Công tác xã hội đối với người nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo từ thực tiễn huyện bình sơn, tỉnh quảng ngãi - Pdf 37

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TẤN NHỰT

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO
Ở CÁC XÃ ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN VÙNG
BÃI NGANG VEN BIỂN VÀ HẢI ĐẢO TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHẠM TRƯỜNG GIANG


HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn cao học về đề tài “Công tác xã hội đối với
người nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải
đảo từ thực tiễn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi” là công trình do chính
tôi thực hiện. Mọi thông tin trong đề tài được sử dụng một cách công khai,
minh bạch. Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Học viên

hội đối với người nghèo....................................................................................69
3.4. Nhóm giải pháp về xây dựng và phát huy mô hình công tác xã hội đối với
người nghèo.......................................................................................................71
KẾT LUẬN......................................................................................................76
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................79


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TT
1
2
3
4
5
6

Từ viết tắt
BNVB&HĐ
BHYT
CTXH
ĐBKK
LĐ-TB&XH
PRA

Từ đầy đủ
Bãi ngang ven biển và hải đảo
Bảo hiểm y tế
Công tác xã hội
Đặc biệt khó khăn

cho hộ nghèo, người nghèo trên phạm vi cả nước, vừa ưu tiên tập trung nguồn
lực giảm nghèo nhanh và bền vững đối với những địa bàn khó khăn vùng
đồng bào dân tộc và miền núi, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo.
Thông qua đồng bộ hệ thống chính sách giảm nghèo hiện hành và
Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2015
được phê duyệt tại Quyết định 1489/QĐ-TTg ngày 08 tháng 10 năm 2012 của
Thủ tướng Chính phủ, Việt Nam đã đạt được một bước tiến ấn tượng trong
công tác giảm nghèo những năm vừa qua. Tỷ lệ nghèo giảm liên tục ở tất cả
các nhóm dân cư, cả ở thành thị và nông thôn, trong cả cộng đồng dân tộc
Kinh và cộng đồng các dân tộc thiểu số, và trên mọi khu vực địa lý. Tỷ lệ hộ
nghèo cả nước đã giảm từ 58% (năm 1993) xuống còn 14,2% (năm 2010),
5,97% (năm 2014) và còn 4,25% (năm 2015); tỷ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt
khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo giảm nhanh như Hà Tĩnh bình
quân giảm gần 4%/năm, Bạc Liêu 4,65%/năm... [5]. Cơ sở hạ tầng thiết yếu ở

1


các huyện nghèo, xã nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tăng cường,
đời sống người dân không ngừng được cải thiện cả về sinh kế và tiếp cận các
dịch vụ xã hội; thành tựu giảm nghèo của Việt Nam đã được cộng đồng quốc
tế vinh danh, được Liên Hiệp Quốc đánh giá là một trong các nước có thành
tích giảm nghèo ấn tượng nhất trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ.
Tuy đạt được những thành tích đáng kể như trên nhưng vẫn còn không
ít thách thức phải đối diện để duy trì kết quả giảm nghèo đã đạt được và đảm
bảo tính bền vững của giảm nghèo. Ví dụ như kết quả giảm nghèo chưa thực
sự bền vững, còn có khoảng cách chênh lệch lớn giữa các vùng, nhóm dân cư
đặc biệt là vùng miền núi và vùng bãi ngang ven biển. Giảm nghèo ở các xã
đặc biệt khó khăn (ĐBKK) vùng bãi ngang ven biển và hải đảo (BNVB&HĐ)
chưa bền vững, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao hơn so với bình quân của cả nước,

xã hội đối với người nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven
biển và hải đảo từ thực tiễn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn
tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Giảm nghèo bền vững và những vấn đề liên quan đến xóa đói giảm
nghèo là vấn đề mang tính toàn cầu, vì nó tác động đến mọi mặt của đời sống
như: bất bình đẳng, bệnh tật, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản… Do đó, vấn
đề giảm nghèo bền vững không chỉ thu hút sự quan tâm của các quốc gia phát
triển, mà là sự quan tâm của tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt
Nam. Ngoài sự quan tâm của các quốc gia, giảm nghèo bền vững còn được sự
quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu và các tổ chức xã hội…
nhằm tìm ra nguyên nhân nghèo đói và cách thức giải quyết vấn đề giảm
nghèo bền vững dựa trên phương pháp tiếp cận của từng quốc gia.

