ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ CẨM TÚ KỲ THỊ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI ĐỒNG TÍNH NỮ Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp tại Quận 3 và Quận Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã ngành: 60.31.30
LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hồi Loan
Hà Nội - 2014
1 LỜI CẢM ƠN
Xin bày tỏ lòng biết ơn đến PGS. TS Nguyễn Hồi Loan, người đã hết lòng
giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này. Xin gửi lời
Học viên
Lê Thị Cẩm Tú
3 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 8
1. Lý do chọn đề tài/tính cấp thiết của đề tài 8
2. Ý nghĩa nghiên cứu lý luận và ý nghĩa thực tiễn 9
2.1 Ý nghĩa lý luận 9
2.2 Ý nghĩa thực tiễn 10
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 10
3.1 Mục đích nghiên cứu 10
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
4. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 11
4.1 Đối tượng nghiên cứu 11
4.2 Phạm vi nghiên cứu 11
4.3 Khách thể nghiên cứu 11
5. Câu hỏi nghiên cứu 11
6. Giả thuyết nghiên cứu 11
7. Phương pháp nghiên cứu 12
8. Khung phân tích 15
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN
CỨU…………. 16
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 16
1.1.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài 16
3.1.2 Ảnh hưởng từ thông điệp truyền thông 66
3.1.2 Ảnh hưởng của truyền thống văn hóa 69
3.1.3 Ảnh hưởng của giáo dục nhà trường 70
3.2 Ứng phó với sự kỳ thị xã hội của ngƣời đồng tính nữ 72
3.2.1 Che giấu xu hướng tình dục 72
3.2.2 Kết hôn 75
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79
1. Kết luận 79
2. Khuyến nghị 81 5 DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. 1 Giới tính mẫu tham gia nghiên cứu 13
Bảng 1. 2 Trình độ học vấn người tham gia nghiên cứu 13
Bảng 1. 3 Tình trạng hôn nhân của mẫu nghiên cứu 13
Bảng 1. 4 Tuổi của mẫu nghiên cứu 14
Bảng 2. 1 Các phát biểu về đồng tính nữ (%) 35
Bảng 2. 2 Định khuôn các giá trị về người đồng tính nữ (đơn vị tính: %) 38
Bảng 2. 3 Đánh giá mức độ chấp nhận của gia đình người tham gia nghiên cứu đối
với nhóm đồng tính nữ (%) 60
Bảng 2. 4 Hành vi đối với người đồng tính nữ 63
6 DANH MỤC BIỂU ĐỒ
nữ và vị thành niên
ĐTLA Đồng tính luyến ái
Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kì
ICS Tổ chức bảo vệ và thúc đẩy quyền của người LGBT ở Việt Nam
iSEE Viện nghiên cứu xã hội kinh tế và môi trường
LGBT Lesbian - Gay - Bisexual –Transgender
Người đồng tính nữ- Đồng tính nam- Người song tính- người chuyển
giới
Tổ chức Y tế thế giới
UNDP United Nations Development Programme
USAID U.S. Agency for International Development
WHO World Health Organization
8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài/tính cấp thiết của đề tài
Khi bàn đến sự đa dạng tính dục, có một khái niệm không thể không nhắc
đến là xu hướng tình dục. Xu hướng tính dục được hiểu là sự hấp dẫn có tính bền
vững về mặt tình cảm và tình dục của một người với người cùng giới, khác giới
hoặc cả hai giới. Những người chịu sự hấp dẫn bởi những người cùng giới là được
gọi là đồng tính luyến ái. Cho đến thời điểm này, các tài liệu khoa học đưa ra kết
luận về nguyên nhân khiến một người là đồng tính luyến ái (ĐTLA) về cả sinh học
và xã hội gồm các yếu tố di truyền, hóc- môn, phát triển con người, văn hóa xã hội.
Tuy nhiên, điều quan trọng đó là đa số người ta không có khả năng tự lựa chọn xu
hướng tính dục cho mình.
