VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRỊNH THỊ CÁNH
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI CAO TUỔI TỪ
THỰC TIỄN TRUNG TÂM NUÔI DƢỠNG
NGƢỜI GIÀ NEO ĐƠN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số
: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HÀ THỊ THƢ
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc
sĩ Công tác xã hội về “Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn
Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” là hoàn
toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
KẾT LUẬN………..……………….………………………………….………......72
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................…………………………………………..74
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASXH
An sinh xã hội
Công tác xã hội
CTXH
CSSK
Chăm sóc sức kỏe
LĐTBXH
Lao động – Thương binh và Xã hội
NCT
Người cao tuổi
NV CTXH
Nhân viên công tác xã hội
Bảng 2.6. Đánh giá của NCT về các yếu tố ảnh hưởng đến CTXH đối với
NCT...........................................................................................................................53
Bảng 2.7. NCT đánh giá những yếu tố của nhân viên CTXH ảnh hưởng đến hoạt
động CTXH đối với NCT …………………………………………………………55
Bảng 2.8. Đánh giá của NCT về các vấn đề từ chính quyền, cộng đồng ảnh hưởng
đến CTXH đối với NCT............................................................................................57
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Trình độ học vấn của NCT tại Trung tâm ………………………..….32
Biểu đồ 2.2. Đặc điểm sức khỏe của NCT tại trung tâm ……………………….....33
Biểu đồ 2.3. Đặc điểm tâm lý của NCT tại Trung tâm.....................................……34
Biểu đồ 2.4. Nhu cầu về chăm sóc sức khỏe của NCT tại Trung tâm.…………….35
Biểu đồ 2.5. Nhu cầu về chăm sóc tinh thần của NCT tại Trung tâm...............…..35
Biểu đồ 2.6. Đánh giá của NCT về thái độ tư vấn chăm sóc sức khỏe của nhân viên
y tế và nhân viên chăm sóc trực tiếp...................................................……………..38
Biểu đồ 2.7. Đánh giá của NCT về thái độ hỗ trợ chăm sóc sức khỏe của nhân viên
y tế và dịch vụ của bệnh viện cho NCT khi ốm đau.…………………………...….39
Biểu đồ 2.8. Kết quả giải quyết vấn đề bệnh tật của NCT khi ốm đau.....…………40
Biểu đồ 2.9. Tâm trạng của NCT khi sống tại Trung tâm.............................………43
Biểu đồ 2.10. Đối tượng để NCT tìm đến chia sẻ trò chuyện khi gặp khó khăn.….45
Biểu đồ 2.11.Đành giá của NCT về những hoạt động nâng cao nhận thức cho NCT
tại Trung tâm.................................................................................................………47
Biểu đồ 2.12. Đánh giá các hình thức hỗ trợ nguồn lực mà NCT nhận được...........49
Biểu đồ 2.13. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của đặc điểm NCT đến CTXH đối với
NCT................................................................................………….………………..54
Biểu đồ 2.14. Mức độ tác động của yếu tố kinh tế đến công tác xã hội ……….….58
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đảng và Nhà nước ta đã có quan điểm nhất quán về việc chăm sóc người cao
Nghề công tác xã hội tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đang trong giai đoạn hình
thành, kinh nghiệm công tác xã hội với người cao tuổi chưa có, và những hạn chế
về ý thức, nhận thức của xã hội…Từ những khó khăn chung nêu trên, công tác xã
hội đối với người cao tuổi trên địa bàn tỉnh đã được quan tâm chưa, thực trạng công
tác xã hội đối với người cao tuổi tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu như thế nào? Để trả lời
câu hỏi này cần phải làm rõ đặc điểm, nhu cầu của người cao tuổi, nghiên cứu đánh
giá thực trạng công tác xã hội đối với người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu. Do đó, tác giả chọn đề tài “Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ
thực tiễn Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”
làm đề tài nghiên cứu. Luận văn sẽ nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng công
tác xã hội đối với người cao tuổi hiện nay và đưa ra một số giải pháp nhằm bảo đảm
thực hiện tốt công tác xã hội đối với người cao tuổi tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong
giai đoạn hiện nay và trong những năm tới.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước những thách thức của vấn đề già hóa dân số cho việc phát triển kinh tế
- xã hội và an sinh xã hội, các nghiên cứu dân số người cao tuổi đã được tiến hành
từ những năm 50 của thế kỷ XX tại các quốc gia phát triển, đã chuyển sang giai
đoạn “Già hóa dân số”. Nhiều viện nghiên cứu và các tổ chức xã hội đã nghiên
cứu người cao tuổi trên nhiều phương diện, đặc biệt là những đặc điểm tâm lý và
sinh lý của lứa tuổi. Các tài liệu, bài viết và các công trình nghiên cứu về người
người cao tuổi nhằm mục đích là chăm sóc người cao tuổi nói chung và chăm sóc
sức khoẻ người cao tuổi nói riêng.
