏi và phương pháp
quan sát là chủ yếu:
7
Phương pháp phân tích tài liệu
Phân tích thông tin, số liệu từ các báo cáo, ấn phẩm, tài liệu liên quan đến
lĩnh vực trợ giúp người khuyết tật và hoạt động công tác xã hội trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ.
Phương pháp bảng hỏi
Phương pháp nghiên cứu chính của đề tài này là phương pháp nghiên cứu
định lượng dựa trên các khái niệm đã được thao tác hóa. Bảng hỏi là công cụ thu
thập thông tin chủ yếu trong cuộc điều tra này, bao gồm những câu hỏi được xây
dựng xoay quanh vấn đề như: thực hiện quản lý công tác xã hội đối với người
khuyết tật. Thông qua việc thu thập và phân tích các thông tin định lượng giúp
đo lường một cách hệ thống các vấn đề mà cuộc nghiên cứu đặt ra.
Phương pháp phỏng vấn sâu
Để có thông tin sâu hơn về đối tượng nghiên cứu, đề tài cũng tiến hành
các cuộc phỏng vấn sâu đối với người khuyết tật được hỗ trợ và cán bộ công tác
xã hội nhằm khai thác tối đa có chiều sâu hơn các nội dung mà phương pháp
điều tra định lượng không phù hợp hoặc bổ sung cho cách tiếp cận này.
Phương pháp quan sát
Là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu xã hội học thực
nghiệm thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập các thông tin từ thực tế
xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Ngoài ra đề tài nghiên cứu còn sử dụng thêm các phương pháp như: thống
kê, lịch sử, xã hội học, tâm lý học.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
nghiên cứu của sinh viên ngành công tác xã hội cũng như phục vụ phần nào cho
công tác giảng dạy và học tập các môn chuyên ngành công tác xã hội.
7. Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục. Nội
dung luận văn được kết cấu thành 3 chương, cụ thể:
9
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý công tác xã hội đối với người
khuyết tật
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác xã hội đối với người khuyết tật từ
thực tiễn tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác xã hội
đối với người khuyết tật từ thực tiễn tỉnh Phú Thọ.
10
NHỮN
Chương 1
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔN TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI N ƯỜI KHU ẾT TẬT
1.1. Người khuyết tật, khái niệm và đặc điểm
1.1.1. Khái niệm về khuyết tật và người khuyết tật
* Khái niệm khuyết tật
Theo Công ước Quốc tế về quyền của NKT của Liên hiệp quốc: “khuyết
tật là một khái niệm đang phát triển và khuyết tật là kết quả của sự ảnh hưởng
khuyết tật của chính họ; mô hình chuyên nghiệp, theo đó nhà cung cấp dịch vụ
tự quyết định cần phải làm gì để điều trị khuyết tật, còn người khuyết tật giữ vai
trò là bệnh nhân thụ động; mô hình từ thiện...
* Các dạng khuyết tật: Khuyết tật vận động; Khuyết tật nghe, nói; Khuyết tật
nhìn; Khuyết tật thần kinh, tâm thần; Khuyết tật trí tuệ; Khuyết tật khác.
* Khái niệm người khuyết tật
Điều 1, Công ước quốc tế về NKT định nghĩa “Người khuyết tật bao gồm
những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác
quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự
tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những
người khác” [36, tr. 83].
Theo Pháp lệnh Người tàn tật, năm 1998, tại Điều 1: “Người tàn tật là
người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện
dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao
động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn” [25, tr.82].
Điều 1, Luật Người khuyết tật được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua, định nghĩa NKT là người bị khiếm
khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được
biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn
[27, tr.83].
Để phù hợp với tổng thể vấn đề nghiên cứu, tác giả lựa chọn khái niệm về
NKT theo Điều 1 của Luật NKT năm 2009.
12
1.1.2. Những khó khăn người khuyết tật thường gặp
1.1.2.1. Khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ giáo dục, dịch vụ dạy nghề,
các dịch vụ y tế, tiếp cận thông tin và trong tiếp cận và sử dụng các phương tiện
giao thông, các công trình công cộng
phát triển về việc làm và tiếp cận với các dịch vụ xã hội khác của NKT.
* Khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế: Công tác chăm sóc sức
khỏe của NKT ngày càng nhận được sự quan tâm của nhà nước và cộng đồng.
Bộ Y tế đã có công văn cho các địa phương triển khai thực hiện Luật NKT;
thành lập Hội đồng tư vấn Phục hồi chức năng quốc gia; triển khai dự án Phục
hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho nạn nhân chất độc da cam/dioxin; hoàn
thiện tài liệu hướng dẫn phát hiện sớm, can thiệp sớm; tổ chức tập huấn cho cán
bộ chủ chốt tuyến tỉnh về phát hiện sớm, can thiệp sớm; xây dựng, hoàn thiện tài
liệu hướng dẫn chẩn đoán một số bệnh, tật, dị dạng do chất độc hoá học/dioxin.
Tuy nhiên, NKT vẫn khó khăn trong tiếp cận với các dịch vụ y tế, nhất là NKT ở
vùng sâu, vùng xa khó khăn, điều kiện đi lại không thuận tiện. Nhiều địa phương
do điều kiện khó khăn nên công tác chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng chưa được
quan tâm thực hiện. Công tác phục hồi chức năng cho NKT tại cộng đồng không
được thực hiện đồng đều ở các khu vực, dụng cụ phục hồi chức năng còn nghèo
nàn hoặc không phù hợp với độ tuổi, dụng cụ thô sơ, tính an toàn không cao.
