Công tác xã hội đối với người di cư ở việt nam hiện nay - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN QUANG TUẤN

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI DI CƯ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số:

60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN HỮU MINH

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Những kết quả
trong luận văn này chưa được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Học viện Khoa học xã hội về
sự cam đoan này.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2016


Câu lạc bộ

CTXH

Công tác xã hội

ILO

International Labour Organization
(Tổ chức Lao động quốc tế)

ISDS

Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội

NVCTXH

Nhân viên Công tác xã hội

UNICEF

United Nations Children's Fund
(Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc)


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng


ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường dịch vụ và việc làm tại các trung
tâm đô thị [17, tr. 2].
Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy trong giai
đoạn 2004-2009 có 6,6 triệu người di cư trong và ngoài tỉnh của Việt Nam. Con
số này thể hiện sự gia tăng đáng kể so với 4,5 triệu người di cư trong nước ghi
nhận từ cuộc tổng điều tra dân số năm 1999 [24, tr 5]. Những luồng di cư chủ yếu
hướng tới các khu vực thành thị và các khu công nghiệp nơi có nhiều cơ hội việc
làm [24, tr 6]. Di cư từ nông thôn ra thành thị có chiều hướng gia tăng, chiếm hơn
53% qui mô di cư, trong đó chủ yếu tập trung tại hai thành phố lớn là Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh [7, tr. 45]. Do đó, nó đã đóng vai trò quan trọng trong
đáp ứng nhu cầu lao động, đóng góp vào phát triển kinh tế xã hội ngày càng lớn
của Việt Nam [22, tr. 2].
Di cư không chỉ góp phần tăng phúc lợi và an sinh cho người di cư
thông qua việc tạo thu nhập cao và đa dạng hóa các nguồn thu nhập, mà nó
1


còn mang lại lợi ích cho các hộ gia đình và cộng đồng có người di cư thông
qua việc nhận được các khoản tiền gửi về quê hương của người di cư [23, tr.
4]. Bên cạnh những mặt tích cực mà quá trình di cư đem lại, người di cư còn
gặp rất nhiều vấn đề tại nơi đến và nơi đi của họ, đó là vấn đề an toàn, tiếp cận
dịch vụ giáo dục, y tế, nhà ở, nghề nghiệp, thu nhập, chăm sóc, nuôi dạy con cái,
gia tăng mại dâm, lây truyền HIV/AIDS, gia tăng nạn buôn bán người…[20, tr. 1],
[22]. Đặc biệt là các vấn đề này chủ yếu xảy ra đối với những người di cư tự do,
những người di cư không nằm trong chương trình di dân của chính phủ và chủ yếu
làm việc trong các khu vực phi chính thức. Vì thế, đòi hỏi phải có sự quan tâm,
nghiên cứu để tìm ra phương pháp, cách thức trợ giúp người di cư một cách phù
hợp để đảm bảo những quyền cơ bản của họ. Dưới góc độ CTXH thì các vấn đề
mà người di cư đang gặp phải rất cần được quan tâm và giải quyết. CTXH hướng
đến giúp đỡ cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng phục hồi hay nâng cao năng

mặc dù cũng có một bộ phận những đối tượng này là những người di cư. Trên
thế giới, cũng đã có một số công trình nghiên cứu về CTXH đối với vấn đề di
cư. Các nghiên cứu về CTXH đối với người di cư chủ yếu nhấn mạnh đến
cách tiếp cận theo quyền con người và tập trung làm rõ tính công bằng xã hội,
bình đẳng xã hội và các kỹ năng thực hành giải quyết những vấn đề về người
di cư [26]. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đi sâu phân tích các hoạt động và
chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá các hoạt động CTXH đã triển khai trong
việc trợ giúp những người di cư. Bên cạnh đó, việc tổng quan, rà soát tài liệu
cũng cho thấy các nghiên cứu về CTXH đối với người di cư ở Việt Nam hầu
như chưa được chú ý đến mà chủ yếu là các nghiên cứu xã hội về vấn đề di
cư, người di cư và các vấn đề liên quan đến người di cư. Các nghiên cứu xã
hội về người di cư chủ yếu tìm ra nguyên nhân, những vấn đề mà người di cư
gặp phải ở nơi đến cũng như tại nơi đi và chỉ ra các tác động di cư đến các
vấn đề như nhà ở, việc làm, sức khỏe, tiếp cận dịch vụ, tham gia các hoạt