- Nghiên cứu “Hoàn cảnh của người cao tuổi nghèo ở Việt Nam” năm
2001: do Help Age International phối hợp với Hội người cao tuổi Việt Nam, Bộ
Lao động – Thương binh và Xã hội, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Viện Xã hội
học và Trung tâm nghiên cứu Hỗ trợ người cao tuổi thực hiện. Nghiên cứu được
tiến hành tại 1 thôn tại 5 tỉnh/thành phố: thành phố Hồ Chí Minh, Lào Cai, Sóc
2
Thơ, Đắk Nông và Ninh Bình. Nghiên cứu tập trung vào mục tiêu tổng quan sức
khỏe và bệnh tật của người cao tuổi, thực trạng sức khỏe của người cao tuổi. Trên
cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị về chính sách [25].
- Các Hội thảo về thách thức già hóa dân số, tổng kết các mô hình chăm sóc
người cao tuổi và chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng do các cơ quan Bộ ngành
tổ chức hàng năm.
- Đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi Việt
Nam” của tác giả Phạm Vũ Hoàng năm 2013, nghiên cứu chung ở tầm vĩ mô trên
phạm vi cả nước về chăm sóc người cao tuổi, tác giả lựa chọn Trung tâm chăm sóc
sức khỏe người cao tuổi Thiên Đức tại huyện Từ Liêm, Hà Nội để đánh giá chất
lượng chăm sóc người cao tuổi. Đề tài nghiên cứu đánh giá về thực trạng chăm
sóc, chất lượng chăm sóc người cao tuổi và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng
chăm sóc người cao tuổi, nghiên cứu phát hiện các nguyên nhân dẫn tới các hạn
chế trong chất lượng chăm sóc người cao tuổi. Trên cơ sở đó đề tài đưa ra một số
định hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người cao
tuổi Việt Nam [13].
- Đề tài “Hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi tại địa bàn thành phố Quy
Nhơn” năm 2011 của tác giả Nguyễn Quỳnh Anh tìm hiểu về các đặc trưng của hỗ
trợ xã hội đối với người cao tuổi (sức khỏe, y tế, tinh thần, vật chất), những yếu tố
văn hóa – xã hội của người cao tuổi và làm rõ việc hỗ trợ xã hội đối với người cao
tuổi thông qua sự trợ giúp về chăm sóc sức khỏe, trò chuyện, sinh hoạt hàng ngày.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng những vấn đề hỗ trợ xã hội cho người
cao tuổi, đề tài đưa ra các giải pháp và định hướng đối với việc hỗ trợ xã hội cho
người cao tuổi. Đề tài tiến hành nghiên cứu quá trình sống của 130 người cao tuổi
ở 3 khu vực (khu vực 1, 3, 8) của phường Nguyễn Văn Cừ, thành phố Quy Nhơn,
tỉnh Bình Định [01].
Có thể thấy, rất nhiều các nghiên cứu về người cao tuổi thời gian trước và
gần đây mới chỉ thu thập thông tin về người cao tuổi, các nghiên cứu tập trung vào
5
4.2. Khách thể nghiên cứu
Người cao tuổi đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại Trung tâm Nuôi dưỡng
người già neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp
chăm sóc người cao tuổi tại Trung tâm.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về đối tượng : công tác xã hội đối với người cao tuổi có nhiều nội
dung hoạt động, tuy nhiên trong phạm vi đề tài này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu
04 nội dung chủ yếu sau: (1) Hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe đối với người cao
tuổi; (2) Hoạt động hỗ trợ về tâm lý cho người cao tuổi; (3) Hoạt động truyền thông
nhằm tăng cường phổ biến thông tin, tuyên truyền về người cao tuổi; (4) Hoạt động
kết nối nguồn lực hỗ trợ chăm sóc đời sống vật chất cho người cao tuổi.