Hậu quả đối với NKT do không tiến cận được dịch vụ y tế: không được chữa trị,
can thiệp, phục hồi chức năng… điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến sức khỏe thể
chất và tinh thần của họ; Hạn chế sự phát triển tâm lý của NKT, do không được
phục hồi về thể chất kịp thời.
* Khó khăn khi tiếp cận thông tin, một số dạng tật ở NKT ảnh hưởng đến
khả năng tiếp cận mạng lưới viễn thông và công nghệ thông tin cũng như nhiều
hoạt động khác trong cuộc sống như: rối loạn lời nói, khiếm thính, khiếm thị, dị
dạng, thương tật ở các chi hay khuyết tật vận động. Từ đó dẫn đến hậu quả là
NKT không được tiếp nhận những thông tin đầy đủ, dẫn đến hạn chế cơ hội;
nhìn nhận sự vật có thể phiến diện, một chiều; mất đi cơ hội trong cuộc sống và
cơ hội về xây dựng và phát triển quan hệ xã hội; mất đi sự tin và tự chủ khi thực
14
1.1.2.4. Thái độ kỳ thị, phân biệt đối xử của cộng đồng (đôi khi của chính
gia đình người khuyết tật).
Trên thực tế, thái độ kỳ thị và phân biệt đối xử với NKT ngay trong gia
đình, cộng đồng và xã hội gây ra nhiều trở ngại cho NKT trên các phương diện.
Đã có những nghiên cứu chứng minh quan niệm của cộng đồng về NKT là
những người đáng thương, sống ỉ nại, không thể có cuộc sống bình thường, NKT
bị như vậy là do số phận … từ quan niệm đó dẫn đến thái độ phổ biến là coi
thường NKT, coi là gánh nặng suốt đời, coi là vô dụng, bỏ mặc ít chăm sóc
…Vòng lẩn quẩn của sự phân biệt đối xử vô hình chung đã cô lập người khuyết
tật với cộng đồng đẩy họ vào tình thế là gánh nặng của gia đình và xã hội. Vì
vậy, mặc dù nhiều chính sách mới dành cho NKT đã được thông qua và khuyến
khích họ tham gia vào các hoạt động của xã hội, song đa số NKT vẫn thụ động
nhận các chương trình từ thiện từ các nhà hảo tâm. Một thông điệp của một
trong những người đại diện cho tổ chức Hội NKT chuyển đến mọi người tại diễn
đàn của Hội nghị biểu dương NKT tiêu biểu toàn quốc lần thứ IV “Người khuyết
tật cần sự chia sẻ chứ không cầu lòng thương hại, hãy tạo cơ hội cho họ bình
đẳng như mọi công dân lành lặn khác”.
1.2. Lý luận về quản lý công tác xã hội đối với người khuyết tật
1.2.1. Một số khái niệm
* Khái niệm về quản lý
Quản lý là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con
người. Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quản lý như:
Theo Các Mác, tất cả mọi lao động sản xuất trực tiếp hay lao động chung nào
tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến 1 sự chỉ đạo để
điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện các chức năng chung phát sinh từ
sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất… “Một người độc tấu vĩ cầm tự điều
khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng.”
Như vậy, theo Các Mác : Quản lý là loại lao động sẽ điều khiển mọi quá trình
17
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ
chức có định hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) lên
khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, xã hội, văn hóa, kinh tế bằng
một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và
biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối
tượng‟‟ [14, tr. 82]
Có tác giả lại quan niệm: “Quản lý là tác động vừa có tính khoa học, vừa
có tính nghệ thuật vào hệ thống con người, nhằm đạt các mục tiêu kinh tế - xã
hội, quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức trên các thông
tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối
tượng ổn định và phát triển tới mục tiêu đã định”.
Theo tác giả Phan Văn Kha: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức,
lãnh đạo và kiểm tra các quá trình tự nhiên, xã hội, khoa học, kỹ thuật và công
nghệ để chúng phát triển hợp quy luật, các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng)
vật chất và tinh thần, hệ thống tổ chức và các thành viên thuộc hệ thống, các hoạt
động để đạt được các mục đích đã định‟‟ [19, tr.82]
Các khái niệm “Quản lý‟‟ tuy có khác nhau nhưng chúng có chung
những điểm chủ yếu sau đây: Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ
chức hay một nhóm xã hội, chúng là những tác động có tính định hướng. Những
tác động đó được phối hợp nỗ lực của cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ
chức.
Tóm lại, có thể hiểu quản lý là một quá trình tác động có tổ chức, có
định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả
nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong
điều kiện biến động của môi trường.
* Khái niệm về quản lý công tác xã hội
Theo quan điểm của Duham, ông mô tả quản trị công tác xã hội là : “một
tiến trình hỗ trợ hay tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động cần thiết và chủ yếu
đối với việc cung cấp trực tiếp dịch vụ của một cơ sở xã hội. Các hoạt động này
bao gồm từ việc xác định chức năng, nhiệm vụ, các chính sách, việc lãnh đạo điều
19