VIỆN HÀN
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỒNG CÚC
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI CHUYỂN GIỚI
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN,
TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số
: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. ĐỖ PHÚ HẢI
HA NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được
thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đỗ Phú Hải
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn
toàn trung thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Hà Nội, ngày 29 tháng 7 năm 2016
Học viên
Công tác xã hội
Human Immunodeficiency Virus/ Acquired Immune Deficiency Syndrome
Virus HIV/ Bệnh AIDS Virus gây suy giảm miễn dịch ở người
Tổ chức bảo vệ và thúc đẩy quyền của người đồng tính,
ICS
song tính và chuyển giới tại Việt Nam
Institute for Studies of Society, Economy and Environment
ISEE
Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường
LGB
Lesbian, Gays, Bisexuals
Đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính
Lesbian, Gays, Bisexuals, Transgenders
Người đồng tính, song tính và chuyển giới
LGBT
NVXH
Nhân viên xã hội
PFLAG
Hội phụ huynh và Người thân của người đồng tính, song tính và chuyển giới
6
7
Tóm tắt pháp luật đối với người chuyển giới của VN ở thời điểm 31
hiện tại
Hoạt động giảm thiểu kỳ thị, phân biệt đối xử với người LGBT 38
40
Bảng 3.1
Nội dung hỗ trợ giảm thiểu kỳ thị, phân biệt đối xử với
người LGBT
Những khó khăn gặp phải trong quá trình thực hiện hỗ
trợ pháp lý
Nhận thức của gia đình, cộng đồng, xã hội khi nói về
LGBT
Nhiệm vụ, mục tiêu, phương pháp xác định đối tượng
Bảng 3.2
Lập kế hoạch hỗ trợ thân chủ
66
BIỂU ĐỒ/ SƠ ĐỒ
1
Biểu đồ 2.1
2
60
6
Sơ đồ 3.2
Sơ đồ sinh thái mô tả mối quan hệ của thân chủ
62
55
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, cộng đồng LGBT (người đồng tính, song tính và chuyển giới) là
một nhóm người thiểu số trong xã hội còn ít được biết đến. Chưa có cuộc điều tra
nào ước lượng số người đồng tính, song tính và chuyển giới ở nước ta cho đến thời
điểm này, đặc biệt là ở những nơi còn nhiều định kiến và cộng đồng LGBT chưa dám
công khai về giới tính của mình. Mặc dù vậy cộng đồng LGBT có ở mọi giai đoạn lịch
sử, mọi nền văn hóa và chiếm tỉ lệ ổn định trong khoảng 3-5% dân số.
Trong những năm vừa qua, Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường
(ISEE) đã tiến hành khá nhiều các cuộc khảo sát trực tuyến với người chuyển giới và
nhiều khía cạnh khác nhau. Các kết quả này cho phép nhận diện bước đầu về cộng
đồng LGBT nói chung và những người chuyển giới nói riêng ở Việt Nam.
Chuyển giới là một hiện tượng xảy ra trên toàn thế giới và Việt Nam cũng
không phải ngoại lệ. Cũng giống như nhiều nhóm LGB (đồng tính nam, đồng tính
nữ và song tính) khác, người chuyển giới ở Việt Nam đã và đang phải đối mặt với
những sự kỳ thị của xã hội, gia đình và bạn bè. Tuy nhiên, nghiêm trọng hơn cả các
nhóm LGB khác, người chuyển giới còn là đối tượng của những thông tin sai lệch,
Nguyễn Thị Thu Nam (ISEE 2010). Kết quả nghiên cứu cho thấy định kiến, kỳ thị
và phân biệt đối xử đối với người LGBT được thể hiện dưới nhiều khía cạnh và mức
độ khác nhau. Từ bị dèm pha, xa lánh, sợ hãi đến đánh đập. Định kiến, kỳ thị và
phân biệt đối xử đối với họ không chỉ xảy ra từ các mối quan hệ xã hội mà tình trạng
này còn xảy ra trong chính gia đình của họ. Điều này đã dẫn đến những tổn thương
tâm lý vô cùng nghiêm trọng đối với người LGBT như lo âu, trầm cảm thậm chí một
trong số họ khi rơi vào bế tắc đã có ý định tự tử hoặc hành vi tự tử.