3


động xã hội tại nơi đến, v.v. Các nghiên cứu xã hội về người di cư sẽ là cơ sở
cho CTXH trong triển khai các hoạt động trợ giúp phù hợp với từng vấn đề
của người di cư. Do đó, tác giả chủ yếu tập trung tổng quan các nghiên cứu,
tài liệu, sách, báo, internet về người di cư, đặc biệt là người lao động di cư
trong nước ở Việt Nam thông qua các nghiên cứu xã hội về các vấn đề mà
người di cư gặp phải như nhà ở, việc làm, thu nhập, tiếp cận dịch vụ xã hội,
an sinh xã hội, tham gia các hoạt động xã hội, v.v.
Về vấn đề nhà ở: Hầu hết những người di cư ở nước ta hiện đang ở
thành phố đều cho biết gặp khó khăn khi mới đến, trong đó có vấn đề khó
khăn về nhà ở và một bộ phận không nhỏ người lao động di cư cảm thấy
không an toàn hoặc bình yên tại nơi họ đang tạm trú [7, tr. 112]. Những vấn
đề liên quan đến nhà ở, nơi cư trú có liên quan đến vấn đề đăng ký hộ khẩu

thiếu và yếu thế nhất vì có liên quan đến đăng ký hộ khẩu, những người nào
không đăng ký hộ khẩu thì sẽ không đủ điều kiện xin nhà ở xã hội [24, tr. 8].
Về việc làm và thu nhập: Việc làm và thu nhập là một trong những yếu
tố quyết định di cư của người dân. Hầu hết người di cư là vì lý do kinh tế
trong đó bao gồm những người tìm việc làm, muốn tăng thêm thu nhập và
nâng cao điều kiện sống cho bản thân và gia đình. Và những người di cư này
chủ yếu là những người di cư tự do, tức là những người di cư không nằm
trong chương trình di cư của Chính phủ [24, tr. 6].
Ở Việt Nam, rất nhiều người di cư trong nước với mục đích tìm việc làm tại
nơi đến đã tìm được công việc được trả công xứng đáng với môi trường làm việc
an toàn và họ cho biết rằng họ hài lòng với cuộc sống sau khi di cư. Các bằng
chứng cho thấy người dân di cư thường bắt đầu tìm việc làm tại nơi đến ngay sau
khi tới nơi hoặc họ đã xin việc trước khi di cư đến. Họ thường làm việc chăm chỉ
và giữ được công ăn việc làm ổn định hơn so với người không di cư. Tuy nhiên,
những người di cư thường thấy mình yếu thế hơn so với người dân sở tại, đặc biệt
là trong thị trường lao động. Những người này thường tập trung ở một số ngành

5


nghề nhất định và thường ít được đảm bảo công việc hơn hoặc phải làm các công
việc với mức lương thấp, lao động nặng nhọc và không ổn định.Ngoài ra, họ
thường không được hưởng trợ cấp xã hội, bảo hiểm y tế hoặc bảo hiểm thất
nghiệp nếu họ không được ký hợp đồng lao động. Do vậy, họ có thể bị mất việc
làm bất cứ lúc nào [24, tr. 7].
Sự kết hợp của các yếu tố này cộng thêm việc ít tiếp cận tới các thông
tin Chính phủ cung cấp, không tiếp cận với các tổ chức quần chúng và các hỗ
trợ của Chính phủ đã làm tăng sự yếu thế của người dân di cư và điều này đòi
hỏi cần có giải pháp và sự quan tâm nhiều hơn.Yếu tố việc làm của người di
cư gắn liền với thu nhập của họ. Di cư rõ ràng đã mang lại sự cải thiện về thu