3


Ở Việt Nam trong những năm qua có rất nhiều công trình và đề tài
khoa học nghiên cứu về vấn đề giảm nghèo bền vững và xoá đói giảm nghèo
như:
- Tập thể tác giả: “Nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam”, Nxb
Nông nghiệp, Hà Nội - 2001. Mục đích của nghiên cứu đã chỉ ra trong những
năm qua Việt Nam được đánh giá là nước có công tác xóa đói giảm nghèo rất
tốt theo chuẩn và phương pháp xác định nghèo khổ của Ngân hàng thế giới.
Quy mô giảm nghèo toàn quốc đã giảm nhanh, tuy nhiên Việt Nam vẫn là
một nước nghèo và thực trạng nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
vẫn còn nhiều thách thức như tỷ lệ tái nghèo cao do hằng năm luôn phải gánh
chịu nhiều thiên tai như bão, lụt, hạn hán… Tập thể tác giả đã đưa ra các giải
pháp nhằm đẩy lùi được tình trạng nghèo đói và xóa đói giảm nghèo xuống
mức thấp trong giai đoạn tới.

cũng chỉ ra là nhiệm vụ giảm nghèo Việt Nam vẫn chưa hoàn tất, chuẩn
nghèo còn thấp so với chuẩn nghèo quốc tế và phương pháp được sử dụng để
theo dõi giảm nghèo đến nay đã lỗi thời. Mặt khác báo cáo cũng chỉ ra thách
thức đối với nhóm nghèo còn lại là khó tiếp cận hơn, khó giảm nghèo ở các
nhóm đối tượng còn lại vì đây là “lõi nghèo”, họ phải đối mặt với những
thách thức khó khăn như sự cô lập, hạn chế tài sản, trình độ học vấn thấp, sức
khỏe kém… Báo cáo đưa ra một cách nhìn nhận mới về cuộc sống của người
nghèo bao gồm cả nam, nữ và trẻ em, đồng thời đi sâu tìm hiểu những hạn
chế cũng như cơ hội hiện thời của họ để thoát nghèo.
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: “Đề án tổng thể chuyển đổi
phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều dựa và thu nhập sang đa
chiều áp dụng trong giai đoạn 2016 - 2020”. Đề án đã chỉ ra rằng, trong
những năm trước đây nghèo đói thường được đo lường thông qua thu nhập
hoặc chi tiêu. Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu cho những
nhu cầu tối thiểu và được quy ra bằng tiền. Người nghèo hay hộ nghèo là

5


những đối tượng có mức thu nhập hoặc chi tiêu thấp hơn chuẩn nghèo. Cách
thức đo lường này đã duy trì trong thời gian dài và bắt đầu bộc lộ những hạn
chế. Thứ nhất, một số nhu cầu cơ bản của con người không thể quy ra tiền
(như tham gia xã hội, an ninh, vị thế xã hội, v.v...) hoặc không thể mua được
bằng tiền (tiếp cận giao thông, thị trường và các loại cơ sở hạ tầng khác, an
ninh, môi trường, một số dịch vụ y tế, giáo dục công v.v...). Thứ hai, có
những trường hợp hộ gia đình có tiền nhưng không chi tiêu vào việc đáp ứng
những nhu cầu tối thiểu (do cả những lý do khách quan như không có sẵn
dịch vụ hay lý do chủ quan như do tập tục văn hóa địa phương hay do chính
nhận thức của người dân). Vì những hạn chế trên, nếu chỉ sử dụng chuẩn
nghèo thu nhập để đo lường và xác định đối tượng nghèo đói sẽ dẫn đến bỏ

các nhu cầu cơ bản cũng như thực trạng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, lại
được duy trì trong cả giai đoạn trong điều kiện chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
hàng năm đều tăng, dẫn đến giá trị chuẩn nghèo không còn phù hợp, không
đáp ứng được nhu cầu đảm bảo mức sống tối thiểu của người dân. Đồng thời,
các chính sách giảm nghèo được xây dựng dựa trên tiêu chí thu nhập chủ yếu
nhằm xử lý vấn đề thiếu tiền và khả năng chi trả dịch vụ, do vậy chưa thực sự
tác động đến các nguyên nhân khác của nghèo đói như vấn đề khó tiếp cận
dịch vụ, dịch vụ không có sẵn hoặc không phù hợp, nhận thức chưa đúng và
thiếu chủ động từ phía người dân. Đề án đã chỉ ra việc áp dụng p hương pháp
đo lường nghèo đa chiều sẽ khắc phục những hạn chế nói trên của phương
pháp đo lường nghèo bằng thu nhập. Đặc biệt bối cảnh cơ cấu kinh tế - xã hội
thay đổi, đô thị hóa và di cư tăng nhanh hiện nay đang tạo ra một bộ phận lớn
người dân thuộc nhóm cận nghèo thu nhập hoặc chưa được tiếp cận đầy đủ
với các dịnh vụ xã hội cơ bản, đang đối mặt với nhiều rủi ro khiến họ có thể
rơi vào tình trạng nghèo đói.
Ngoài ra còn nhiều công trình khoa học, đề tài nghiên cứu của nhiều tác
giả khác, mỗi tác giả nghiên cứu ở những góc độ khác nhau của vấn đề giảm