Một quan niệm tồn tại từ trước đến nay cho rằng ĐTLA là bệnh, là rối loạn
tâm lý, tuy nhiên tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã khẳng định ĐTLA không phải là
bệnh từ năm 1990. Hướng nghiên cứu không còn tập trung vào việc đi tìm hiểu
nguyên nhân của ĐTLA nữa mà chuyển hướng nghiên cứu đến sự tác động của kỳ
thị xã hội đối với người đồng tính luyến ái nhằm đưa các giải pháp để bảo vệ quyền
người (tính theo dân số Việt Nam năm 2009 có 55.029 triệu người trong độ tuổi 15-
59) [14,tr 92].
Mặc dù vậy, các kết quả nghiên cứu chủ yếu mới chỉ tập trung phân tích
những đánh giá của những người đồng tính nữ đối với xã hội về sự định kiến và kỳ
thị của xã hội với họ. Đánh giá này chỉ là một chiều, do vậy cần thiết phải có một
nghiên cứu từ góc nhìn của xã hội về người đồng tính nữ để có cái nhìn đa chiều và
trả lời cho những nghiên cứu trước đó rằng xã hội có thực sự kỳ thị đối với người
đồng tính nữ hay không và nếu có thì mức độ đó như thế nào. Đây là lý do tôi chọn
đề tài nghiên cứu về “Kỳ thị xã hội đối với người đồng tính nữ ở Việt Nam hiện
nay”.
2. Ý nghĩa nghiên cứu lý luận và ý nghĩa thực tiễn
2.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên cơ sở vận dụng các lý thuyết về kỳ thị
xã hội, lý thuyết xung đột xã hội, lý thuyết cấu trúc- chức năng, lý thuyết sự lựa
10
chọn hợp lý, để xem xét sự kỳ thị của người dân dị tính với người đồng tính nữ và
gia đình người đồng tính nữ
Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm bổ sung lý thuyết về kỳ thị xã hội giữa
nhóm đa số và nhóm thiểu số trong xã hội, đánh giá thực trạng của sự kỳ thị xã hội
từ đó nhận dạng được các yếu tố tác động đến kỳ thị xã hội đối với nhóm đồng tính
nữ hiện nay.
Nhận diện biểu hiện của kỳ thị xã hội đối với nhóm đồng tính nữ và chỉ ra
các nhân tố tác động nhằm giảm thiểu hoặc gia tăng kỳ thị xã hội. Nghiên cứu đưa
ra những mặc hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình,
đồng thời cung cấp những luận cứ khoa học cho các nhà quản lý, các nhà làm luật
thực hiện các sửa đổi về Luật hôn nhân và gia đình nhằm đảm bảo sự phát triển bình
đẳng và công bằng cho nhóm người đồng tính nữ trong xã hội.
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu mong muốn cung cấp những thông tin thực nghiệm góp phần
Người dân sống ở 2 quận (Quận 3 và quận Thủ Đức) tại thành phố Hồ Chí
Minh.
5. Câu hỏi nghiên cứu
Chúng tôi đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi nghiên cứu sau:
Kỳ thị xã hội đối với nhóm người đồng tính nữ hiện nay như thế nào?
Những biểu hiện của kỳ thị xã hội ra sao?
Các yếu tố tác động đến kỳ thị xã hội đối với người đồng tính nữ và vai trò
như thế nào trong việc tạo ra kỳ thị xã hội?
Các giải pháp và kiến nghị tiến tới giảm dần và xóa bỏ kỳ thị, đảm bảo cơ
hội cho sự phát triển công bằng cho các thành viên sống trong xã hội?
6. Giả thuyết nghiên cứu
Từ câu hỏi nghiên cứu trên chúng tôi đặt ra một số giả thuyết nghiên cứu sau
đây:
Các yếu tố về nhân khẩu học tác động đến kỳ thị xã hội trong đó nữ giới
định kiến về người đồng tính nữ hơn nam giới, tuổi càng cao thì kỳ thị xã hội càng
cao.
12
Các yếu tố khách quan như truyền thông đại chúng (báo đài, ti vi,v.v) có thể
tác động và chi phối đến sự kỳ thị của người dân trong xã hội đối với người đồng
tính nữ.
