VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ THỊ TÂM TÌNH
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI CAO TUỔI TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÀ TĨNH
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số
: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. VÕ KHÁNH VINH
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân
tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Võ Khánh Vinh.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là
trung thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./.
Học viên
Ngô Thị Tâm Tình
BHYT
Bảo hiểm y tế
CTXH
Công tác xã hội
CLB
Câu lạc bộ
CSSK
Chăm sóc sức khỏe
ESCAP
Kinh tế của Liên Hiệp Quốc và Ủy ban xã hội
Châu Á Thái Bình Dương
LĐTBXH
Lao động thương binh xã hội
NCT
Người cao tuổi
Cơ cấu người cao tuổi tỉnh Hà Tĩnh năm 2015
25
Bảng 1.3
Tỷ lệ người cao tuổi phân chia theo độ tuổi
26
Bảng 1.4
Những bệnh người cao tuổi tỉnh Hà Tĩnh thường
mắc trong 12 tháng vừa qua
29
Bảng 1.5
Số bệnh của người cao tuổi tỉnh Hà Tĩnh
30
Bảng 1.6.
Người cao tuổi tỉnh Hà Tĩnh biết về chăm sóc
30
và bảo vệ sức khỏe
Hà Tĩnh
40
Bảng 1.13. Tình hình kinh tế của người cao tuổi so với nhu cầu
sinh hoạt hàng ngày
41
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam trong quá trình đổi mới toàn diện, hơn hai thập kỷ qua đã tạo
ra những thay đổi tích cực về kinh tế - xã hội, mức sống và có nhiều dịch vụ
phúc lợi của đại bộ phận dân cư được nâng lên. Tuy vậy đi kèm với những đổi
mới trên là tồn tại một khoảng cách lớn giữa những người được hưởng lợi và
những đối tượng yếu thế. Vì thế đòi hỏi cần có những dịch vụ công tác xã hội
chuyên nghiệp để có thể giải quyết các vấn đề một cách khoa học và hiệu quả
nhằm thúc đẩy an sinh xã hội. Người cao tuổi nước ta là lớp người “cây cao,
bóng cả”, có vai trò quan trọng trong việc kết nối các giá trị truyền thống về
đạo đức, lịch sử và văn hoá giữa các thời đại. Là lớp người đã từng trải qua
hai cuộc kháng chiến gian khổ, có công lớn trong sự nghiệp giải phóng dân
tộc. Là lớp người đã có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp đổi mới,
phát triển đất nước.
Nước ta được đánh giá là một nước có số người cao tuổi ngày càng gia
tăng nhanh. Điều đó tạo áp lực cho hệ thống hạ tầng cơ sở hiện có, hệ thống
dịch vụ sức khỏe, giao thông, đi lại… cho người cao tuổi cũng như quan hệ
gia đình, tâm lý, lối sống, chăm sóc người cao tuổi và đảm bảo chất lượng
chăm sóc người cao tuổi…chắc chắn sẽ làm cho những vấn đề kinh tế - xã
hội, môi trường thêm khó khăn và có nhiều biến động không thể lường trước.
cuộc sống. Vì những lý do trên tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Dịch vụ Công
tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn tỉnh Hà Tĩnh” làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua nghiên cứu của giảng viên Nguyễn Thị Như Hương đã bảo vệ
thành công luận văn thạc sỹ với đề tài:“Công tác xã hội với thương bệnh binh
tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình” [33] và Luận văn thạc sỹ “Trợ
giúp xã hội đối với người cao tuổi tại cộng đồng (Nghiên cứu tại xã Trực
Tuấn, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định)” của Đồng Thị Minh Phúc [34], luận
2
án tiến sỹ “Một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi
Việt Nam” của giảng viên trường Đại học Kinh tế Quốc dân Phạm Vũ Hoàng
[35], đã cho thấy việc nghiên cứu đa dạng với các khía cạnh khác nhau về
người cao tuổi nhưng chủ yếu dừng lại ở các nghiên cứu mang tính chất của
chuyên ngành xã hội học là chủ yếu. Đề tài thuộc lĩnh vực nghiên cứu của
công tác xã hội đối với người cao tuổi còn rất ít. Những nghiên cứu trên chỉ
mới tiếp cận ở khía cạnh chủ yếu như: tìm hiểu về chăm sóc sức khỏe hoặc
phân tích thực trạng cũng như các đặc điểm lao động và sắp xếp công việc
trong gia đình của người lao động hay đánh giá hiệu quả chính sách của công
tác xã hội. Cho đến nay vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề dịch vụ
công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn của tỉnh Hà Tĩnh. Có chăng
các nghiên cứu về dịch vụ xã hội mới chỉ đi vào đánh giá nhu cầu hay dịch vụ
xã hội một cách chung nhất hoặc cũng đã đề cập tới khía cạnh dịch vụ xã hội
nhưng chưa chú trọng tới các dịch vụ trợ giúp xã hội từ góc độ công tác xã hội.