7


nghèo bền vững và xoá đói giảm nghèo trong phạm vi cả nước và ở mỗi địa
phương.
Tuy nhiên chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu “Công tác xã hội đối
với người nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải
đảo từ thực tiễn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi”.
Các công trình nghiên cứu tiêu biểu trên đây chính là cơ sở khoa học để
tôi kế thừa và phát triển trong luận văn của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu

giải quyết việc làm.
- Không gian nghiên cứu: xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven
biển và hải đảo của huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 12 năm 2015 đến tháng 06 năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước về chính sách, chương trình giảm nghèo
xuyên suốt qua các thời kỳ; vấn đề công tác xã hội trong lĩnh vực xóa đói, giảm
nghèo.
- Dựa trên quan điểm, văn bản chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng
Ngãi về chính sách, chương trình giảm nghèo của trung ương, các chính sách,
chương trình giảm nghèo đặc thù của địa phương.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu.

9


- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: khảo sát toàn bộ hộ nghèo trên
địa bàn qua Phiếu C Thu thập đặc điểm hộ gia đình nghèo và cận nghèo trên
địa bàn.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu khoảng 6 cán bộ chính
quyền đoàn thể có liên quan.
- Phương pháp quan sát, đánh giá, so sánh.
Để luận văn có đủ lượng thông tin cần thiết, tác giả đã sử dụng các
phương pháp khác nhau để thu thập thông tin trong quá trình nghiên cứu đề
tài như: áp dụng phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu nhằm thu thập
các thông tin liên quan đến người nghèo cũng như những chủ trương của
Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về người nghèo; phương pháp điều

Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện công tác xã hội
đối với người nghèo từ thực tiễn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

11


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO
1.1. Lý luận về người nghèo
1.1.1. Một số khái niệm
- Khái niệm về nghèo
+ Nghèo là sự bần cùng hóa về phúc lợi, sự thiếu thốn vật chất, mức thu
nhập thấp và tiêu dùng thấp như điều kiện dinh dưỡng thấp và điều kiện sống
thiếu thốn.
+ Dễ nhận thấy nghèo về thu nhập dẫn đến nghèo về con người, về sức
khỏe kém, trình độ giáo dục thấp, vì nó là nguyên nhân và hệ quả của nghèo
đói hay còn gọi là cái “vòng luẩn quẩn” của sự đói nghèo.
+ Nghèo về thu nhập, nghèo về con người lại dẫn đến nghèo về xã
hội như dễ bị tổn thương trước những bất lợi về bệnh tật, thiên tai, khủng
hoảng kinh tế, không có tiếng nói, bất lực trước sự cải thiện điều kiện sống
của cá nhân.
Theo Liên Hợp Quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham
gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn,
không đủ mặc, không được đi học, không được đi khám bệnh, không có đất
đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không
được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là sự không an toàn, không có
quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có
nghĩa dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi
ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” (Tuyên bố

gian: Thông qua định nghĩa này cũng chỉ cho chúng ta thấy sẽ không có
chuẩn nghèo chung cho tất cả các nước, vì nó phụ thuộc vào sự phát triển
kinh tế - xã hội và các yếu tố văn hóa của từng quốc gia, từng vùng.