- Tổng hợp quan điểm của Liên Hợp Quốc về LGBT. Tác giả: Phạm Quỳnh
Phương (ISEE 2012). Bản tổng hợp này trình bày và chú thích lại một số quan
điểm chính của Liên Hợp quốc thể hiện trong Tuyên ngôn Toàn cầu về Nhân
quyền, cũng như các động thái cụ thể của Văn phòng Cao Ủy Liên hợp quốc về
Quyền con người liên quan đến quyền của cộng đồng LGBT.
- Nghiên cứu Khát vọng được là chính mình: Người chuyển giới ở Việt Nam.
Tác giả: Phạm Quỳnh Phương (ISEE 2012). Nghiên cứu về những người chuyển
giới, các vấn đề mà người chuyển giới ở Việt Nam đang gặp phải và nêu ra các
khuyến nghị pháp lý và xã hội hỗ trợ cho người chuyển giới.
2
- Nghiên cứu Trẻ em đường phố đồng tính, song tính và chuyển giới tại thành
phố Hồ Chí Minh. Nhóm tác giả Nguyễn Thu Hương, Nguyễn Thị Thu Nam, Lê
Quang Bình, Vũ Kiều Châu Loan, Lương Thế Huy (ISEE 2012). Nghiên cứu đề cập
đến cuộc sống và những khó khăn thường gặp của trẻ em đường phố đồng tính, song
tính và chuyển giới tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Nghiên cứu "Có phải bởi vì tôi là LGBT?": Phân biệt đối xử dựa trên xu hướng
tính dục và bản dạng giới tại Việt Nam. Tác giả: Lương Thế Huy, Phạm Quỳnh
Phương (2016). Nghiên cứu đã tìm hiểu, phân tích về thực trạng phân biệt đối xử
dựa trên xu hướng tính dục, bản dạng giới hướng tới người đồng tính, song tính,
chuyển giới tại Việt Nam, những tấn công bạo lực và trình báo bạo lực, qua đó tìm
tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Tìm hiểu, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động CTXH đối với
người chuyển giới.
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động CTXH với người chuyển giới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên luận văn có các nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài thông qua các văn bản pháp luật, các tài
liệu liên quan đến người chuyển giới.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng CTXH với người chuyển giới tại
thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Ứng dụng phương pháp CTXH cá nhân, CTXH nhóm đối với nhóm người
chuyển giới.
- Đưa ra nhóm giải pháp chung nhằm tăng cường CTXH đối với người chuyển
giới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội đối với người chuyển giới từ thực tiễn thành phố Thái Nguyên,
tỉnh Thái Nguyên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Phạm vi về thời gian: từ tháng 7/ 2015 đến tháng 7/ 2016
- Phạm vi về đối tượng:
4
+ Những vấn đề lý luận về công tác xã hội với người chuyển giới;
+ Thực trạng CTXH, cụ thể đó là hoạt động nâng cao nhận thức, tham vấn tư
vấn, hỗ trợ y tế, hỗ trợ pháp lý; phương pháp nâng cao hiệu quả thực hiện công tác xã
hội với người chuyển giới.
hoạt động CTXH với người chuyển giới tại địa bàn thành phố Thái Nguyên. Sử
dụng phương pháp điều tra chọn mẫu với 52 người thuộc cộng đồng LGBT Thái
Nguyên và người ủng hộ. Dữ liệu từ phương pháp này sẽ đem lại kết quả chính cho
nghiên cứu.
5.2.3. Phương pháp quan sát
Quan sát hoạt động của cộng đồng LGBT, người chuyển giới bằng nhiều hình
thức quan sát qua truyền thông: đài, báo, tivi, internet, quan sát trực tiếp khi tham
gia các buổi tập huấn, giao lưu, hoạt động xã hội.
5.2.4. Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là những cuộc đối thoại được lặp đi lặp lại giữa nhà nghiên cứu
và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu cuộc sống, kinh nghiệm và nhận thức
của người cung cấp thông tin thông qua chính ngôn ngữ của người ấy.