- Phạm vi về khách thể: nghiên cứu trên 39 người cao tuổi đang được chăm
sóc tại trung tâm còn khả năng giao tiếp và 32 cán bộ lãnh đạo, nhân viên đang làm
việc tại Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Phạm vi về thời gian: từ năm 2011 đến tháng 6 năm 2016
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
- Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: từ những đánh giá thực trạng về
đời sống của người cao tuổi, thực trạng của công tác xã hội đối với người cao tuổi
trên địa bàn rút ra những lý luận và đưa ra được những đề xuất về biện pháp nâng
cao hiệu quả công tác xã hội đối với người cao tuổi trên địa bàn tỉnh.
- Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những lý
thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan như dịch vụ
hỗ trợ của công tác xã hội đối với người cao tuổi, hệ thống chính sách trợ giúp xã
hội đối với người cao tuổi,...
5.2. Phương pháp nghiên cứu
đang được nuôi dưỡng tại trung tâm. Giai đoạn quan sát thực tế được tiến hành
trong quá trình nghiên cứu, xác định thực trạng công tác xã hội đối với người cao
tuổi tại trung tâm.
7
* Phương pháp phỏng vấn sâu
Tiến hành 17 cuộc phỏng vấn sâu với 1 lãnh đạo, 6 nhân viên và 10 người cao
tuổi có khả năng giao tiếp được đang sống tại Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo
đơn. Phương pháp phỏng vấn sâu nhằm tìm hiểu thêm về chính sách của Nhà nước
và địa phương ưu đãi cho người cao tuổi; cơ cấu tổ chức, nhân lực và hoạt động
công tác xã hội đối với người cao tuổi; tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của người
cao tuổi sống tại Trung tâm.
* Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng chương trình SPSS để xử lý, phân tích bảng hỏi; trích dẫn nội dung
phỏng vấn sâu qua băng ghi âm, biên bản ghi chép theo chủ đề phân tích.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Những thông tin thu thập được từ luận văn sẽ góp phần làm phong phú thêm
hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc phân tích lý luận về công tác xã hội đối với người
cao tuổi nói riêng và lý luận về công tác xã hội nói chung. Đồng thời luận văn là
nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực công tác xã hội
đối với người cao tuổi.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, nhóm người cao tuổi đang phải đối
mặt với nhiều thử thách và khó khăn, khả năng thích nghi nhanh với những quy
luật, những đòi hỏi khắc nghiệt của cơ chế thị trường hạn chế. người cao tuổi là
nhóm người nghèo nhất, dễ bị tổn thương nhất trong xã hội, bởi Chính phủ chưa
chuẩn bị cho sự già hóa dân số nhanh, các chương trình dự án về người cao tuổi mới
1.1. Ngƣời cao tuổi: khái niệm và đặc điểm
1.1.1. Khái niệm người cao tuổi
Người cao tuổi hay còn gọi là người già/người cao niên là người thuộc một bộ
phận dân cư sống qua một độ tuổi nhất định, độ tuổi này được pháp luật của từng
nước quy định. Tại Việt Nam, Luật người cao tuổi (Luật số 39/2009/QH12 được
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông
qua ngày 23/11/2009 có hiệu lực ngày 01/7/2010) quy định “Người cao tuổi là công
dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổi trở lên” [05, tr.01].
Theo quan điểm y học : Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền
với việc suy giảm các chức năng của cơ thể [06, tr.08].
Một số nước phát triển quy định người cao tuổi là những người từ 65 tuổi trở
lên. Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu
hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau. Những nước có hệ thống y tế,
chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng cao.
Do đó, các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn. Vì vậy, quy định về tuổi
của các nước đó cũng khác nhau [06, tr8].
Khái niệm NCT được sử dụng thay cho người già vì thực tế nhiều người từ 60
tuổi trở lên, vẫn còn hoạt động, vì vậy cụm từ "người cao tuổi" bao hàm sự kính
trọng, động viên hơn so với cụm từ "người già". Trong những năm gần đây khái
niệm NCT được sử dụng phổ biến ở Việt Nam.
Như vậy chúng ta có thể hiểu khái niệm về NCT theo quan điểm của Công tác
xã hội như sau: “Người cao tuổi
tác
m N T thay đổi về tâm sinh
người t
0 tuổi tr
Do vậy, nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ cho nhóm NCT cao hơn, khó khăn hơn,
phức tạp hơn các nhóm tuổi khác.
