Thực trạng về việc huy động và giải ngân vốn ODA trong nông nghiệp và phát triên nông thôn ở Việt Nam hiện nay - Pdf 25

LỜI MỞ ĐẦU
Sự nghiệp công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất nước
với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp đã đi được một chặng đường khá dài. Nhìn lại chặng
đường đã qua chúng ta có thể thấy rằng chúng ta đã đạt được những thành
tựu đáng tự hào: về cơ bản chúng ta đã thoát ra khỏi tình hình khủng
khoảng kinh tế, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao và không
những đạt được những thành tựu về mặt kinh tế mà các mặt của đời sống
văn hoá- xã hội, giáo dục, y tế cũng được nâng cao rõ rệt, tình hình chính
trị ổn định, an ninh- quốc phòng được giữ vững, các mối quan hệ hợp tác
quốc tế ngày càng được mở rộng. Đạt được những thành công đó bên cạnh
sự khai thác hiệu quả các nguồn lực trong nước thì sự hỗ trợ từ bên ngoài
cũng đóng một vai trò quan trọng và trong đó viện trợ phát triển chính thức
(ODA) của các quốc gia và tổ chức quốc tế giữ vai trò chủ đạo. Thực tế
tiếp nhận, thực hiện và giải ngân các dự án ODA thời gian qua cho thấy
ODA thực sự là một nguồn vốn quan trọng đối với phát triển đất nước nói
chung và phát triển nông nghiệp nói riêng ODA đã giúp chúng ta tiếp cận,
tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, phát triển nguồn
nhân lực để đẩy mạnh hóa công nghiệp trong nông nghiệp. Tuy vậy, để đạt
được mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 chúng ta cần phải
huy động và sử dụng hiệu quả hơn nữa các nguồn lực cho phát triển, trong
đó ODA có một vai trò quan trọng. Do đó, một câu hỏi được đặt ra là liệu
chúng ta có thể huy động được nhiều hơn và giải ngân được mạnh hơn
nguồn vốn ODA đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông
thôn không? Có thể khẳng định ngay điều đó là hoàn toàn có thể. Vậy
những giải pháp nào cần được xúc tiến thực hiện để nâng cao hiệu quả thu
hút và giải ngân vốn ODA trong nông nghiệp và phát triển nông thôn. Với
1
mong muốn trả lời câu hỏi trên và có một cái nhìn toàn diện hơn về ODA
tôi đã chọn đề tài: Thực trạng về việc huy động và giải ngân vốn ODA
trong nông nghiệp và phát triên nông thôn ở Việt Nam hiện nay .

Thứ nhất, Vốn ODA mang tính ưu đãi
Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn dài), có thời gian ân
hạn dài. Chẳng hạn, vốn ODA của WB, ADB, JBIC có thời gian hoàn trả là
40 năm và thời gian ân hạn là 10 năm.
Thông thường, trong ODA có thành tố viện trợ không hoàn lại (cho
không), đây cũng chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương
mại. Thành tố cho không được xác định dựa vào thời gian cho vay, thời
gian ân hạn và so sánh lãi suất viện trợ với mức lãi suất tín dụng thương
mại. Sự ưu đãi ở đây là so sánh với tập quán thương mại quốc tế.
Sự ưu đãi còn thể hiện ở chỗ vốn ODA chỉ dành riêng cho các nước
đang và chậm phát triển, vì mục tiêu phát triển. Có hai điều kiện cơ bản
nhất để các nước đang và chậm phát triển có thể nhận được ODA là:
Điều kiện thứ nhất: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu
người thấp. Nước có GDP bình quân đầu người càng thấp thì thường được
tỷ lệ viện trợ không hoàn lại của ODA càng lớn và khả năng vay với lãi
suất thấp và thời hạn ưu đãi càng lớn.
Điều kiện thứ hai: Mục tiêu sử dụng vốn ODA của các nước này
phải phù hợp với chính sách và phương hướng ưu tiên xem xét trong mối
quan hệ giữa bên cấp và bên nhận ODA. Thông thường các nước cung cấp
ODA đều có những chính sách và ưu tiên riêng của mình, tập trung vào
một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng kỹ thuật và tư vấn. Đồng
thời, đối tượng ưu tiên của các nước cung cấp ODA cũng có thể thay đổi
4
theo từng giai đoạn cụ thể. Vì vậy, nắm bắt được xu hướng ưu tiên và tiềm
năng của các nước, các tổ chức cung cấp ODA là rất cần thiết.
Về thực chất, ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc không hoàn
lại trong những điều kiện nhất định một phần tổng sản phẩm quốc dân từ
các nước phát triển sang các nước đang phát triển. Do vậy, ODA rất nhạy
cảm về mặt xã hội và chịu sự điều chỉnh của dư luận xã hội từ phía nước
cung cấp cũng như từ phía nước tiếp nhận ODA.