Phỏng vấn sâu được tiến hành với người chuyển giới, phụ huynh của người
chuyển giới, thành viên nhóm Nexgen Thái Nguyên nhằm tìm hiểu sâu những vấn
đề mà nội dung nghiên cứu mong muốn thực hiện.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần làm sáng tỏ một số lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu
như: Người chuyển giới là ai, người chuyển giới gặp phải những khó khăn, trở ngại
gì, họ có những nhu cầu, mong muốn, nguyện vọng gì? Các hoạt động CTXH đối
với người chuyển giới là gì? Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện CTXH
với người chuyển giới.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài làm rõ thực trạng hoạt động của CTXH với người chuyển giới. Phân tích
ưu điểm, hạn chế của quá trình thực hiện. Phát hiện các vấn đề trong thực tiễn thực hiện
và từ đó đưa ra các giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục chú thích
các từ viết tắt, luận văn gồm bố cục 3 chương:
- Các trường hợp đặc biệt của giới tính
+ Người lưỡng tính: là sự kết hợp của 2 giới tính, do bị biến dạng hoặc bệnh tật
ở bộ phận sinh dục. Một số người bị biến dạng kiểu này dẫn tới sự biến dạng về vai
trò giới, gồm cả biểu hiện bên ngoài như nói năng, đi đứng, ăn mặc, ứng xử, thậm
chí là hành vi tình dục đồng giới.
+ Vấn đề chuyển đổi giới tính: Đây là phương pháp khoa học thịnh hành bắt
đầu từ cuối thế kỉ XX giúp những người có nhu cầu thay đổi giới tính vốn có. Bản
thân những người này trước khi muốn chuyển đổi giới tính của mình, họ đã có
những đặc điểm thiên về giới kia.
+ Vấn đề tình dục đồng giới: Đây là hiện tượng phổ biến từ cuối thế kỷ XX
cho đến nay. Nó vừa mang tính sinh học, vừa mang tính xã hội.
8
Khái niệm Giới (Gender)
- Ann Oakley cho rằng “giới nói đến những mô hình, hành vi đặc hữu về mặt văn
hóa - hoặc cụ thể hoặc theo tiêu chuẩn – mà có thể gắn bó với giới tính... Nội dung của
sự phân biệt giới được xác định về mặt văn hóa và hết sức biến đổi” [1, tr. 147].
- M.L.Andersen định nghĩa: “giới liên quan đến sự học hỏi hành vi xã hội và những
trông đợi được tạo nên với hai giới tính. Trong khi “con trai” hay “con gái” là những yếu tố
sinh học thì việc trở thành một phụ nữ hay một nam giới là một quá trình văn hóa”.
- Hai định nghĩa trên đều nhấn mạnh đến yếu tố cấu trúc văn hóa – xã hội, coi
cấu trúc này là cái quy định sự hình thành nam giới và phụ nữ.
- Luật Bình đẳng giới năm 2006 định nghĩa: Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò
của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội.
=> Như vậy, mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về giới, song tựu chung lại
đều có một đặc điểm chung, đó là đều coi giới là sản phẩm của văn hóa – xã hội. Do
vậy, giới là thuật ngữ dùng để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những kỳ
vọng liên quan đến nam và nữ.
năng cơ thể bằng thuốc, phẫu thuật hay các biện pháp khác) và những thể hiện về
giới, bao gồm phục trang, lời nói và điệu bộ.
Thuật ngữ Thể hiện giới
Là những biểu hiện bên ngoài về bản dạng giới, thông qua những hành vi, dáng
vẻ, tính cách, “nữ tính”, “nam tính” hay “trung tính”.
Khái niệm Ngƣời chuyển giới
Người chuyển giới là một khái niệm rộng, dùng để chỉ tất cả những người có
bản dạng giới, thể hiện giới không giống với những chuẩn mực tương ứng với giới
tính sinh học của họ.
Khái niệm người chuyển giới có thể dùng để chỉ những người sau:
+ Người chuyển đổi giới tính (Trans-sexual): Là người mong muốn, hoặc đã trải
qua phẫu thuật để đạt đến sự trùng khớp giữa cơ quan sinh dục và bản dạng giới
thực sự trong não của họ. Họ có bản dạng giới khác với giới tính sinh học của mình.
10
Thường thì họ sẽ thay đổi hay muốn thay đổi cơ thể của mình bằng cách dùng
liệu pháp về hoóc - môn, đi phẫu thuật thực hiện loại bỏ ngực, buồng trứng, tử cung
hay tạo hình cơ quan sinh dục, hay dùng các phương pháp khác để có thể có một
cơ thể giống nhất với giới tính mà họ muốn. Quá trình chuyển đổi thông qua các can
thiệp về y học như vậy thường được gọi là quá trình chuyển đổi giới tính.
