Công tác xã hội trong phát triển nông thôn ở việt nam hiện nay - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ HỒNG HẠNH

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG
THÔN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành

: Công tác xã hội

Mã số

: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS PHẠM HỮU NGHỊ

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ Công tác
xã hội về “Công tác xã hội trong phát triển nông thôn ở Việt Nam hiện
nay” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng
dẫn khoa học của PGS.TS. Phạm Hữu Nghị. Những kết quả trong luận văn

2.3. Những khó khăn, thách thức trong việc thực hiện công tác xã hội trong phát
triển nông thôn hiện nay ........................................................................................... 58
Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ...................... 61
3.1. Định hướng thực hiện công tác xã hội trong phát triển nông thôn ................... 61
3.2. Các giải pháp thực hiện công tác xã hội trong phát triển nông thôn ................ 63
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 74
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 81


DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG SỐ LIỆU VÀ HÌNH ẢNH

Sơ đồ 1.1

Tiến trình thực hiện công tác xã hội trong phát triển nông thôn

Hình 2.1

Bản đồ hành chính tỉnh An Giang


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp.
Tính đến năm 2011, Việt Nam có khoảng gần 70% dân số là nông dân (chiếm
69,4% dân số) với xấp xỉ 32 triệu người trong độ tuổi lao động (chiếm 71,5%
lực lượng lao động xã hội) [24, tr.29]. Mặc dù trong những năm gần đây tỷ lệ
dân số là nông dân ở Việt Nam có giảm nhưng vẫn chiếm chủ yếu trong cơ cấu
dân số. Theo thống kê đến ngày 01/4/2014, nông thôn Việt Nam có tỷ lệ dân số

vực khoa học khá mới mẻ, hệ thống cơ sở lý luận vẫn chưa được định hình cụ
thể mà mới chỉ được thể hiện trong một số bài giảng của các trường đại học có
đào tạo ngành phát triển nông thôn. Còn trong thực tiễn, công tác xã hội cũng
chưa được quan tâm nghiên cứu và vận dụng hiệu quả. Vậy bản chất của vấn đề
là ở đâu? Cần có những cơ sở gì để công tác xã hội trong phát triển nông thôn
phát huy được vai trò của mình? Và hiện nay, công tác xã hội có được vận
dụng trong quá trình phát triển nông thôn hay không? Đây cũng là vấn đề cần
thiết mà thực tiễn đào tạo và thực hành công tác xã hội trong phát triển nông
thôn ở Việt Nam đang đặt ra.
Từ những trình bày trên, có thể kết luận rằng, thực tiễn đào tạo và thực
hành công tác xã hội trong phát triển nông thôn ở Việt Nam đang đặt ra yêu cầu
về nghiên cứu một cách cụ thể, có hệ thống vấn đề công tác xã hội trong phát
triển nông thôn trên cơ sở tổng kết lý luận và thực tế nhằm hỗ trợ cho công tác
đào tạo nhân viên công tác xã hội, phối hợp với chuyên gia phát triển nông
thôn thúc đẩy giải quyết các vấn đề xã hội tại các vùng nông thôn. Vì vậy, đề
tài “Công tác xã hội trong phát triển nông thôn ở Việt Nam hiện nay” có ý
nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn, nhất là trong giai đoạn thực hiện các
chính sách phát triển nông thôn mới, bền vững với tôn chỉ “dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra” và hội nhập quốc tế của Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Hướng nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân và phát triển nông thôn:
Các nhà nghiên cứu thực tiễn trên thế giới đã đúc kết rằng việc phát triển
và tăng trưởng khu vực nông thôn sẽ giúp xóa đói giảm nghèo không chỉ ở khu
vực nông thôn, mà còn ở cả khu vực thành thị, trong khi đó tăng trưởng ở khu
vực thành thị không đủ đảm bảo cho việc xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông
thôn [60]. Chính vì vậy, các nghiên cứu về phát triển nông nghiệp, nông thôn