lao động may mắn có hợp đồng lao động, còn lại đối với những người tự kinh
doanh hay lao động tay chân trong khu vực kinh tế phi chính thức thì không
có hợp đồng lao động. Nhưng một điều đáng lưu ý là chủ lao động rất hạn chế
trong việc cung cấp bảo trợ cần thiết cho công nhân. Kết quả điều tra cho thấy
có đến 38% công nhân có việc làm nhưng không nhận được bất kỳ sự hỗ trợ
nào từ phía chủ sử dụng lao động và thường phải làm những công việc khó
khăn, nặng nhọc nhưng họ không nhận được bất kỳ một sự bảo trợ xã hội nào
như chăm sóc sức khỏe hay bảo hiểm [22, tr.31]. Đặc biệt, người lao động di
cư làm việc trong khu vực phi chính thức rất ít khi được hưởng bảo hiểm y tế,
bởi lẽ người chủ sử dụng lao động hiếm khi quy định hưởng bảo hiểm y tế
trong hợp đồng lao động. Do đó, người lao động di cư và gia đình của họ gặp
rất nhiều khó khăn trong tiếp cận các bệnh viện công [2]. Việc tiếp cận các
dịch vụ xã hội có liên quan mật thiết đến thu nhập của người lao di cư. Người
di cư có nguồn thu nhập thấp thì khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế thấp,
ngược lại người di cư có nguồn thu nhập cao thì khả năng tiếp cận dịch vụ y
tế cao. Còn đối với những người di cư có con cái thì khó khăn lớn nhất là việc
cho con đi học. Và việc cho con cái đi học có liên quan đến vấn đề đăng ký hộ
khẩu trong trường hợp học trường công và điều này là rất khó đối với người

7


di cư. Trong trường hợp cho con cái học trường tư thì khả năng kinh tế của họ
rất khó khăn nên rất khó đảm bảo cho con cái theo được. Bên cạnh đó, người
di cư còn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn. Gần một nửa số người di cư cho
rằng họ không có khả năng vay vốn. Những người không có sự giúp đỡ về tài
chính tại nơi chuyển đến phải phụ thuộc vào các hệ thống xã hội nhiều hơn so
với những người có sự giúp đỡ về tài chính.Và nhóm tuổi trung niên gặp
nhiều khó khăn trong tiếp cận vốn bởi lẽ nhu cầu tài chính của họ lớn hơn do
phải chăm lo gia đình. Đặc biệt, đối với nhóm người có trình độ học vấn thấp

xã hội như nghiện hút, mại dâm, HIV/AIDS, v.v. [12].
Qua việc tổng quan các nghiên cứu, tác giả nhận thấy quá trình di cư của
người lao động cũng đã đem lại những mặt tích cực đáng ghi nhận, tuy nhiên
những tác động tiêu cực không chỉ nảy sinh tại nơi đến của người di cư mà còn
nảy sinh nhiều vấn đề tại nơi đi của họ. Đặc biệt là nhóm lao động di cư từ nông
thôn ra thành thị và làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức. Chính vì vậy,
CTXH có vai trò rất quan trọng trong trợ giúp nhóm lao động di cư này giải quyết
các vấn đề ở cả nơi đến và nơi đi của họ thông qua các hoạt động can thiệp, trợ
giúp của người NVCTXH.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác xã hội đối với
người di cư ở Việt Nam hiện nay
3.2 . Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Trước hết, đề tài tập trung vào nghiên cứu và xây dựng các khái niệm
then chốt như: CTXH, di cư, người di cư, CTXH đối với người di cư, v.v.
Đây là những khái niệm quan trọng cần phải được làm sáng tỏ về nội hàm để
làm cơ sở cho việc thao tác hóa. Tiếp theo, tìm hiểu và phân tích các vấn đề

9


mà người di cư gặp phải thông qua các nghiên cứu xã hội, đặc biệt là nhóm
người lao động di cư từ nông thôn ra thành thị.
- Chỉ ra một số lý thuyết tiếp cận trong nghiên cứu CTXH nói chung và
CTXH đối với người di cư nói riêng. Các lý thuyết tiếp cận như: Tiếp cận dựa vào
quyền con người, tiếp cận dựa vào nhu cầu, và tiếp cận dựa trên thuyết sinh thái.
- Tìm hiểu các chính sách, pháp luật, chương trình hỗ trợ người lao
động di cư ở Việt Nam hiện nay.