Các yếu tố văn hóa, giáo dục trong gia đình, nhà trường cũng có thể ảnh
hưởng đến thái độ của người dân.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong đề tài nghiên cứu bao gồm:
Phương pháp quan sát: Chúng tôi tiến hành khảo sát và quan sát thực tế tại
địa bàn tiến hành nghiên cứu. Trong quá trình phỏng vấn, chú ý quan sát địa bàn
cũng như thái độ và hành vi của các nhóm xã hội có liên quan trong khi trả lời các
vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp phân tích tài liệu: Tác giả đã tham khảo một số đề tài khoa
74
51
84
151
135
Trình độ học vấn của mẫu tham gia nghiên cứu
Bảng 1. 2 Trình độ học vấn ngƣời tham gia nghiên cứu
Trình độ học vấn
Quận Thủ Đức
Quận 3
Trình độ phổ thông
34
16
Công nhân kỹ thuật
1
4
Trung học chuyên nghiệp
19
18
Cao đẳng
11
20
Đại học
79
65
Trên đại học
6
6
34-44
78
44+
44
Phương pháp phỏng vấn sâu: Người nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu người
dân và người đồng tính nữ để thu thập cụ thể và chi tiết hơn những thông tin liên
quan đến vấn đề mà người nghiên cứu quan tâm, trong đó có 10 trường hợp phỏng
vấn người dân và 5 trường hợp phỏng vấn sâu người đồng tính nữ. Trong quá trình
thu thập thông tin bằng phương pháp điều tra bảng hỏi, chúng tôi đồng thời tiến
hành phỏng vấn và tìm hiểu thêm thông tin ở mẫu nghiên cứu này. Những thông tin
thu được từ phương pháp này được sử dụng trực tiếp trong quá trình phân tích.
Với đối tượng là người dân, chúng tôi thực hiện phỏng vấn sâu với những
người đã từng tiếp xúc với người đồng tính nữ, mẫu này được lựa chọn trong quá
trình thực hiện phương pháp nghiên cứu bảng hỏi. Qua 10 trường hợp phỏng vấn
sâu này, chúng tôi tìm hiểu sâu hơn về cảm xúc, thái độ của người dân về đồng tính
nữ cũng như hiểu biết về xu hướng tính dục của họ.
Với đối tượng là người đồng tính nữ, chúng tôi áp dụng phương pháp tiếp
cận “vết dầu loang”, từ người ban đầu tìm được, người này sẽ giới thiệu cho chúng
tôi người khác và những người này lại giới thiệu những người khác nữa. Người
đồng tính nữ trong nghiên cứu có độ tuổi từ 20-30, trong độ tuổi này, các cá nhân đã
xác định rõ xu hướng tính dục của mình. Qua những cuộc phỏng vấn với người
đồng tính nữ, chúng tôi có thể biết được cách thức ứng phó của họ đối với gia đình
và sự kỳ thị của xã hội như thế nào.
15
Phương pháp xử lý thông tin bằng chương trình SPSS 20.0: Đề tài sử dụng
phần mềm SPSS 20.0 để tính tần suất và một số tương quan của nguồn thông tin thu
được từ bảng hỏi định lượng.
8. Khung phân tích
CỨU
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài
+ Xu hƣớng tính dục/ Xu hƣớng tính dục đồng giới
- Xu hướng tính dục:
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về xu hướng tính dục, mỗi định nghĩa
phản ánh cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau về nguồn gốc xu hướng tính dục, có
thể là các yếu tố về gien hay hooc-mon, hoặc từ những trải nghiệm thời thơ ấu.
Ngay từ những năm 1940, trong một tác phẩm xuất bản cuối năm 1940, Alfred
Kinsey và đồng nghiệp chỉ ra rằng xu hướng tính dục có thể được chia ra làm bảy
loại, từ hoàn toàn dị tính cho tới hoàn toàn đồng tính, song tính và điểm giữa.