2


chương trình phát triển quốc gia, trong đó phát triển cộng đồng chủ yếu là phát
triển nông thôn và các cộng đồng nông thôn (dân cư nông thôn chiếm 80 - 90%

3


ở các nước). Cho đến nay, các nghiên cứu về thực hành công tác xã hội trong
phát triển nông thôn đã được thực hiện khá phong phú, điển hình là nghiên cứu
của Kyamak Kabadaki về “Exploration of Social Work Practice, Models for
Rural Development in Uganda”. Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã đánh
giá sự đóng góp của công tác xã hội trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống
cho người dân nông thôn ở Uganda cũng như xem xét các mô hình thực hành
công tác xã hội nhằm giải quyết vấn đề, nhu cầu và tạo điều kiện để phát triển
nông thôn [65].
Từ yêu cầu thực tiễn, vào thập kỷ 60, môn tổ chức cộng đồng - một
phương pháp của công tác xã hội được giảng dạy ở đại học [54, tr.10 - 11].
Hiện nay, công tác xã hội trong phát triển nông thôn trên thế giới đã được xem
là một ngành khoa học. Các giáo trình đào tạo cử nhân và thạc sĩ ngành công
tác xã hội trong phát triển nông thôn đã được chú trọng tại các trường: The
Tata Institute of Social Sciences (TISS), Ấn Độ; Thames International College,
Nepal… nhưng trong chương trình đào tạo của các trường này, công tác xã hội
trong phát triển nông thôn không có một giáo trình riêng mà bao gồm nhiều
học phần chuyên sâu khác nhau. Những vấn đề được các tác giả đề cập nhiều
nhất trong công tác xã hội phát triển nông thôn là: lịch sự hình thành, khái
niệm, vai trò của nhân viên công tác xã hội nông thôn, vị trí và vai trò của công
tác xã hội đối với cộng đồng nông thôn, các kỹ năng thực hành, mục tiêu của
công tác xã hội trong phát triển nông thôn, các dịch vụ xã hội nông thôn, công
tác xã hội cộng đồng ở khu vực nông thôn, mô hình thực hành công tác xã
hội…[65], [69], [64], [68]. Đây là những thành tựu và kinh nghiệm cần được
nghiên cứu để tham khảo, học hỏi trong đào tạo nhân viên công tác xã hội cũng

đói [70]; thực trạng nông thôn nước ta ở khía cạnh; vị trí, vai trò của nông
nghiệp, nông thôn, sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực, những thành tựu,
khó khăn, thách thức cũng như thực trạng nông nghiệp nông thôn của nước ta
qua các thời kỳ [3], [47], [49], [9]. Riêng những nghiên cứu về xây dựng nông
thôn mới, một chương trình phát triển nông thôn toàn diện nhất trong giai đoạn
từ 2010 đến 2020 được triển khai, thực hiện khá phổ biến do tính hiện thời và
thực tiễn. Những vấn đề mấu chốt trong thực hiện phát triển nông thôn mới đã
được tìm hiểu như thực trạng triển khai các tiêu chí xây dựng nông thôn mới ở
từng địa bàn cụ thể (kết quả và hạn chế về kinh tế, xã hội, văn hóa, đời sống, cơ
sở hạ tầng…) [61], [21], [46]. Những nghiên cứu trên đã làm tiền đề cho việc
đưa ra các giải pháp hữu ích nhằm giải quyết các vấn đề ở nông thôn và các mô
hình phát triển nông thôn mới ở Việt Nam [50], [56]. Tuy nhiên, các nghiên