13


- Khái niệm về nghèo đa chiều
Theo Amartya Kumar Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ (đoạt giải Nobel Kinh
tế): để tồn tại, con người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu;
dưới mức tối thiểu này, con người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn.
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995
đưa định nghĩa về nghèo: "Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp
hơn dưới một đô la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua
những sản phẩm cần thiết để tồn tại".
Còn nhóm nghiên cứu của Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc,
Quỹ dân số Liên Hợp Quốc, Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc trong công trình
"Xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam-1995" đã đưa ra định nghĩa: "Nghèo là tình
trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham
gia vào lĩnh vực kinh tế".
Trong “Báo cáo về tình hình phát triển thế giới - Tấn công nghèo đói”
năm 2000, Ngân hàng thế giới thừa nhận quan điểm truyền thống hiện nay về
đói nghèo: Đói nghèo “không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất (được đo
lường theo một khái niệm thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng) mà còn là sự
hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế”. Báo cáo đã mở rộng quan điểm về
đói nghèo khi tính đến cả nguy cơ dễ bị tổn thương, dễ gặp rủi ro của người
nghèo. Báo cáo nêu bật “nghèo có nghĩa là không có nhà cửa, quần áo, ốm
đau và không ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường”. Báo cáo chỉ
ra “người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự biểu hiện bất lợi
nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ. Họ thường bị các thể chế của nhà nước

dưới 13 kg đối với thành thị, dưới 8 kg đối với khu vực nông thôn.
Hộ nghèo: Là hộ có mức bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng
dưới 20 kg đối với khu vực thành thị và dưới 15 kg đối với khu vực nông thôn.
+ Giai đoạn 1995-1997:

15


Hộ đói: Là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một
tháng quy ra gạo dưới 13 kg, tính cho mọi vùng.
Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập như sau:
. Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng.
. Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng.
. Vùng thành thị: dưới 25 kg/người/tháng.
+ Giai đoạn 1997-2000:
Hộ đói: Là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một
tháng quy ra gạo dưới 13 kg, tương đương 45.000 đồng (giá năm 1997, tính
cho mọi vùng).
Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập tuỳ theo từng vùng ở các mức tương ứng
như sau:
. Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng (tương
đương 55.000 đồng).
. Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng (tương
đương 70.000 đồng).
. Vùng thành thị: dưới 25 kg/người/tháng (tương đương 90.000 đồng).
+ Giai đoạn 2001-2005:
Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng.
Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng.
Vùng thành thị: 150.000 đồng/người/tháng.
+ Giai đoạn 2006-2010:

- Có tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo theo tổng điều tra hộ nghèo năm 2010
trên 25% (trong đó tỷ lệ nghèo từ 15% trở lên) hoặc xã có tỷ lệ nghèo từ 18%
trở lên theo tiêu chí quy định tại Quyết định 09/2011/QDD-TTg ngày 30
tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ
nghèo, hộ cần nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015.
- Dưới 70% số hộ được dùng nước sạch;

17


- Dưới 60% số hộ dùng điện sinh hoạt an toàn;
- Thiếu (hoặc chưa đủ) từ 3/6 công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu:
+ Chưa có hoặc chưa được đầu tư trung tâm sinh hoạt văn hóa, thể
thao, vui chơi giải trí cho người dân của xã; từ 50% số thôn trở lên chưa có
nhà sinh hoạt thôn;
+ Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt
chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải dưới 90%; tỷ lệ km đường
trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông
vận tải dưới 70% (riêng Đồng bằng sông Cửu Long dưới 50%);
+ Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại
thuận tiện dưới 40% (đối với Đồng bằng sông Cửu Long dưới 30%); Tỷ lệ km
trên mương do xã quản lý được kiên cố hóa dưới 70% (riêng Đồng bằng sông
Cửu Long dưới 40%);
+ Cơ sở vật chất trường mầm non, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở
đạt chuẩn quốc gia dưới 60%; từ 30% số thôn trở lên chưa có phòng học kiên
cố cho nhà trẻ, lớp mẫu giáo;
+ Trạm y tế xã chưa đạt chuẩn theo quy định của Bộ Y tế;
+ Chưa có hoặc có chợ ở trung tâm xã đạt chuẩn của Bộ Xây dựng.
- Thiếu hoặc chưa được đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất
như: bờ bao, kè, trạm bơm cho nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối, đường ra

Công tác xã hội được xem như là một nghề mang tính chuyên nghiệp ở
nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Nghề CTXH thúc đẩy sự
thay đổi xã hội, giải quyết các vấn đề như tình trạng nghèo đói, bất bình đẳng
giới và giúp đỡ những đối tượng dễ bị tổn thương trong cuộc sống như trẻ em
mồ côi, người khuyết tật, trẻ em lang thang, trẻ em lao động sớm, trẻ em bị
lạm dụng, người nghèo…
Có nhiều khái niệm khác nhau về CTXH, dưới đây là một số khái niệm
về CTXH.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status