+ Người chuyển giới (Trans-gender) là một người được sinh ra với cơ thể sinh
học là nam hay nữ, nhưng có một khát vọng mạnh mẽ và nhất quán, có giới tính
khác với giới tính sinh học của họ lúc sinh. Họ có thể trải qua hoặc không trải qua
việc điều trị y tế để chuyển đổi sang bản dạng giới họ chọn.
Có người chuyển giới Nam (nữ sang nam) là những người sinh ra là nữ nhưng
có cảm nhận mình là nam và sống như một người nam, đồng thời muốn hoặc có thay
đổi cơ thể của mình để giống nhất với bên nam.Và người chuyển giới Nữ (nam sang
nữ) là những người sinh ra là nam nhưng có cảm nhận mình là nữ và sống như một
người già cô đơn không nơi nương tựa, phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình…
Trong khuôn khổ đề tài này, đối tượng tác động của CTXH là những người chuyển
giới trong cộng đồng LGBT tại Thái Nguyên.
Khái niệm công tác xã hội với ngƣời chuyển giới
Từ khái niệm công tác xã hội và khái niệm người chuyển giới, ta có thể đưa ra
cách hiểu về công tác xã hội đối với người chuyển giới như sau:
“Công tác xã hội đối với người chuyển giới là một hoạt động chuyên nghiệp
nhằm trợ giúp cho người chuyển giới nâng cao năng lực và chức năng xã hội để có
thể giải quyết, phòng ngừa những vấn đề gặp phải do chưa được đáp ứng nhu cầu
về Quyền và các yếu tố pháp lý, y tế…; đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về
chính sách, pháp luật, nguồn lực và dịch vụ để đáp ứng những nhu cầu của người
chuyển giới cũng như tôn trọng sự khác biệt giới tính.”
Để đạt được mục đích là đáp ứng nhu cầu, mong muốn, nguyện vọng của
người chuyển giới và hỗ trợ họ bộc lộ bản thân, sống thật với chính mình, giảm
thiểu sự kỳ thị của cộng đồng, xã hội, tìm kiếm sự hỗ trợ về pháp lý và y học cho
người chuyển giới. CTXH được triển khai dựa trên ba phương pháp cơ bản như sau:
- Công tác xã hội cá nhân:
Phương pháp CTXH cá nhân tác động trực tiếp đến người chuyển giới để giúp
họ tự nhận thức vấn đề của bản thân, phát hiện, củng cố, và nâng cao năng lực của
bản thân để có thể bộc lộ bản thân, sống thật với chính mình và đương đầu với
những khó khăn, rào cản gặp phải trong mối quan hệ tương tác với môi trường xã
12
hội của họ.
Mục đích của CTXH cá nhân là phục hồi, củng cố và phát triển sự thực hiện
bình thường các chức năng xã hội của cá nhân và gia đình. Nhân viên CTXH thực
hiện điều này bằng cách giúp người chuyển giới sử dụng các tài nguyên cần thiết.
Nguồn tài nguyên này có thể là những điểm mạnh cá nhân của người chuyển giới đó
các tổ chức và giữa các tổ chức với nhau trong khuôn khổ cộng đồng.
Mục đích của phát triển cộng đồng nhằm:
+ Cải thiện, cân bằng về vật chất và tinh thần của con người thông qua những
chuyển biến, tiến bộ, phát triển xã hội.
+ Củng cố thiết chế xã hội để tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển biến xã hội và
sự tăng trưởng.
+ Bảo đảm sự tham gia tối đa của người dân vào tiến trình phát triển.
+ Đẩy mạnh công bẳng xã hội bằng cách tạo điều kiện cho các nhóm dễ bị tổn
thương thể hiện tâm tư, nguyện vọng của mình và tham gia các hoạt động phát triển.
Với cách tiếp cận trên, phương pháp phát triển cộng đồng được vận dụng trong
CTXH với người chuyển giới thông qua các hoạt động tham vấn cộng đồng, truyền
thông nâng cao nhận thức cộng đồng về LGBT, thúc đẩy các dịch vụ xã hội nhằm
hỗ trợ cho họ, đồng thời vận động để hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật, y tế
trong lĩnh vực này.
1.2.2. Nguyên tắc làm việc của nhân viên công tác xã hội với người chuyển giới
Trong tiến trình thực hiện CTXH trợ giúp những người chuyển giới, hành động
của nhân viên xã hội đang tạo động lực trực tiếp tới quyền của con người. Vì vậy,
những nguyên tắc hành động của nhân viên xã hội cần được tôn trọng và tuân thủ.