5


cứu thực tiễn về phát triển nông thôn lại chưa đề cập hoạt động của công tác xã
hội trong lĩnh vực này.
Hướng nghiên cứu lý luận và thực tiễn về công tác xã hội trong phát
triển nông thôn:
Tính đến thời điểm hiện nay, vấn đề liên quan đến công tác xã hội, dịch
vụ công tác xã hội, quản lý công tác xã hội và các phương pháp trong công tác
xã hội đã được quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu
riêng biệt về công tác xã hội trong phát triển nông thôn còn rất ít ỏi.
Xét trên khía cạnh thực tiễn thì phong trào xây dựng nông thôn lấy cộng
đồng làm trọng tâm đã được thực hiện từ thập kỷ 60 và 70 khi phát triển cộng
đồng được mở rộng ở các nước. Hiện nay, Việt Nam cũng có một số công trình
nghiên cứu đề cập sự tham gia của người dân trong phát triển nông thôn, hiệu
quả sử dụng các công cụ, kỹ thuật của phát triển cộng đồng vào phát triển nông
thôn. Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về công tác xã

Giang, Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Song trên thực tế, phần lớn các giáo
trình, bài giảng trên chỉ tập trung vào lịch sử hình thành, vai trò và tiến trình
thực hiện công tác xã hội trong phát triển nông thôn cũng như các vấn đề xã
hội, môi trường cần quan tâm, giải quyết trong quá trình hoạch định, thực hiện
các chính sách, chương trình phát triển nông thôn mới.
Như vậy, xét trên cả góc độ lý luận và thực tiễn, công tác xã hội trong
phát triển nông thôn mới chỉ được thể hiện riêng rẽ trong các bài giảng của một
số trường đại học. Nói một cách cụ thể, chưa có một giáo trình toàn diện,
chuyên sâu nào về vấn đề công tác xã hội trong phát triển nông thôn. Còn xét
trên khía cạnh thực tiễn, công tác xã hội trong phát triển nông thôn cũng ít
được tìm hiểu và nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về công tác xã hội
trong phát triển nông thôn và thực trạng công tác xã hội trong phát triển nông
thôn, cụ thể là thực trạng công tác xã hội trong chương trình xây dựng nông
thôn mới. Qua đó, đề xuất những định hướng và giải pháp thực hiện hiệu quả
công tác xã hội trong phát triển nông thôn ở Việt Nam hiện nay.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung thực hiện 3 nhiệm vụ chính sau:
Nhiệm vụ thứ nhất là hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về công tác xã hội
trong phát triển nông thôn. Đặc biệt là làm rõ các khái niệm, nhu cầu, quan

7


điểm, nguyên tắc, kỹ năng, tiến trình và các yếu tố ảnh hưởng cũng như quan
điểm, pháp luật về công tác xã hội trong phát triển nông thôn, trong đó nhấn
mạnh đến phương pháp phát triển cộng đồng trong công tác xã hội.
Nhiệm vụ thứ hai là đánh giá thực trạng công tác xã hội trong chương


tác xã hội trong chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai
đoạn 2010 - 2015 ở Việt Nam nói chung và tại tỉnh An Giang nói riêng.
Phạm vi về thời gian nghiên cứu:
Thực tiễn về công tác xã hội trong phát triển nông thôn được nghiên cứu
chủ yếu trong giai đoạn 2010- 2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Phương pháp luận chung để nghiên cứu nội dung của đề tài là quan điểm
của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phát triển nông nghiệp, nông thôn; lý
thuyết về công tác xã hội nói chung và lý thuyết về công tác xã hội trong phát
triển nông thôn mới nói riêng.
Đề tài vận dụng các quan điểm tiếp cận cụ thể sau:
Tiếp cận hệ thống - cấu trúc: Việc vận dụng thuyết trên nhằm giúp nghiên
cứu có cơ sở, hiểu sâu hơn về nguyên tắc, nhu cầu, vai trò cũng như mối liên hệ
giữa hai ngành khoa học: công tác xã hội và phát triển nông thôn. Theo khái
niệm của công tác xã hội và phát triển nông thôn thì không phải chỉ ưu tiên chú
trọng vào một khía cạnh, lĩnh vực nhất định mà là sự tiếp cận hệ thống. Tính hệ
thống đó nhấn mạnh đến tất cả các khía cạnh: kinh tế, văn hóa, xã hội, con
người và môi trường. Trong đó chú trọng cả các tổ chức, cơ quan “từ trên
xuống” và “từ dưới lên” theo tinh thần hợp tác.
Tiếp cận nguồn lực: Các tiếp cận này được vận dụng để xem xét đến việc
phát huy nguồn lực và sự tham gia của cư dân nông thôn trong quá trình xây
dựng nông thôn mới. Theo đó, cư dân nông thôn sẽ là người tự tổ chức và điều
hành quá trình phát triển của cộng đồng nông thôn dựa vào nguồn lực vốn có
(có năng lực và tự lực). Điều này sẽ giúp cho cư dân nông thôn trở thành những
chủ thể thực sự của quá trình phát triển.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này chủ yếu sử dụng các phương pháp sau đây để tìm hiểu
vấn đề nghiên cứu:

Trung - thị xã Phú Tân; thị trấn Cái Dầu - huyện Châu Phú; xã Bình Thủy huyện Châu Phú; xã Kiến Thành - huyện Chợ Mới; xã Long Kiến - huyện Chợ
Mới; xã Vĩnh Ngươm - huyện Châu Đốc; xã Cô Tô - huyện Tri Tôn; xã Cần
Đăng - huyện Châu Thành.
Còn riêng đối với phương pháp chuyên gia, học viên sử dụng phương pháp
này để thu thập các ý kiến từ các nhà chuyên môn trong lĩnh vực phát triển
nông thôn, phát triển cộng đồng, công tác xã hội và hoạt động công tác xã hội
thực tiễn để làm rõ thêm thực tiễn về công tác xã hội trong phát triển nông thôn
ở Việt Nam và ở tỉnh An Giang.

10


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Đóng góp về mặt khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các cơ
sở đào tạo, nghiên cứu, thực hành về công tác xã hội, đặc biệt là công tác xã
hội trong phát triển nông thôn.
6.2. Đóng góp về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu là bằng chứng khoa học cho các cơ quan hữu quan
trong việc xây dựng chính sách, giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả công tác
xã hội trong phát triển nông thôn mới hiện nay (giai đoạn 2016 - 2020).
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài có 3
chương. Chương 1 trình bày một cách ngắn gọn những vấn đề lý luận về công
tác xã hội trong phát triển nông thôn. Trên cơ sở đó, chương 2 tập trung phân
tích, đánh giá thực trạng công tác xã hội trong chương trình phát triển nông
thôn mới ở Việt Nam nói chung và tỉnh An Giang nói riêng. Chương 3 đưa ra
các định hướng và giải pháp nhằm thực hiện công tác xã hội trong phát triển
nông thôn ở Việt Nam.


động kinh tế, văn hóa xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất
định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác” [5], [54]. Với cách hiểu này,
nông thôn không chỉ được biết đến thông qua ranh giới khu vực mà còn được
biết đến thông qua sự tham gia của con người trong các lĩnh vực tạo ra của cải

12


vật chất và tinh thần tại nơi cư trú. Tuy nhiên, các quan điểm trên vẫn chưa thể
hiện được trình độ phát triển và mức độ tiếp cận với các dịch vụ xã hội của cư
dân nông thôn.
Đại diện cho sự kết hợp của nhiều tiêu chí là quan điểm của tác giả Vũ
Thị Bình (2006); Hoàng Văn Định và Vũ Đình Thắng (2002), Đỗ Kim Chung
(2009). Theo đó nông thôn là vùng khác với đô thị bởi ở đó có cộng đồng chủ
yếu là nông dân sinh sống và làm nông nghiệp, có mật độ dân cư thấp hơn; có
kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn; có mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn;
có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa thấp hơn.
Nói một cách khác thì nông thôn bao gồm cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi
trường, văn hóa, tài nguyên thiên nhiên, tổ chức và thể chế, công nghệ và hạ
tầng cơ sở [2], [8], [7]. Cách tiếp cận này tương đối toàn diện, bởi lẽ các quan
điểm xem xét nông thôn với nhiều tiêu chí quan trọng, đặc biệt là bao hàm
được nhiều vấn đề của đời sống xã hội ở khu vực nông thôn hiện nay.
Tóm lại, nông thôn là thuật ngữ cần được hiểu một cách bao quát với mọi
mặt của đời sống kinh tế - xã hội kể cả đặc điểm dân cư, mật độ, hạ tầng, môi
trường - tài nguyên thiên nhiên, tính cố kết cộng đồng, phong tục tập quán, tín
ngưỡng truyền thống và những đặc trưng riêng biệt của nó.
Trên cơ sở quan niệm về nông thôn của các tác giả trước đó, nghiên cứu
sử dụng khái niệm nông thôn sau: Nông thôn là khu vực sinh sống trong đơn vị
làng xã của chủ yếu cư dân làm nông nghiệp, nơi đây có tài nguyên thiên nhiên
phong phú nhưng có sự cách biệt về phát triển đối với khu vực thành thị (có cơ