tài trợ hàng đầu thế giới và cũng là nhà tài trợ đã sử dụng ODA như một
công cụ đa năng về chính trị và kinh tế. ODA của Nhật không chỉ đưa lại
lợi ích cho nước nhận mà còn mang lại lợi ích cho chính họ. Trong những
năm cuối thập kỷ 90, khi phải đối phó với những suy thoái nặng nề trong
khu vực, Nhật Bản đã quyết định trợ giúp tài chính rất lớn cho các nước
Đông nam á là nơi chiếm tỷ trọng tương đối lớn về mậu dịch và đầu tư của
Nhật Bản, Nhật đã dành 15 tỷ USD tiền mặt cho các nhu cầu vốn ngắn hạn
chủ yếu là lãi suất thấp và tính bằng đồng Yên và dành 15 tỷ USD cho mậu
dịch và đầu tư có nhân nhượng trong vòng 3 năm. Các khoản cho vay tính
bằng đồng Yên và gắn với những dự án có các công ty Nhật tham gia.
Viện trợ của các nước phát triển không chỉ đơn thuần là việc trợ giúp
hữu nghị mà còn là một công cụ lợi hại để thiết lập và duy trì lợi ích kinh tế
và vị thế chính trị cho các nước tài trợ. Những nước cấp tài trợ đòi hỏi
nước tiếp nhận phải thay đổi chính sách phát triển cho phù hợp vơí lợi ích
của bên tài trợ. Khi nhận viện trợ các nước nhận cần cân nhắc kỹ lưỡng
những điều kiện của các nhà tài trợ không vì lợi ích trước mắt mà đánh mất
những quyền lợi lâu dài. Quan hệ hỗ trợ phát triển phải đảm bảo tôn trọng
6
toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của
nhau, bình đẳng và cùng có lợi.
Thứ ba, ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ
Khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính chất ưu đãi nên
gánh nặng nợ thường chưa xuất hiện. Một số nước do không sử dụng hiệu
quả ODA có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời nhưng sau một thời gian
lại lâm vào vòng nợ nần do không có khả năng trả nợ. Vấn đề là ở chỗ vốn
ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất
khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ. Do đó, trong
khi hoạch định chính sách sử dụng ODA phải phối hợp với các nguồn vốn
để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu.
3) Mục đích của ODA

thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững các nền kinh
tế đang phát triển. Xây dựng hệ thống quản lý nhà nước có hiệu
quả trên cơ sở pháp luật và mở cửa với bên ngoài. Phát triển hệ
thống tài chính và thương mại trở thành một hệ thống không có
sự phân biệt, có thể dự đoán và liên kết với hệ thống tài chính,
thương mại quốc tế. Đẩy mạnh phát triển khu vực tư nhân, đào
tạo dạy nghề và tạo việc làm cho giới trẻ.
4) Thu hút và giải ngân vốn ODA
- Thu hút ODA là hoạt động bao gồm các nội dung chuẩn bị danh
mục chương trình, dự án ưu tiên vận động ODA, xúc tiến vận
động các nhà tài trợ xem xét cung cấp ODA và cuối cùng là đàm
phán, kí kết điều ước quốc tế khung về ODA. Liên quan đến vấn
đề thu hút ODA có một số khái niệm:
+ Danh mục chương trình, dự án vận động ODA: là danh mục
chương trình, dự án ưu tiên đầu tư có sử dụng nguồn vốn ODA
8
được các ngành và địa phương xây dựng đề cương trong đó nêu
rõ sự cần thiết, mục tiêu, kết quả dự kiến đạt được, các hoạt động
chủ yếu, thời hạn thực hiện, mức vốn ODA và vốn đối ứng, cơ
chế tài chính trong nước đối với việc sử dụng vốn ODA của
chương trình, dự án để trình Chính phủ xem xét đưa vào vận
động ODA tại các Hội nghị Thường niên Nhóm tư vấn các Nhà
tài trợ.
+ Vận động ODA: là các hoạt động xúc tiến quan hệ và đàm phán
với các nhà tài trợ là các tổ chức quốc tế, các nước cung cấp
ODA của các cơ quan có trách nhiệm của Chính phủ để được tiếp
nhận ODA.
+ Điều ước quốc tế về ODA: là thoả thuận bằng văn bản được ký
kết giữa đại diện của Nhà nước hoặc Chính phủ Việt Nam với đại
diện của Nhà tài trợ về các vấn đề có liên quan đến ODA, bao

giải ngân ODA trong NN&NT ngoài ý nghĩa chung còn có những ý nghĩa
phục vụ cho PTNN&NT như:
- Tận dụng hiệu quả điều kiện ưu đãi của nguồn vốn ODA để đầu
tư các công trình công cộng mà ngoài Nhà nước và các tổ chức
phi lợi nhuận ra không có thành phần kinh tế nào làm như các
công trình xây dựng cơ sở hạ tầng lớn thủy lợi, đường giao thông,
điện nông thôn, nước sạch.
- Thúc đẩy thu hút ODA sẽ tạo ra nguồn vốn khá lớn để đầu tư cho
các chương trình, dự án phát triển nông nghiệp nông thôn dài hạn
và cần nguồn vốn lớn như chương trình xóa đói giảm nghèo, phát
triển mạng lưới điện nông thôn, nước sạch nông thôn… trong
điều kiện vốn ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp và phải bố trí cho
nhiều mục tiêu và lĩnh vực.
10
- Nông thôn là khu vực lãnh thổ có điều kiện tự nhiên phân dị
phức tạp gồm nhiều vùng cảnh quan sinh thái, nhiều vùng phát
triển kinh tế- xã hội có trình độ khác nhau, nhiều dân tộc. Phát
triển nông nghiệp nông thôn là lĩnh vực tổng hợp, phức tạp bao
gồm nhiều vấn đề phải giải quyết trên tất cả các ngành, lĩnh vực
(kinh tế- xã hội- môi trường). Đây là đặc điểm rất phù hợp với
các dự án ODA từ nhiều nguồn, nhiều Nhà tài trợ khác nhau nên
có qui mô đầu tư, mục tiêu dự án và các dự án ưu tiên đa dạng.
Do đó thúc đẩy thu hút ODA vào phát triển nông nghiệp nông
thôn chính là khai thác hiệu quả không chỉ nguồn vốn mà còn là
tính chất đa dạng về hình thức, qui mô, mục tiêu, phương pháp
dự án từ nhiều nguồn khác nhau.
- Thúc đẩy thu hút ODA vào phát triển nông nghiệp nông thôn còn
thể hiện sự quan tâm của Chính phủ đối với việc giải quyết các
vấn đề xã hội, môi trường, cải thiện đời sống nhân dân ở nông
thôn, thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị. Từ đó giữ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status