Nếu không có các nguyên tắc đạo đức mà chỉ làm việc theo cảm tính, hoạt động hỗ
trợ sẽ không đạt được mục tiêu hỗ trợ mà có thể sẽ gây ra những tác động ngược.
Một số nguy cơ sau đây có thể xảy ra khi hoạt động hỗ trợ không tuân thủ theo các
nguyên tắc:
- Bản thân nhân viên xã hội có định kiến đối với người chuyển giới. Nhận
định theo kiến thức khuôn mẫu đã được trang bị từ trước về giới.
- Người thân, gia đình của người chuyển giới có thể cho rằng nhân viên xã hội
là người “cổ xúy” cho con cái họ “nổi loạn”, “đua đòi”, chống đối gia đình, làm mất
mặt gia đình, họ hàng, bố mẹ.
- Người chuyển giới sau khi come-out có thể phải chịu sự kỳ thị nhiều hơn,
không gian kỳ thị đa dạng hơn, sử dụng các biện pháp nhằm thay đổi cơ thể sẽ gặp
Nguyên tắc này cho rằng cá nhân có quyền quyết định những vấn đề thuộc về
cuộc đời của họ và người khác không được quyền áp đặt quyết định lên họ. Mỗi cá
nhân đều có quyền tối cao đối với cuộc sống của mình và người chuyển giới cũng
15
vậy. Hệ thống các dịch vụ hỗ trợ cũng như những thành viên khác trong cộng đồng
và gia đình cần tôn trọng phương án mà người chuyển giới lựa chọn trên cơ sở đã
cung cấp thông tin và phân tích các phương án cho họ.
Ở nội dung này, nhiệm vụ của hệ thống hỗ trợ là cung cấp đầy đủ thông tin về
các phương án khác nhau để người chuyển giới có cơ sở chọn phương án phù hợp.
Trong quá trình cung cấp thông tin, nhân viên CTXH thảo luận và xem xét các
phương án, thảo luận kỹ lưỡng và giúp người chuyển giới cân nhắc những thuận lợi
và khó khăn. Nhân viên CTXH có thể đề xuất những ưu tiên và đưa ra bằng chứng
nhưng quyền lựa chọn ưu tiên vẫn thuộc về bản thân người chuyển giới trong những
việc như quyết định có come-out hay không; lựa chọn phương án can thiệp trong
quyết định chuyển giới: tiêm hormone, phẫu thuật một phần hay phẫu thuật toàn
bộ... Để đảm bảo tính toàn vẹn trong nguyên tắc này, nhân viên xã hội cần đảm bảo
việc người chuyển giới đưa ra quyết định là trên cơ sở tự nguyện chứ không phải bị
đe dọa hay áp đặt bởi bất cứ một ai hay bởi hệ thống hỗ trợ.
1.2.3. Nội dung hoạt động của công tác xã hội với người chuyển giới
1.2.3.1. Hoạt động giảm thiểu định kiến, kỳ thị, phân biệt đối xử và bạo lực với
người chuyển giới
- Tăng cường truyền thông nâng cao kiến thức của XH về vấn đề chuyển giới:
tác động đến gia đình, trường học, cộng đồng, xã hội và vận động về quyền của
người chuyển giới.
+ Truyền thông trực tiếp: Tuyên truyền giáo dục thông qua sinh hoạt ở đơn vị
cấp tổ, phường, trường học trên địa bàn. Tổ chức các buổi nói chuyện, tập huấn,
game show, diễn đàn… có chủ đề về LGBT. Tổ chức tập huấn cho những thành
luật liên quan đến quyền nhân thân như Luật hộ tịch, Luật hôn nhân và gia đình,
Luật dân sự để đảm bảo quyền trong cuộc sống, đặc biệt với các vấn đề nảy sinh liên
quan đến người chuyển giới.
+ Kết nối với các cộng đồng LGBT khác: Liên kết với các cộng đồng LGBT ở
nhiều địa phương khác nhau. Thiết lập mạng lưới trao đổi thông tin trong toàn cộng
đồng. Lựa chọn những hạt nhân tiêu biểu trong mỗi cộng đồng lập thành mạng lưới
điều hành hoạt động của cộng đồng và trở tuyến tư vấn đầu tiên sau đó kết nối tới
các tổ chức hỗ trợ chuyên sâu cho toàn cộng đồng.