phát triển kinh tế gắn với sự phát triển con người [55].
Theo nghĩa tổng quát nhất, hiện nay thuật ngữ phát triển được hiểu là sự
tăng trưởng, đặc biệt là sự tăng trưởng kinh tế cùng với sự biến chất xã hội theo
chiều hướng tiến bộ xã hội, nghĩa là theo hướng đúng hơn, tốt hơn và đẹp hơn.
Hay nói cách khác, phát triển có thể được hiểu là một quá trình thay đổi liên tục
làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành
quả tăng trưởng trong xã hội [dẫn theo 2], [55], [32], [5], [38].
Còn theo nghĩa hẹp thì thuật ngữ phát triển được gắn với từng lĩnh vực cụ
thể như phát triển nông nghiệp hoặc nông thôn, văn hóa, kinh tế…. Theo đó
phát triển được hiểu là sự tăng trưởng về kinh tế hoặc là hiện đại hóa hay sự
nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Dù với nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, thuật ngữ phát triển không chỉ quan tâm
đến sự tăng trưởng kinh tế mà còn cần phải đảm bảo nâng cao chất lượng cuộc
sống của con người, tiến bộ xã hội và bền vững về môi trường. Nếu phát triển

14


chỉ chú trọng đến tăng trưởng kinh tế đơn thuần thì mới thể hiện được một
phần, một yếu tố chưa đầy đủ của phát triển [5], [2].
Tóm lại, phát triển là tạo điều kiện thỏa mãn nhu cầu sống cho con người,
bao gồm thỏa mãn về mức tiêu thụ hàng hóa, về dịch vụ xã hội, về chất lượng
cuộc sống, về văn hóa tinh thần, về môi trường sống và các quyền cơ bản khác
nhưng không làm tổn hại đến môi trường sinh thái. Phát triển mang tính thời
gian và so sánh.
1.1.3. Khái niệm phát triển nông thôn
Thuật ngữ phát triển nông thôn được đề cập với nhiều quan điểm khác
nhau và thay đổi qua các thời kỳ. Ngân hàng thế giới đã đưa ra định nghĩa
(1975) “Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện
sống về kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng

diện);
Thứ ba là phát triển nông thôn phải có tính bền vững;
Thứ năm là phát triển nông thôn phải dựa trên lợi ích và sự tham gia của
người dân và cộng đồng nông thôn; sự hợp tác giữa người dân, chính phủ và
các tổ chức khác;
Thứ sáu là phát triển nông thôn phải hướng đến hội nhập.
Từ những khái niệm và phân tích trên, có thể nhận thấy: phát triển nông
thôn là quá trình tác động có chủ ý đến tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế,
xã hội ở khu vực nông thôn nhằm tạo điều kiện thỏa mãn nhu cầu và cải thiện
vị thế của cư dân nông thôn thông qua việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực có
sẵn tại địa phương, góp phần vào sự bền vững và hội nhập của cả khu vực nông
thôn và của đất nước. Trong giai đoạn hiện nay, phát triển nông thôn được cụ
thể hóa qua các chính sách, phong trào xây dựng nông thôn mới.
1.1.4. Công tác xã hội trong phát triển nông thôn
Công tác xã hội là một một ngành khoa học, một nghề chuyên môn được
công nhận khắp thế giới, trong đó có Việt Nam. Công tác xã hội theo đuổi mục
tiêu vì hạnh phúc cho con người và tiến bộ xã hội. Công tác xã hội ở Việt Nam
gắn liền với sự nghiệp đổi mới, sự phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc
tế. Công tác xã hội có ba phương pháp thực hành chính, đó là công tác xã hội
cá nhân, công tác xã hội nhóm và công tác xã hội cộng đồng. Với mỗi một
phương pháp thực hành, một lĩnh vực thực hiện, công tác xã hội lại có những
kỹ năng và kỹ thuật đặc trưng. Trong đó, công tác xã hội với cộng đồng nông
thôn và phát triển nông thôn đều dựa trên nguyên lý lấy phát triển con người và

16


cộng đồng làm trung tâm nhằm tạo ra các chuyển biến xã hội trong cộng đồng
giúp cộng đồng nông thôn tăng năng lực cũng như góp phần cải thiện đời sống
vật chất, tinh thần, duy trì công bằng xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường ở



thực tiễn” thì lĩnh vực công tác xã hội với xóa đói, giảm nghèo, trong đó có xóa
đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn được đa số cán bộ công tác xã hội cho
rằng là lĩnh vực đang có nhu cầu cao nhất tại Việt Nam hiện nay (51,6%).
Đồng thời nếu so sánh nhu cầu và lĩnh vực đang hoạt động mạnh nhất thì công
tác xã hội với phát triển cộng đồng đang trong trường hợp cung không đủ cầu
(35,0% so với 44,8%) [16].
Để giải quyết các vấn đề trong xã hội nông thôn cũng như tiến tới giảm
khoảng cách phát triển giữa vùng nông thôn và đô thị, các chương trình giảm
nghèo và phát triển nông thôn đã được xây dựng, triển khai. Có thể nói, các
chương trình phát triển nông thôn là những chương trình rộng lớn và phức tạp,
liên quan đến chính sách quốc gia và của từng địa phương. Hiện nay, các
chương trình phát triển nông thôn, mà cụ thể là chương trình mục tiêu quốc gia
xây dựng nông thôn mới được thiết kế theo hướng dựa trên nhu cầu và năng
lực của chính cộng đồng nông thôn. Tuy nhiên để cộng đồng nông thôn khơi
dậy được năng lực của mình, tự tìm các giải pháp để xây dựng nông thôn mới
một cách bền vững lại là điều không đơn giản [20]. Bởi lẽ, trên thực tế có nhiều
cộng đồng nông thôn đã quen sống dựa vào sự hỗ trợ của nhà nước hoặc không
đủ khả năng và cơ hội để tiếp cận với các nguồn lực xã hội trong việc giải
quyết vấn đề của mình. Những vấn đề trên chính là đối tượng làm việc của
ngành công tác xã hội. Trong khi đó mục tiêu và phương pháp tiếp cận của cả
ngành công tác xã hội và phát triển nông thôn là hướng đến việc hỗ trợ cư dân
nông thôn nhận ra và phát huy tốt nhất năng lực của mình để cùng tham gia vào
quá trình giải quyết vấn đề và phát triển cộng đồng nông thôn.
Như vậy, thực tế trên cho thấy Việt Nam đang có nhu cầu về công tác xã
hội trong phát triển nông thôn. Nói một cách khác là chương trình phát triển
nông thôn ở Việt Nam rất cần thiết phải vận dụng các phương pháp can thiệp
khoa học của công tác xã hội trong quá trình giải quyết vấn đề ở khu vực nông
thôn để đem lại hiệu quả bền vững. Và hoạt động của công tác xã hội trong