Vì vậy để đưa ra căn cứ khoa học phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ về trợ
giúp xã hội tôi xin nghiên cứu đề tài: “Dịch vụ Công tác xã hội đối với người
cao tuổi từ thực tiễn tỉnh Hà Tĩnh” nhằm góp phần phát triển và nâng cao
2010 - 2015 và đề xuất kiến nghị giai đoạn 2016 – 2020 trên địa bàn Hà Tĩnh.
- Phạm vi không gian: Khảo sát trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Dịch vụ công tác xã hội đối với người
cao tuổi.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Các tài liệu, Luật Người cao tuổi, các chính sách, các tài liệu có liên
quan đến dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi. Phân tích các thông
tin đã thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau, từ đó tổng hợp và đưa ra các
nhận xét, đánh giá. Đồng thời, sử dụng phương pháp này nhằm thu thập, tổng
hợp, phân tích tài liệu từ sách, báo, tạp chí và các báo cáo khoa học để xây
dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu.
4
5.2. Phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp phỏng vấn bảng hỏi
Đây là phương pháp chính được tác giả sử dụng trong đề tài nghiên
cứu của mình. Phương pháp này tác giả sử dụng trên đối tượng là những NCT
và cán bộ hội NCT trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, phòng Lao động - Thương binh
xã hội các huyện, thị xã . Đối tượng phỏng vấn 150 người thuộc ba nhóm đối
tượng trên. Với phương pháp này ở nội dung phỏng vấn cán bộ Hội NCT,
Phòng Lao động – Thương binh - Xã hội các huyện, thị chúng tôi thu thập
những thông tin nhằm tìm hiểu những vấn đề: Các dịch vụ xã hội nào đã được
triển khai và đáp ứng ở địa phương, cộng đồng người cao tuổi sinh sống? Nhu
cầu của người cao tuổi đối với các dịch vụ Công tác xã hội, những khó khăn
cũng như những thuận lợi khi tiếp cận với các dịch vụ đó…
b) Phương pháp đàm thoại.
Đàm thoại với 13 cán bộ Phòng Lao động thương binh xã hội của các
hội chuyên nghiệp trong lĩnh vực chăm sóc, trợ giúp người cao tuổi.
Bản thân sau khi nghiên cứu đề tài sẽ củng cố, mở rộng kiến thức về công tác
xã hội nói chung và các dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi nói
riêng, từ đó rút ngắn khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực này.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu, các phụ lục luận văn
còn có 3 chương, gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật về dịch
vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi
Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi
tại Hà Tĩnh
Chương 3: Định hướng và giải pháp bảo đảm thực hiện dịch vụ công
tác xã hội tại tỉnh Hà Tĩnh
Chương 1
6
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
1.1. Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi
Trên thế giới, công tác xã hội phát triển như một nghề nhằm giải quyết
các vấn đề xã hội. Thông qua hỗ trợ và tác động đối với cá nhân, gia đình,
nhóm đối tượng, cộng đồng và hệ thống xã hội, CTXH nhằm giải quyết vấn
đề xã hội, tăng cường phúc lợi và công bằng xã hội. Công tác xã hội đã ra đời
do nhu cầu xã hội trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa; đã có quá
trình phát triển hơn 100 năm qua trên thế giới. Công tác xã hội chuyên nghiệp
đã tồn tại ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, đối với Việt Nam nghề công tác xã hội mới chỉ ở bước đầu
quan đến nhiều lĩnh vực của các Bộ, ngành. Pháp luật Việt Nam đã có một số
văn bản quy định trực tiếp về CTXH như Luật nuôi con nuôi, Nghị định số
19/2011/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn Luật nuôi con nuôi, Nghị định 67
và Nghị định 13 về chính sách bảo trợ xã hội…[5,6,7]. Bên cạnh đó có nhiều
văn bản mặc dù không quy định cụ thể về CTXH nhưng đã có quy định thể
hiện khá rõ nét bản chất của CTXH và dịch vụ công tác xã hội [2,3,4].