Nghiên cứu này sử dụng định nghĩa của hiệp hội Tâm lý học Hoa kỳ
“Xu hướng tính dục” là một yếu tố trong tính dục, thể hiện sự hấp dẫn có tính bền
vững về cảm xúc, tình dục hoặc tình cảm hướng tới người cùng giới, khác giới hay
cả hai. Từ đó có các xu hướng như đồng tính, dị tính hoặc song tính. Xu hướng tính
dục không nhất thiết trùng với hành vi tình dục. Hành vi tình dục có thể phản ánh
hoặc không phản ánh xu hướng tính dục của một người.
Xu hướng tính dục là một thành tố trong tổng thể giới tính- tính dục của một
con người. Các thành tố khác bao gồm: giới tính sinh học là các đặc điểm giải phẫu,
sinh lý, di truyền liên quan của nam và nữ; Bản dạng giới là ý thức tâm lý rằng
mình là nam hay là nữ, vai trò giới có tính xã hội: là khuôn mẫu văn hóa xác định
hành vi nữ tính hay nam tính.
- Xu hướng tính dục đồng giới
Các hướng tiếp cận về tính dục đồng giới nhìn chung có thể được quy về nội
dung tranh cãi giữa bản thể luận và kiến tạo xã hội. Theo quan điểm bản thể luận,
tính dục đồng giới là xu hướng cố định của một bộ phận dân số, có tính liên tục,
xuyên lịch sử và văn hóa, xuất phát điểm từ yếu tố sinh học hoặc ở giai đoạn rất
17
sớm của sự phát triển của cá nhân. Nhiều nhà sinh học còn chứng minh rằng hiện
APA) Tính dục đồng giới là một xu hướng tính dục trong đó một người cảm nhận
thấy sự hấp dẫn tính dục chủ yếu từ những người có cùng giới tính với mình. Tính
dục đồng giới ngược với tính dục khác giới, sự hấp dẫn tính dục đến từ những người
thuộc giới tính khác, và khác với lưỡng tính, sự hấp dẫn tính dục đến từ những
người thuộc cả hai giới tính.
Khái niệm đồng tính luyếnái hay đồng tính là thuật ngữ chỉ sự hấp dẫn về
cảm xúc hoặc tình cảm hoặc tình dục với người cùng giới. Người đồng tính nam
thường gọi là “gay” và người đồng tính nữ thường được gọi là “les”/ “lesbian” [23,
tr.93].
- Đồng tính luyến ái nữ
Đồng tính luyến ái nữ là người nữ có sự hấp dẫn về cảm xúc hoặc tình cảm hoặc
tình dục với người cùng giới [23, tr.93].
+ Khái niệm kỳ thị xã hội và định kiến xã hội
- Khái niệm Kỳ thị xã hội
Kỳ thị hay phân biệt đối xử là vấn đề thường xảy ra với nhóm thiểu số và
mang một số đặc điểm bị cho là bất lợi. Người ta bắt gặp thái độ đó với nhóm người
mắc HIV, người khuyết tật, người phạm tội sau khi ra tù người đồng tính nữ cũng
không nằm ngoài nhóm bị kỳ thị. Kì thị là một từ gốc Hán (tiếng Anh là
discrimination), “kỳ” là "khác biệt, không như nhau", “thị” là "nhìn nhận, đối xử",
và kỳ thị là "đối xử khác" hay "phân biệt đối xử". Kỳ thị chỉ việc ứng xử với một
thành viên nào đó trong cộng đồng theo một thái độ khác do thân phận hoặc sự phân
loại, mà không xét đến phẩm chất con người của họ. Kỳ thị luôn lấy lợi ích của một
nhóm người nào đó để đánh đổi, để đề cao nhóm người ấy hơn.