* Đ c điểm về tâm lý
Những thay đổi về đặc điểm tâm lý, trạng thái tâm lý và sức khỏe của NCT
không chỉ phụ thuộc vào nội lực của bản thân mà còn phụ thuộc vào môi trường xã
hội, đặc biệt phụ thuộc vào môi trường văn hóa – tình cảm và quan trọng nhất là
môi trường gia đình.
Khi bước vào tuổi già, NCT thường gặp những thay đổi như [06, tr.10]:
Chuyển từ trạng thái tích cực sang tiêu cực; với một số NCT sẽ mắc hội
chứng về hưu. Khi mắc phải hội chứng này, NCT dễ buồn chán, thiếu tự tin, cảm
thấy vô dụng. Thêm vào đó là nguồn thu nhập hạn chế, từ đó trở nên rối loạn tâm
lý; Đối đầu với những khó khăn, khúc mắc do chính tâm lý của mình tạo ra; Hướng
về quá khứ, hay kể chuyển về quá khứ cho con cháu nghe, hội họp tìm lại bạn cũ ôn
lại chuyện xưa... Biểu hiện tâm lý của NCT thường là cảm thấy cô đơn và mong
11
muốn được chăm sóc; Cảm nhận thấy bất lực và tủi thân; Nói nhiều hoặc trầm cảm;
Sợ phải đối diện với cái chết,...
* Đ c điểm về kinh t - xã h i
- Trong chu kỳ của cuộc sống, NCT thường trở lại giai đoạn phải lệ thuộc
vào gia đình. Đó là vì khi tới tuổi cao, khả năng làm việc của NCT giảm bớt do cơ
thể lão hóa, lại nẩy sinh những bệnh liên hệ tới tuổi già, khiến NCT mất khả năng tự
túc, tự tồn, thậm chí mất cả khả năng hiểu biết. Phần lớn NCT với sự hạn hẹp về tài
chính phải nhờ vả hoặc gia đình thân thích hoặc cơ quan nhà nước, cộng đồng, các
tổ chức từ thiện.
- Trong cuộc sống gia đình, người cao tuổi vừa muốn sống độc lập không phụ
thuộc con cháu (nhất là về kinh tế), song họ đều muốn gần gũi cháu con, để tránh sự
cô đơn, để được sự chăm nom, săn sóc lúc “trái nắng , trở trời”.
ứng các nhu cầu căn bản nhất để bảo đảm duy trì cuộc sống hàng ngày, tiếp đến
NCT có nhu cầu được khỏe mạnh và chăm sóc khi ốm đau.
- NCT là những người từng trải trong cuộc sống, chính vì vậy NCT có nhu cầu
thấy mình có ích cho xã hội họ muốn tiếp tục được cống hiến những kiến thức, kinh
nghiệm của mình cho xã hội. Thông qua đó NCT được giao lưu tình cảm, bạn bè
thân hữu tin cậy. Nếu nhu cầu này không được thỏa mãn sẽ nảy sinh ra các bệnh
trầm cảm, thần kinh.
- NCT vì có nhiều năm trong cuộc đời cống hiến cho xã hội, lo cho gia đình
khi về già họ muốn được vui hưởng tuổi già bên gia đình, con cháu của mình, mong
được con cháu, người khác tôn trọng, kính mến thông qua các thành quả, thành
công của bản thân. Sau khi có các nhu cầu trên và sau đó là nhu cầu cảm nhận quý
trọng bản thân, tự trọng và sự tự tin.
13
- NCT mặc dù tuổi cao, sức khỏe yếu nhưng NCT vẫn có nhu cầu được học
hỏi. Đây là nhu cầu lớn nhất của con người, mong muốn được hoàn thiện mình,
được cống hiến, tìm kiếm năng lực, trí tuệ và khả năng của mình.
Như vậy, ở NCT nhu cầu thể hiện ở những khía cạnh sau [24, tr.33]:
- Nhu cầu về vật chất : Mặc dù đã hết tuổi lao động nhưng NCT vẫn muốn
tham gia lao động vì lao động là bản tính tự nhiên của con người và cũng là biện
pháp để rèn luyện sức khỏe, kéo dài tuổi thọ. Nếu được làm công việc phù hợp với
khả năng và sức khỏe, NCT sẽ thấy tin tưởng, lạc quan hơn khi thấy mình vẫn có ý
nghĩa trong cuộc sống. Đồng thời, lao động giúp người cao tuổi có thu nhập đáp
ứng các nhu cầu chi tiêu của bản thân, thậm chí không ít người cao tuổi tuy đã hết
tuổi lao động nhưng vẫn có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng người thân.