+ Phân tích thực trạng CTXH đối với người lao động di cư ở Việt Nam hiện
nay. Từ đó, xem xét các định hướng đặt ra của CTXH đối với người di cư.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích và tổng hợp: Trên cơ sở thu thập các tài liệu (về
lý thuyết và thực tế trong và ngoài nước), tiến hành phân loại, đánh giá, phân
tích và tổng hợp các vấn đề về CTXH, di cư, người di cư, các hoạt động hỗ
trợ người lao động di cư, các chính sách, luật pháp và chương trình hỗ trợ
người lao động di cư, v.v.
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tác giả luận văn liên hệ với một số
chuyên gia có liên quan đến lĩnh vực CTXH để tìm hiểu quan điểm của một
số chuyên gia về những vấn đề đặt ra và xu hướng của CTXH đối với người
lao động di cư ở nước ta hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1.Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu là nguồn tài liệu tham khảo đối với các nhà nghiên
cứu, các giảng viên giảng dạy trong lĩnh vực CTXH, đặc biệt là trong CTXH
đối với người di cư ở Việt Nam hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Qua nghiên cứu này, đề tài cũng góp phần ứng dụng vào thực tiễn trong
quá trình hỗ trợ đối với người lao động di cư ở Việt Nam hiện nay. Từ đó,
giúp cho người lao động di cư nâng cao năng lực, tăng cường chức năng xã

11


hội và giải quyết các vấn đề gặp phải. Ngoài ra, đề tài cũng góp phần cung
cấp luận cứ khoa học và thực tiễn trong việc xây dựng chính sách hỗ trợ
người lao động di cư ở Việt Nam hiện nay.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu (tính cấp thiết của đề tài, tình hình nghiên cứu, mục

này đến một lãnh thổ khác, nhằm thiết lập nơi cư trú mới, trong một khoảng
thời gian nhất định [4].
Như vậy, đối với luận văn này, di cư được hiểu là sự di chuyển của
người dân từ khu vực nông thôn ra khu vực thành thị trong phạm vi lãnh thổ
Việt Nam với một khoảng thời gian nhất định.
1.1.1.2. Người lao động di cư
Luận văn này tập trung nghiên cứu công tác xã hội đối với người di cự
lao động, được hiểu là những người dân từ 15-59 tuổi ở khu vực nông thôn di
13


chuyển tới khu vực thành thị trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam mà không
phân biệt thời gian cư trú nhằm mục đích lao động, tìm kiếm việc làm để tạo
ra thu nhập, và bản thân những người này hiện đang gặp một số vấn đề mà họ
chưa tự giải quyết được như vấn đề về tâm lý, nơi ở, tìm kiếm việc làm, tiếp cận
dịch vụ, tham gia các hoạt động xã hội, xung đột trong quan hệ lao động, v.v..
1.1.2. Các hình thức di cư
Có nhiều cách phân loại các hình thức di cư như căn cứ vào phạm vi di
cư thì có hình thức di cư trong nước và di cư quốc tế; Căn cứ vào thời gian di
cư thì có di cư thời vụ, di cư ngắn hạn, di cư dài hạn; Căn cứ vào mục đích di
cư thì gồm có hình thức di cư lao động, di cư học tập, di cư hôn nhân và đoàn
tụ gia đình; Căn cứ vào luật pháp thì có hình thức di cư hợp pháp và di cư
không hợp pháp. Tuy nhiên, đối với nghiên cứu này, tác giả chỉ tập trung tìm
hiểu cụ thể về hình thức di cư trong nước, di cư thời vụ, di cư ngắn hạn, di cư
dài hạn, và di cư lao động. Bởi lẽ, trong nghiên cứu này tác giả chỉ nghiên cứu
trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam và chỉ tập trung vào nhóm đối tượng di cư
lao động từ nông thôn ra thành thị đang gặp một số vấn đề mà tự họ chưa giải
quyết được. Hơn nữa, đối với các hình thức di cư thời vụ, di cư ngắn hạn và
di cư dài hạn cũng được tác giả làm rõ là vì có liên quan đến nhóm đối tượng
nghiên cứu chính của nghiên cứu này và liên quan đến thời gian cư trú của lao