Xuất phát điểm cho định nghĩa khái niệm kỳ thị và phân biệt đối xử là nghiên
cứu của nhà xã hội học Erving Goffman (1963) về sự kỳ thị liên quan đến bệnh tâm
thần, sự dị dạng của cơ thể và những gì được xem là hành vi lệch chuẩn. Goffman
mô tả kỳ thị như “một thuộc tính hết sức cá nhân” và dẫn tới việc loại bỏ một người
19
hoặc một nhóm người ra khỏi cộng đồng và những người bình thường, coi họ là một
nhau là những quá trình vô thức thì sự kỳ thị được bộc lộ ra ngoài thường biểu hiện
qua hành vi và dẫn tới kết quả là những thiệt hại cho người bị kỳ thị, bao gồm mất
chỗ đứng trong xã hội hoặc cơ hội việc làm. Việc phân chia giữa “chúng ta” và “họ”
theo cách tạo dựng chỗ đứng cho mình bằng sự đối lập với bên kia. Theo nghĩa này
nhóm bên ngoài là cần thiết cho sự cố kết và an ninh tình cảm của nhóm bên trong,
và một nhóm bên ngoài có thể cần được tạo ra, nếu như nó chưa tồn tại. Zygmunt
Baumant trong Thinking Sociologically (1990) phân tích rằng cái mà nhóm bên
trong xem là quyền (nghiễm nhiêm được hưởng) có thể là một hành động ban ơn,
một sự rộng lượng (ban phát) nếu được thực hiện cho những người thuộc nhóm bên
ngoài. Điều đáng lưu ý là sự tàn bạo của một người chống đối lại các thành viên
không thuộc nhóm mình có vẻ như không mâu thuẫn với lương tâm đạo đức. Các
hành động giống nhau được gọi theo tên khác nhau có thể được gắn với sự ngợi ca
hoặc buộc tội, phụ thuộc vào việc phía nào đã thực hiện những hành động ấy.
Còn theo quan điểm của UNAIDS (2011) về kỳ thị. Kỳ thị là quá trình làm
giảm giá trị của cá nhân hay một nhóm người dưới mắt của những người khác.
Trong một nền văn hóa hoặc một bối cảnh cụ thể, một số đặc tính nhất định được
coi là lệch khỏi chuẩn mực chung, do đó đáng xấu hổ hoặc đáng bị coi thường. Kỳ
thị có thể dẫn đến phân biệt đối xử khi nó thể hiện thành hành động.
Theo Parker và Aggleton (2003), kỳ thị là chuyển sự khác biệt thành sự bất
công, cho phép một vài nhóm hạ thấp giá trị của các nhóm khác.
- Khái niệm Định kiến xã hội
Định kiến là “ý kiến thiên vị, không khách quan, đã có sẵn từ trước”. Trong
tiếng Anh, định kiến (prejudice) được định nghĩa là sự ghét hay yêu thích không có
lý do đối với một người, một nhóm, một thói quen, v.v. đặc biệt là khi sự yêu ghét
đó dựa trên chủng tộc, tôn giáo, giới tính v.v. Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt
Nam, định kiến là “xu thế tâm lí (tâm thế) tiêu cực đối với một nhóm xã hội, một các
nhân hay một sự vật, là hiện tượng nhất định có tính chất định hình, khó thay đổi
21
Theo định nghĩa của cuốn sách kinh điển “The Nature of Prejudice” của
Golden Allport (1954), định kiến là một “phản cảm dựa trên sự khái quát hóa sai
lầm và không linh hoạt. Nó có thể được cảm thấy và thể hiện ra bên ngoài. Nó có
thể nhắm tới một nhóm người như một tổng thể, hoặc là một thành viên của nhóm
đó”. Mặc dù các thiên lệch có thể là tích cực hay tiêu cực, định kiến thường chỉ một
thái độ tiêu cực không hoan nghênh đối với một nhóm, hoặc các cá nhân là thành
viên của nhóm đó. Các nghiên cứu xã hội học về định kiến cũng cho rằng sự khái
quát quá mức, võ đoán, và từ chối tính đến các khác biệt cá nhân và suy nghĩ theo
khuôn mẫu có sẵn đều vi phạm lối suy nghĩ duy lý. Tương tự như vậy, do tác động
của định kiến là đặt cá nhân hoặc nhóm vào tình thế bất lợi không được hoan
nghênh, định kiến sẽ dẫn đến cách ứng xử không công bằng, định kiến cũng thể
hiện sự không khoan dung và thậm chí vi phạm nhân phẩm. Do vậy định kiến là
thái độ thiên lệch hay tiêu cực, còn kỳ thị xã hội là một hiện tượng mà trong đó một
cá nhân với các đặc tính bị xã hội phủ nhận và từ chối.