- Nhu cầu về tinh thần : Để tồn tại và để sống với đúng nghĩa của nó thì con
người cần được giao lưu, trao đổi với những người xung quanh, được yêu thương,
tôn trọng, hoàn thiện và hòa nhập cộng đồng. Đối với NCT nhu cầu về vật chất
không phải là quan trọng nhất mà là sống dưới mái ấm gia đình, quây quần bên con
đồng điều chỉnh mối quan hệ của họ với môi trường xã hội, qua đó giúp họ bảo đảm
chức năng xã hội đúng với vai trò vị trí đảm nhiệm trong xã hội [15, tr.2].
CTXH ở Việt Nam cũng được các tác giả xem xét từ những khía cạnh khác
nhau, tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng: CTXH là hoạt động thực tiễn, mang tính
tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương pháp hỗ trợ cá
nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề. CTXH theo đuổi mục tiêu vì phúc lợi,
hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội’’ [17,tr.26].
CTXH tại Việt Nam được xem như là sự vận dụng các lý thuyết khoa học về
hành vi con người, về hệ thống xã hội nhằm khôi phục lại các chức năng xã hội và
thúc đẩy sự thay đổi vai trò của cá nhân, nhóm, cộng đồng người yếu thế hướng tới
bình đẳng và tiến bộ xã hội. Đây là lĩnh vực cung cấp các dịch vụ chuyên môn góp
phần giải quyết những vấn đề xã hội liên quan tới con người để thỏa mãn những
nhu cầu căn bản, mặt khác góp phần giúp cá nhân tự nhận thức về vị trí, vai trò xã
hội của mình. [16, tr.17].
Như vậy ta có thể hiểu một cách chung nhất theo như định nghĩa của PGS.TS.
Bùi Thị Xuân Mai: “CTXH là m t nghề, m t hoạt đ ng chuyên nghiệp nhằm trợ
gi p các cá nhân gia đình v c ng đồng nâng cao năng
tăng cường chức năng
c đáp ứng nhu c u và
h i đồng thời th c đẩy môi trường xã h i về chính sách,
15
nguồn l c và dịch vụ nhằm gi p cá nhân gia đình v c ng đồng giải quy t và
phòng ng a các vấn đề xã h i, góp ph n đảm bảo an sinh xã h i”. [16,tr.19]
* Khái niệm công tác xã h i đối với người cao tuổi
Với NCT, CTXH không chỉ can thiệp giải quyết vấn đề cá nhân do những hạn
16
những hành vi, quan điểm hay giá trị của NCT không có nghĩa là đồng tình với
hành vi, suy nghĩ của họ. Sự tôn trọng hay chấp nhận ở đây ám chỉ sự ghi nhận sự
tồn tại và không phán xét những hành vi hay suy nghĩ của họ. Khi làm việc với
NCT, NV CTXH cần nắm vững những đặc điểm tâm sinh lý của họ để hiểu, cảm
thông và sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ. Sự chấp nhận của NVXH sẽ tạo lòng tin ở NCT
thúc đẩy sự hợp tác, chia sẻ, trên cơ sở đó hình thành mối quan hệ tương tác trong
quá trình hỗ trợ.
* Nguyên tắc tôn trọng quyền t quy t của người cao tuổi: Vai trò của NV
CTXH là người xúc tác và hỗ trợ NCT đưa ra quyết định đúng đắn, phù hợp với
hoàn cảnh của họ. Như vậy NV CTXH không quyết định thay thân chủ, không gây
áp lực hay áp đặt ý kiến cá nhân trong việc lựa chọn giải pháp cho vấn đề của thân
chủ. Thân chủ là NCT thì hơn ai hết thân chủ là người biết mình cần gì, mong muốn
gì, đồng thời cũng là người hiểu hoàn cảnh của mình hơn tất cả những người khác
vì họ là những người có nhiều trải nghiệm cũng như kinh nghiệm sống rất phong
phú.
Việc NCT tự đưa ra quyết định còn giúp họ có trách nhiệm với việc lựa chọn
của mình. Họ sẽ tự tin hơn, thấy rằng hoàn cảnh của họ chưa phải là tuyệt vọng, từ
đó nâng cao khả năng tự ra quyết định, cố gắng khắc phục khó khăn để vươn lên
trong cuộc sống.