quyết định với sự tương tác của các yếu tố lực đẩy và lực hút. Như đã trình
bày trong phần tổng quan về những tác động tích cực của quá trình di cư đối
với người lao động di cư như đối với một bộ phận người lao động di cư có
công việc làm tốt với mức thu nhập cao. Do đó, điều kiện sống và chất lượng
cuộc sống được nâng cao cho bản thân người lao động di cư và gia đình của
họ thông qua số tiền kiếm được và tiền gửi về cho gia đình.Tuy nhiên, bên
cạnh những tác động tích cực thì di cư cũng có những ảnh hưởng tiêu cực tới
bản thân người lao động di cư, gia đình, cộng đồng, xã hội nơi đi và nơi đến.
Do đó, người lao động di cư gặp khá nhiều khó khăn, trở ngại trong quá trình

15


di cư. Vì vậy, tương ứng với những khó khăn gặp phải đó thì người di cư
cũng có những nhu cầu như được hỗ trợ thông tin về nhà ở, thông tin về việc
làm, thông tin về các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, thông tin về các hoạt
động xã hội tại nơi đến cũng như tại quê nhà của họ.
1.1.3.1. Được hỗ trợ thông tin
Người di cư từ nông thôn ra thành thị vì mục đích làm việc luôn có nhu
cầu là được hỗ trợ về các thông tin liên quan đến nơi cư trú tại nơi họ sẽ đến
như các thông tin về nhà ở, môi trường sống, văn hóa, lối sống, ngôn ngữ,
sinh hoạt, giao tiếp… để giúp quá trình hòa nhập của họ tại nơi đến có thể dễ
dàng hơn. Bên cạnh đó, các thông tin về việc làm như nguồn thông tin về các
trung tâm tư vấn, giới thiệu việc làm chính thống cũng rất quan trọng đối với
người lao động di cư từ nông thôn ra thành thị. Bởi lẽ, mục đích chính của
những lao động di cư này là vì kinh tế cho bản thân và gia đình của họ ở quê
nhà. Khi có những nguồn thông tin về việc làm, về các trung tâm tư vấn, giới
thiệu việc làm thì họ sẽ có điều kiện thuận lợi hơn rất nhiều trong quá trình
tìm kiếm việc làm phù hợp và tránh được những ảnh hưởng tiêu cực không
mong muốn như bị lừa đảo, lừa gạt sức lao động,..Chính vì thế, hoạt động hỗ

1.1.3.3. Tìm được việc làm với thu nhập ổn định
Những người lao động di cư từ nông thôn ra thành thị vì lý do kinh tế
luôn mong muốn có được một công việc tốt và phù hợp với khả năng, đồng
thời tạo ra nguồn thu nhập ổn định và an toàn. Đây là một trong những nhu
cầu quan trọng nhất để đảm bảo thực hiện và đáp ứng được những nhu cầu
khác. Khi những người lao động di cư công việc, có thu nhập thì họ mới có
thể gửi tiền về cho gia đình ở quê để đáp ứng cuộc sống hàng ngày cho cha
mẹ, con cái trong việc ăn uống hàng ngày, nuôi các con ăn học, đồng thời họ
có thể trang trải cuộc sống ở nơi đến, mới có thể tìm được chỗ ở sạch sẽ, an
toàn, hợp vệ sinh, có được những nhu cầu tối thiểu như ăn, ở, mặc và những
nhu cầu cao hơn như tiếp cận dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe hiệu quả,…