Với tư cách là một đề tài nghiên cứu xã hội học, khái niệm “kỳ thị xã hội” sẽ
được xem xét dưới 3 góc độ: nhận thức, thái độ và hành vi.
Nhận thức xã hội về đồng tính nữ: từ nhận thức xã hội về đồng tính nữ lại chia
ra: dán nhãn về đồng tính nữ, định khuôn các giá trị về đồng tính nữ, nhận thức về
nguyên nhân của đồng tính nữ.
- Dán nhãn về đồng tính nữ được biểu hiện trong việc sử dụng những tên
gọi mang tính chất phân biệt; những đánh giá về ngọai hình của người
đồng tính nữ nhằm phân tách giữa người dị tính và người đồng tính nữ.
- Định khuôn về các giá trị về người đồng tính nữ được biểu hiện ở việc
gắn các giá trị tiêu cực như ngoại hình, tính cách, lối sống của người
đồng tính nữ.
- Việc xác định nguyên nhân đồng tính cũng là biểu hiện của nhận thức xã
hội, sự đánh giá và đưa ra những phán đoán về nguyên nhân đồng tính thể
hiện cảm xúc, thái độ về người đồng tính nữ.
23
Nhận thức xã hội
24
Nghiên cứu này áp dụng quan điểm của UNAIDS (2011) về kỳ thị. Kỳ thị là
một quá trình làm giảm giá trị của một cá nhân hay một nhóm người dưới mắt của
những người khác. Trong một nền văn hóa hoặc một bối cảnh cụ thể, một số đặc
tính nhất định bị coi là lệch khỏi chuẩn mực chung, do đó đáng xấu hổ hoặc đáng bị
coi thường. Kỳ thị có thể dẫn tới phân biệt đối xử khi nó thể hiện thành hành động
và đó có thể là bất kỳ một hành vi phân tách, loại bỏ hay hạn chế những cá nhân bị
kỳ thị.
Như vậy, kỳ thị là một quá trình liên tục và thể hiện ở các dạng, hình thức
khác nhau; từ quan điểm đánh giá, thái độ cho đến hành vi/hành động. Link và
Phelan (2001) [24, tr.93] đã nêu ra 4 cấu phần có tương quan chặt chẽ với nhau
trong kỳ thị, đó là sự dán nhãn, định khuôn, phân tách và phân biệt đối xử.
Dán nhãn là quá trình mọi người trong xã hội gán cho cá nhân hay nhóm
người nào đó những đặc điểm riêng. Những đặc điểm này có thể là hình dáng, cử
chỉ, hành vi hoặc những khả năng/mất khả năng nào đó của họ so với những người
khác trong xã hội. Định khuôn là quá trình gắn những đặc điểm riêng, khác biệt của
nhóm người bị kỳ thị với những thuộc tính tiêu cực. Sự dán nhãn hay qui kết những
đặc điểm, thuộc tính tiêu cực cho cá nhân hoặc nhóm người nào đó đều nhằm để
phân biệt “chúng ta” và “họ”, ví dụ giữa nhóm người quan hệ tình dục dị tính và
nhóm người quan hệ tình dục đồng tính. Sự phân biệt này đi kèm với những ý nghĩa
xã hội nhất định mà không phải bất cứ những khác biệt về đặc điểm, thuộc tính nào
liên quan đến con người đều có ý nghĩa như vậy. Sự dán nhãn, định khuôn và sự
phân loại một nhóm người với những đặc điểm, thuộc tính tiêu cực thường dẫn đến
hậu quả hạ thấp vị trí của họ và từ đó gây ra những bất bình đẳng và giảm các cơ
hội trong cuộc sống của những người bị kỳ thị. Trong nghiên cứu này, tôi áp dụng
khái niệm về các cấu phần của Link và Phelan để phân tích các dạng kỳ thị của xã
hội đối với người đồng tính nữ.
Một điểm cần lưu ý là do dựa trên niềm tin về các giá trị khác nhau, điều bị