* Nguyên tắc tạo điều kiện để người cao tuổi tham gia giải quy t vấn đề: Thực
tế cho thấy, vấn đề khó khăn của thân chủ chỉ có thể giải quyết tốt nhất khi có sự
tham gia của thân chủ. Đặc biệt với NCT, họ có sự trải nghiệm phong phú, nhiều
kinh nghiệm được tích lũy trong suốt quãng đời trước đây sẽ là nguồn lực hữu ích
giúp họ tham gia giải quyết vấn đề. Khi làm việc với NCT cần lưu ý đến tình trạng
sức khỏe, tuổi tác, hoàn cảnh sinh sống,… của họ để huy động sự tham gia của NCT
một cách phù hợp.
* Nguyên tắc bảo đảm tính khác biệt của mỗi trường hợp: Con người có nhu
bệnh định kỳ tại địa phương để giúp phát hiện các bệnh nói riêng và các vấn đề sức
khỏe nói chung của NCT;
- Tổ chức các lớp thể dục, thể thao: võ thuật dưỡng sinh, cầu lông, bóng
bàn,… để NCT tham gia hoạt động và tăng cường sức khỏe;
18
- Cung cấp một số dịch vụ hỗ trợ chăm sóc : nấu ăn, giặt đồ, đi dạo,… để NCT
có khả năng sống độc lập ngay cả khi họ có hạn chế về sức khỏe;
- Tham gia xây dựng chính sách trợ giúp đối với NCT.
* Vai trò của nhân viên công tác
h i
- Cung cấp dịch vụ công tác xã hội: đưa ra nhiều hoạt động khác nhau như hỗ
trợ trong sinh hoạt hàng ngày, giải quyết các vấn đề tâm lý, vui chơi giải trí, sinh
hoạt văn hóa tinh thần, hỗ trợ khám chữa bệnh
- NV CTXH khuyến khích, động viên, cổ vũ NCT tham gia các hoạt động thể
dục, thể thao tự rèn luyện sức khỏe;
- NV CTXH thông qua việc đánh giá, chuẩn đoán các vấn đề về sức khỏe của
NCT và các nguồn lực sẵn có điều phối, cung cấp các dịch vụ phù hợp. NV CTXH
có thể giới thiệu hoặc tổ chức cho NCT tham gia các hoạt động rèn luyện sức khỏe,
các câu lạc bộ phù hợp để NCT tham gia sinh hoạt;
- Đưa ra những tư vấn về chế độ dinh dưỡng, chăm sóc bản thân để NCT có
thể tham khảo vận dụng phù hợp với khả năng sức khỏe của họ. Thông qua giáo
dục, NV CTXH sẽ giúp NCT có thêm những kiến thức, kỹ năng để phòng ngữa,
chữa trị, phục hồi sức khỏe.
1.2.3.2. Hoạt đ ng hỗ trợ về tâm
cho người cao tuổi
- Động viên cổ vũ NCT tin tưởng vào bản thân, tin tưởng rằng họ vẫn còn hữu
ích với gia đình và xã hội, từ đó thúc đẩy NCT tham gia các hoạt động để tiếp tục
đóng góp cho gia đình, xã hội;
- Kết nối các dịch vụ để NCT có thể thuận lợi tham gia các câu lạc bộ văn thơ,
dưỡng sinh, hoặc tham gia lao động sản xuất,…;
- Thông qua cá nhân, các buổi sinh hoạt nhóm, tổ chức hoạt động tập thể, cuộc
thi nhằm tuyền truyền, cung cấp những kiến thức, hiểu biết về đặc điểm tâm sinh lý,
xã hội, nhu cầu của NCT để gia đình chăm sóc NCT tốt hơn;
1.2.3.3. Hoạt đ ng truyền thông nhằm tăng cường phổ bi n thông tin, tuyên
truyền về người cao tuổi
Hoạt động truyền thông với mục đích tăng cường phổ biến thông tin, tuyên
truyền về người cao tuổi, về chính sách chăm sóc NCT tới các cấp chính quyền và
cộng đồng, các nhà quản lý, làm chính sách để từ đó nâng cao nhận thức của người
dân, các cơ quan, đoàn thể và cộng đồng về việc chăm sóc, tạo điều kiện cho NCT
sống vui, sống khỏe, sống có ích cho xã hội là nhiệm vụ, trách nhiệm của toàn đảng,
toàn dân và của chính bản thân NCT.
20