- Việc tổ chức thực hiện các quy định có liên quan đến công tác xã hội
và dịch vụ công tác xã hội về cơ bản đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền,
lãnh đạo các ban ngành, tổ chức quan tâm chỉ đạo, triển khai và đã đạt được
nhiều kết quả đáng ghi nhận, đó là cơ sở để từng bước đóng góp vào sự phát
triển, hoàn thiện ngành, nghề CTXH ở Việt Nam [9,20,21,22].
8
1.1.1.Các khái niệm
1.1.1.1. Dịch vụ
Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con
người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu
hình) như hàng hóa nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội.
Dịch vụ xã hội là hoạt động cung cấp, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân,
nhóm người nhất định nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội.
1.1.1.2. Công tác xã hội
Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự phát triển xã hội, giải quyết các vấn
đề trong các mối quan hệ tương tác, tăng năng lực và tạo khả năng giải phóng
con người nhằm thúc đẩy an sinh xã hội. Sử dụng các học thuyết về hành vi
con người trong môi trường xã hội, công tác xã hội can thiệp vào những điểm
khi con người tương tác với các môi trường của mình. Nhân quyền và công
bằng xã hội là những nguyên tắc nền tảng của nghề công tác xã hội.
Theo từ điển công tác xã hội định nghĩa: “CTXH đó là một ngành khoa
với người cao tuổi dù ở cộng đồng hay ỏ các cơ sở xã hội đều có những khó
khăn khác nhau trong cuộc sống, ngay cả khi họ được nhà nước tạo cơ hội để
có những dịch vụ trợ giúp. Khó khăn ở mỗi đối tượng có thể khác nhau ở mức
độ và một số khía cạnh cụ thể, song khó khăn nổi trội nhất vẫn là khía cạnh
sức khỏe, tài chính, những bất ổn tâm lý và sự hòa nhập xã hội. Điều này cho
thấy cần có các dịch vụ khác nhau để cung cấp nhu cầu đa dạng cho nhóm đối
tượng người cao tuổi trong xã hội.
Việc này đòi hỏi người cung cấp dịch vụ phải xác định được nhu cầu
của từng đối tượng và khả năng trợ giúp để đưa ra những quyết định đúng
đắn, phù hợp và hiệu quả nhất. Do vậy, người cung cấp dịch vụ cần tính tới
một kế hoạch trợ giúp tổng thế với sự trợ giúp của các cơ sở dịch vụ khác
nhau để đảm bảo vấn đề của họ được giải quyết càng nhiều khía cạnh càng tốt
như vậy sự trợ giúp sẽ mang tính bền vững. Một cơ sở thường không có khả
10
năng đáp ứng được hết các nhu cầu của đối tượng, muốn vậy người cung cấp
dịch vụ mà ở đây là nhân viên CTXH cần kết nối và chuyển gửi đối tượng tới
những cơ sở cung cấp dịch vụ khác. Đối với người cao tuổi việc cung cấp các
dịch vụ không chỉ là các dịch vụ cơ bản mà còn có các dịch vụ nâng cao về mặt
tinh thần, ổn định đời sống văn hóa cho người cao tuổi. Nếu được trợ giúp một
cách chuyên nghiệp, đảm bảo tính liên tục của các dịch vụ xã hội sẽ giúp cho
người cao tuổi giải quyết vấn đề một cách xuyên suốt, không bị ngắt đoạn.
1.2. Chính sách pháp luật về dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi
1.2.1. Những chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam
Sau khi Hội Người cao tuổi Việt Nam được thành lập (10/5/1995), Ban
Bí thư TW đã ban hành Chỉ thị 59/CT-TW “Về chăm sóc người cao tuổi”,
quy định: “Việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là
trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Hội Người cao tuổi Việt
đến 2 cán bộ chuyên trách đồng thời khẳng định: “Nhà nước tiếp tục trợ cấp
kinh phí hoạt động cho Hội. Các cơ quan có chức năng của Nhà nước tạo
thuận lợi, bảo đảm cấp kinh phí kịp thời cho Hội”.
Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng ghi rõ: “Vận động toàn dân
tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với lão
thành cách mạng, những người có công với nước, người hưởng chính sách xã
hội. Chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người già, nhất là những
người già cô đơn, không nơi nương tựa…”[24].
Như vậy, từ Chỉ thị 59/CT-TW, các văn kiện Đại hội Đảng và Thông
báo số: 12 TB/TW của Ban Bí thư TW Đảng đều khẳng định: Người cao tuổi
là nền tảng của gia đình, là tài sản vô giá, nguồn lực quan trọng cho sự phát
triển xã hội. Vì thế, chăm sóc và phát huy tốt vai trò người cao tuổi là thể hiện
bản chất tốt đẹp của chế độ ta và đạo đức người Việt Nam, góp phần tăng
cường khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh [5].
1.2.2. Chính sách và pháp luật của Nhà nước về người cao tuổi
12
1.2.2.1. Chính sách của Nhà nước Việt Nam về người cao tuổi
Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 quy định
chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội trong đó người cao
tuổi từ 80 tuổi trở lên được hưởng cấp bảo hiểm y tế miễn phí, trợ cấp hàng
tháng 270.000 đồng/tháng, được hỗ trợ mai tang phí khi từ trần…[10].
Thông tư liên tịch số 29/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 24 tháng 10
năm 2014 về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số
136/2013/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo
trợ xã hội [1].
Trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, thực hiện theo Quyết định số 06/2015/QĐUBND ngày 13 tháng 2 năm 2015 về việc quy định mức trợ giúp xã hội đối
mình”[5].
Luật Lao động sửa đổi năm 2012 quy định tại Mục 2 Điều 166:
“Người lao động cao tuổi được rút ngắn thời giờ làm việc hằng ngày hoặc
được áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian” Và tại Mục 2 Điều 167:
“Không được sử dụng người lao động cao tuổi làm những công việc nặng
nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ người lao động cao
tuổi, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ” và trong điều này
có ghi “Người sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khoẻ
của người lao động cao tuổi tại nơi làm việc”.
Điều 151 của Bộ luật Hình sự quy định: “Tội ngược đãi hoặc hành hạ
ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình” và
Điều 152 quy định “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng”. Bên
cạnh đó, luật cũng quy định một số tình tiết giảm nhẹ khi “người phạm tội là
người già”.
Từ ngày 1/7/2010, Luật Người cao tuổi có hiệu lực, Luật Người cao
tuổi thể hiện rất rõ nét tính ưu việt cũng như truyền thống "uống nước nhớ
nguồn" của xã hội ta. Ngoài việc được Nhà nước, các tổ chức, đoàn thể chúc
thọ, mừng thọ theo quy định, người cao tuổi sẽ được chăm sóc sức khỏe thông
qua việc định kỳ khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế, đặc biệt ưu tiên cho
14
người đủ 80 tuổi trở lên. Các bệnh viện sẽ thành lập các khoa lão khoa hoặc
dành một số giường để điều trị người bệnh cao tuổi. Người cao tuổi được
chăm sóc đầy đủ hơn về đời sống tinh thần trong hoạt động văn hoá, giáo dục,
thể dục, thể thao, giải trí, du lịch, hưởng phúc lợi từ các công trình công cộng
và giao thông công cộng do Nhà nước và xã hội đầu tư. Chính phủ sẽ ban
hành danh mục dịch vụ mà người cao tuổi sử dụng với mức miễn, giảm nhất
định. Mặc dù đất nước còn khó khăn nhưng Đảng, Chính phủ vẫn bố trí một
chăm sóc người cao tuổi cho các thành viên trong gia đình để họ tạo ra môi
trường hỗ trợ tốt nhất cho người cao tuổi. Nhân viên công tác xã hội cũng tư
vấn, hướng dẫn các công việc phù hợp với tuổi già, tạo niềm vui, tạo thu nhập
làm giảm cảm giác lệ thuộc; vận động cộng đồng (làng xóm) quan tâm giúp
đỡ người cao tuổi sống một mình…
1.4. Nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội khi làm việc với người cao tuổi
1.4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận
Công tác xã hội đối với người cao tuổi là một lĩnh vực khoa học khá mới
mẻ của Việt Nam, vì vậy nhiệm vụ hàng đầu của nhân viên công tác xã hội
đối với người cao tuổi là xây dựng và phát triển hệ thống các khái niệm, phạm
trù, lý thuyết đặc thù của công tác xã hội đối với người cao tuổi. Ví dụ có sự
thống nhất về khái niệm công tác xã hội đối với người cao tuổi.