17


Chính vì vậy mà họ rất cần có sự hỗ trợ từ các trung tâm giới thiệu việc làm,
công ty xuất khẩu lao động… đảm bảo tin cậy để bảo trợ, giúp họ tìm được
công việc phù hợp. Hiện nay đã xuất hiện rất nhiều những công ty ra đời
nhằm đáp ứng nhu cầu này, tuy nhiên trên thực tế uy tín, chất lượng các công
ty, trung tâm này chưa cao, người di cư chưa tiếp cận được và chưa đáp ứng
được nhu cầu của họ.
1.1.3.4. Được tiếp cận với các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe tại nơi đến
Các nghiên cứu cho thấy những người lao động di cư từ nông thôn ra
thành thị gặp rất nhiều khó khăn trong tiếp cận dịch vụ y tế, chăm sóc sức
khỏe bởi nhiều nguyên nhân như kinh tế, hộ khẩu,…Do vậy, nhu cầu của họ
là làm sao có thể tiếp cận được với các dịch vụ y tế tại nơi đến để được chăm
sóc, khám, điều trị bệnh bởi bản thân họ có một bộ phận không nhỏ làm các
công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Tuy nhiên, hầu hết những người lao
động di cư tự do từ nông thôn ra thành thị đều không có bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế. Chính vì thế mà ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp cận các dịch vụ y

nhận được sự tư vấn, tham vấn và hỗ trợ về tâm lý để họ có thể giải quyết
những khó khăn của mình, yên tâm sinh hoạt và làm việc tại nơi ở mới. Chính
vì thế, rất cần có những sự trợ giúp chuyên nghiệp của CTXH.
1.1.3.6. Được tham gia các hoạt động xã hội tại nơi đến
Người lao động di cư từ nông thôn ra thành thị cũng đã tham gia một số
hoạt động tại địa phương nơi đến như các hoạt động quyên góp, từ thiện và
họp tổ dân phố, còn một số hoạt động khác như tham gia các tổ chức đoàn
thể, các hoạt động liên quan đến lễ hội, văn hóa thì rất hạn chế. Tuy nhiên,
các hoạt động mà người lao động di cư tham gia là những hoạt động được các
cơ quan, tổ chức tại địa phương mời tham gia. Điều đó cho thấy, khi được địa
phương nơi đến mời tham gia thì họ cũng đã tham gia, còn các hoạt động mà
địa phương nơi đến không mời tham gia thì họ hầu như không tham gia [25].
Như vậy, có thể là những người lao động di cư muốn tham gia vào các hoạt

19


động xã hội tại nơi đến nhưng họ vẫn còn thụ động, ngại giao tiếp với người
dân sở tại.
1.1.4. Đặc điểm tâm lý của người lao động di cư ở Việt Nam
Mỗi loại hình di cư khác nhau thì người di cư cũng có những đặc điểm
tâm lý khác nhau. Tuy nhiên, đối với người lao động di cư từ nông thôn ra
thành thị thì chủ yếu gặp những khó khăn về tâm lý như nỗi nhớ nhà, nhớ gia
đình của người di cư. Theo kết quả Điều tra của ISDS về đổi mới, bảo trợ xã
hội và di cư nông thôn ra thành thị thì 45,3% người di cư gặp phải khó khăn
là nhớ nhà. Đây là khó khăn xếp vị trí thứ ba mà người di cư gặp phải. Đây là
trạng thái tâm lý rất dễ hiểu của người di cư [22, tr. 34]. Đặc biệt là ở nhóm
phụ nữ di cư làm các công việc như bán hàng rong thì họ phải sống xa cha
mẹ, xa chồng con và những người thân. Họ cảm thấy thiệt thòi vì sức lao
động phải bỏ ra quá nhiều so với đồng tiền kiếm được. Với họ, "đồng tiền lãi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status