mình. Chính điều này đã khiến người dân được xem như là những khách hàng
tiêu thụ các sản phẩm của các chương trình phát triển từ chính phủ hoặc các tổ
chức phát triển. Và cư dân nông thôn tồn tại tư tưởng xem trọng các hỗ trợ từ
bên ngoài hơn là nguồn lực sẵn có từ bên trong. Điều này dẫn đến sự tan rã dần
các mối quan hệ liên kết cộng đồng cũng như không khai thác được nội lực và
khả năng nội tại của người dân ở nông thôn [60].
Sau đổi mới (thập niên 80 - 90), các nhà nghiên cứu và thực hành công tác
xã hội cộng đồng nhận thấy nhiều điểm hạn chế trong quan điểm phát triển dựa

19


vào nhu cầu, đồng thời họ cũng được kế thừa những kiến thức mới từ những
nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn trên thế giới. Lúc này, hoạt động công tác
xã hội trong phát triển nông thôn ở Việt Nam đã chú trọng hơn đến sự tham gia
của người dân trong tiến trình ra quyết định cũng như trong việc thực hiện các
chương trình phát triển [60], [52]. Với quan điểm này người dân nông thôn có
khả năng tự tổ chức, thông qua tổ chức của riêng họ, họ có khả năng xác định
nhu cầu của mình, chia sẻ thiết kế, thực hiện và lượng giá hành động cùng tham
gia (FAO, 1982). Và các công cụ trong phương pháp điều tra nông thôn có sự
tham gia (PRA), hành động - học tập có sự tham gia (PLA) là các công cụ
chính của quan điểm tiếp cận này. Quan điểm tiếp cận có sự tham gia của công
tác xã hội cộng đồng phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam
hiện nay, đó là Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn “dân biết,
dân bàn, dân làm và dân kiểm tra”. Tuy nhiên trong quá trình phát triển xuất
hiện những nhóm người dễ bị tổn thương, mà trong đó vấn đề nghèo đói là vấn
đề nan giải ở hầu hết khu vực nông thôn. Nguyên nhân gốc rễ của đói nghèo là
do còn có các bất công, do còn tồn tại sự phân biệt đối xử. Vì vậy, công tác xã
hội cộng đồng đã áp dụng quan điểm về quyền con người để phân tích các
nguyên nhân gốc rễ của sự tổn thương và chỉ ra phạm vi trách nhiệm của các

Như vậy, lịch sử phát triển đã chứng minh, có nhiều quan điểm và cách
tiếp cận về công tác xã hội cộng đồng trong phát triển nông thôn. Các quan
điểm và cách tiếp cận rất phong phú do được hình thành từ tính đa dạng của
thực tiễn và sự du nhập từ hệ thống lý thuyết công tác xã hội phát triển cộng
đồng ở các nước phát triển. Theo tiến trình thời gian, các quan điểm luôn được
điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh thực tế của xã hội. Và trong một chương
trình phát triển có thể áp dụng một hay nhiều quan điểm khác nhau để đem lại
hiệu quả và sự phát triển bền vững cho từng khu vực dân cư.
1.3. Nguyên tắc, nội dung, kỹ năng, kỹ thuật và tiến trình của công tác xã
hội trong phát triển nông thôn
Công tác xã hội trong phát triển nông thôn được xây dựng dựa trên hệ
thống lý thuyết của nhiều ngành khoa học như triết học, xã hội học, dân tộc
học, thống kê học, tâm lý học, kinh tế học, phát triển nông thôn… Đây là một
hệ thống linh hoạt bởi nó cung cấp những cơ sở nền tảng phù hợp cho mọi khu
vực nông thôn vốn đa dạng và luôn có sự khác biệt.
Mục đích của công tác xã hội trong phát triển nông thôn là phát triển vì
con người [29, tr. 22]. Điều này có nghĩa là tác viên phát triển nông thôn cùng
phối hợp với các chuyên gia phát triển nông thôn cải thiện điều kiện sống, bao

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status