Nhân viên công tác xã hội đối với người cao tuổi có nhiệm vụ hình thành
và phát triển công tác nghiên cứu lý luận để vừa củng cố hệ thống khái niệm
vừa tìm tòi tích lũy tri thức tiến tới phát triển nhanh, mạnh về lý luận và
phương pháp tiếp cận trợ giúp thân chủ.
Đồng thời nhân viên công tác xã hội cần nghiên cứu một cách bài bản, hệ
thống những vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm đáp ứng nhu cầu về điều kiện
vật chất cũng như tinh thần của người cao tuổi trong giai đoạn hiện nay.
1.4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu thực nghiệm
16
Đây là một nhiệm vụ quan trọng của nhân viên công tác xã hội đối với
người cao tuổi. Công tác xã hội đối với người cao tuổi tiến hành nghiên cứu
thực nghiệm nhằm kiểm nghiệm, chứng minh các vai trò, vị trí, đặc điểm tâm
sinh lý…của người cao tuổi trong thực tiễn.
Phát hiện những bằng chứng và vấn đề mới làm cơ sở cho việc sửa đổi,
phát triển và hoàn thiện các khái niệm, lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
cố bằng sức mạnh và tấm gương của quần chúng của thói quen, phong tục.
Cũng như mọi ngành nghề tồn tại trong xã hội, đặc biệt là những nghề
có mối liên hệ xã hội sâu rộng, công tác xã hội cần thiết phải xây dựng các
tiêu chuẩn đạo đức của mình. Các tiêu chuẩn đạo đức (hay còn gọi là các chế
định đạo đức) có thể tồn tại ở dạng thành văn, được công bố chính thức và
rộng rãi trong toàn xã hội, cũng có thể chỉ tồn tại dưới dạng những quy ước
ngầm thông qua các hành vi ứng xử và sự chấp nhận trong cộng đồng. Nhưng
dù tồn tại dưới dạng nào thì những tiêu chuẩn đó vẫn phải phản ánh mức độ
chuyên nghiệp hóa của nghề nghiệp và thể hiện được mong muốn của xã hội
đối với nghề. Tính chuyên nghiệp và ảnh hưởng xã hội của nghề càng cao thì
yêu cầu về sự chuẩn hóa càng lớn. Do vậy, một nghề cụ thể khi phát triển đến
một trình độ nhất định bao giờ cũng phải xây dựng cho mình những bảng tiêu
chuẩn nghề nghiệp cụ thể. Trong đó, tiêu chuẩn đạo đức nghề luôn được đặt
lên hàng đầu.
Trong thời điểm hiện nay, khi công tác xã hội ở nước ta đang bắt đầu
những bước đi đầu tiên, vấn đề đạo đức nghề nghiệp cần phải được nhận thức
một cách đầy đủ hơn bao giờ hết. Đạo đức trong công tác xã hội hay nói cách
khác, các chế định đạo đức của công tác xã hội bao gồm một hệ thống các giá
trị, nguyên tắc và một tập hợp các chuẩn mực hành vi. Chúng được sắp xếp
theo ba cấp độ trong các văn bản quy định về đạo đức của các hội nghề
nghiệp công tác xã hội ở các quốc gia. Trong đó, hệ thống các điều khoản quy
định các chuẩn mực hành vi đạo đức thường được nói tới nhiều hơn cả.
18
1.5.2. Nguyên tắc cơ bản khi nhân viên công tác xã hội tiếp xúc với người
cao tuổi
Có thể nêu lên bốn nguyên tắc cơ bản như sau:
- Nguyên tắc thứ nhất: Hoạt động vì phúc lợi và hạnh phúc của người