1.2.3.3. Hoạt động hỗ trợ pháp lý
Đây là vấn đề quan trọng nhất với người chuyển giới bởi vì chính việc pháp
luật chưa thừa nhận, chưa bảo vệ quyền nhân thân của người chuyển giới nên đã dẫn
17
đến những bất công và thiệt thòi cho họ. Hiện nay, luật pháp vẫn đang trong giai
đoạn hoàn thiện, và chưa tôn trọng sự đa dạng tính dục của người chuyển giới. Rất
nhiều tình huống liên quan đến vấn đề chuyển giới đã và đang xảy ra nhưng chưa
được xác định về mặt pháp lý khiến chính quyền lúng túng trong việc giải quyết,
như việc xác định lại giới tính trên giấy tờ tuỳ thân, thay đổi tên họ phù hợp với giới
tính mong muốn, bạo lực với người chuyển giới, và nhìn chung là sự phân biệt đối
xử dựa trên bản dạng giới và thể hiện giới.
Tổ chức những cuộc đối thoại giữa cộng đồng, những nhà làm luật, ban ngành
liên quan, quan chức chính phủ để tham góp cho việc sửa đổi, bổ sung và dự thảo
luật thông qua các cuộc hội thảo, công trình nghiên cứu. Thông qua đó, mong muốn
cung cấp cái nhìn rõ nét và thực tế hơn về những vấn đề mà cộng đồng người
chuyển giới đang phải đối mặt. Phản hồi, lên tiếng giúp những người chuyển giới về
nhu cầu của họ qua các kênh truyền thông, thông tin khác nhau góp phần xây dựng
hình ảnh tích cực cho cộng đồng người chuyển giới.
Hoạt động của CTXH với người chuyển giới cần có sự hỗ trợ pháp lý nhằm
chán nản, xấu hổ, ngại giao tiếp giúp họ có thêm sức mạnh vượt qua được vấn đề
của bản thân, đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống. Hình thức tham vấn
cũng khá phong phú và đa dạng. Tham vấn trực tiếp với người chuyển giới, tham
vấn gián tiếp qua việc phối hợp với cộng đồng LGBT, tổ chức sinh hoạt chuyên đề,
truyền thông trên các kênh thông tin phù hợp: mạng xã hội, báo, đài…
- Hỗ trợ công khai bản dạng giới: NVXH hỗ trợ người chuyển giới được: trang
bị kiến thức về LGBT, huấn luyện kỹ năng giải quyết tình huống phát sinh trong quá
trình come-out, phát triển mạng lưới câu lạc bộ cha mẹ, gia đình và bạn bè của
người LGBT, tạo lập không gian sinh hoạt chung cho người LGBT với cha mẹ,
người thân.
1.2.4. Một số lý thuyết tiếp cận trong công tác xã hội đối người chuyển giới
1.2.4.1. Thuyết về Quyền con người
Tiếp cận dựa trên quyền con người là một khung lý thuyết có chứa đựng các
nguyên tắc, tiêu chuẩn và mục tiêu của hệ thống quyền con người trong quá trình lập
kế hoạch và tiến trình thực hiện các hoạt động của CTXH.
Cách tiếp cận dựa trên quyền lấy nền tảng cơ bản chính là hệ thống quyền con
người đã được pháp luật quốc tế bảo vệ. Với cách tiếp cận theo lý thuyết này, nhân
viên xã hội cần dựa vào hệ thống quyền của con người để xây dựng các phương
19
pháp và hoạt động can thiệp, hỗ trợ. Điều quan trọng nhất cần xác định, người LGB
nói chung và người chuyển giới nói riêng cũng là con người. Và với tư cách là một
con người, người LGBT cũng hưởng tất cả những quyền mà tất cả mọi người đều
có, trong đó mang tính trụ cột nhất là việc “Tất cả mọi người sinh ra đều tự do và
bình đẳng về phẩm giá và các quyền” (Điều 1, Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền).
Các thuyết về quyền con người, luôn luôn đưa ra đối tượng tác động cụ thể, đó
chính là con người/nhóm người cụ thể với các quyền cơ bản mà họ được hưởng.
Theo cách tiếp cận này ở trong đề tài sẽ cho thấy nhân viên xã hội thực hiện trao