Dịch vụ Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn tỉnh Hà Tĩnh - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ THỊ TÂM TÌNH

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI CAO TUỔI TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2016


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ THỊ TÂM TÌNH

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI CAO TUỔI TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÀ TĨNH

Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số

: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu .................................................................... 21
2.2. Dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi tại tỉnh Hà Tĩnh ............. 23
2.3. Đặc điểm tâm sinh lý và nhu cầu của người cao tuổi ............................... 28
2.4. Cách tiếp cận và nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội khi làm việc với
người cao tuổi ................................................................................................... 33
2.5. Những kết quả đạt được của dịch vụ công tác xã hội tại tỉnh Hà Tĩnh .... 41
2.6. Nguyên nhân của những hạn chế và nhu cầu cung cấp dịch vụ công tác xã
hội của người cao tuổi tại tỉnh Hà Tĩnh ........................................................... 45
Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG DỊCH VỤ CÔNG
TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TỈNH HÀ TĨNH ................... 50

3.1. Định hướng về phát triển mạng lưới dịch vụ xã hội đối với người cao tuổi
tại tỉnh Hà Tĩnh ................................................................................................ 50
3.2. Các giải pháp tăng cường dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi ... 55
3.3. Mô hình và quy mô các dịch vụ chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng ....... 58
3.4. Các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và thái độ làm việc đối với nhân viên
công tác xã hội trong trợ giúp người cao tuổi tại tỉnh Hà Tĩnh ....................... 62
KẾT LUẬN....................................................................................................... 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 71


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ, cụm từ viết tắt
AAR

Nghĩa của từ, cụm từ viết tắt
Nghiên cứu tuổi già và người cao
tuổi

BHYT

Nhân viên công tác xã hội

TTBTXH

Trung tâm Bảo trợ xã hội

TW

Trung ương


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Tốc độ tăng số lượng người cao tuổi tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2010 2015 .................................................................................................................. 24
Bảng 1.2: Cơ cấu người cao tuổi tỉnh Hà Tĩnh năm 2015 ............................... 25
Bảng 1.3: Tỷ lệ người cao tuổi phân chia theo độ tuổi .................................... 26
Bảng 1.4. Những bệnh người cao tuổi tỉnh Hà Tĩnh thường mắc trong 12
tháng vừa qua. .................................................................................................. 29
Bảng 1.5. Số bệnh của người cao tuổi tỉnh Hà Tĩnh ........................................ 30
Bảng 1.6. Người cao tuổi tỉnh Hà Tĩnh biết về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe ...... 30
Bảng 1.7. Hình thức kiểm tra chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi tỉnh Hà
Tĩnh .................................................................................................................. 31
Bảng 1.8. Sự quan tâm của các thành viên trong gia đình đối với sức khỏe
người cao tuổi ................................................................................................... 36
Bảng 1.9. Sự tham gia các tổ chức xã hội của người cao tuổi tỉnh Hà Tĩnh ... 37
Bảng 1.10. Những đóng góp của người cao tuổi cho gia đình ........................ 38
Bảng 1.11. Những đóng góp của người cao tuổi cho xã hội............................ 39
Bảng 1.12. Các hoạt động vui chơi giải trí người cao tuổi tỉnh Hà Tĩnh......... 39
Bảng 1.13. Tình hình kinh tế của người cao tuổi so với nhu cầu sinh hoạt hàng
ngày .................................................................................................................. 40




trong việc tăng cường an sinh xã hội và hỗ trợ cho sự phát triển, tăng trưởng
nhanh và bền vững. Với vai trò của công tác xã hội trong hệ thống an sinh,
thiết nghĩ hoạt động công tác xã hội đối với người cao tuổi sẽ mang lại những
ý nghĩa thực tiễn góp phần giải quyết những vấn đề đã nêu.
Hà Tĩnh hiện có hơn 159.220 người cao tuổi trên tổng 263 xã phường
chiếm gần 12,5% dân số của tỉnh. Trong những năm gần đây chính quyền,
Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh đã có nhiều cố gắng trong việc quan tâm, chăm
lo mọi mặt đời sống vật chất cũng như tinh thần đối với người cao tuổi. Do
vậy đời sống của người cao tuổi ở tỉnh đã phần nào được ổn định và cải thiện.
Song, với điều kiện kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn nên việc chăm sóc,
giúp đỡ mới chỉ có thể đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu của họ mà chưa
thể đáp ứng những nhu cầu đa dạng khác, cũng như chưa thể giải quyết tốt
những vấn đề mang tính chất cá nhân, nhóm đối tượng đặc thù. Do đó cần
thực hiện những dịch vụ của công tác xã hội với những phương pháp đặc thù
của công tác xã hội nhằm hỗ trợ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho
người cao tuổi trên mọi phương diện. Bên cạnh đó, công tác xã hội với người
cao tuổi là lĩnh vực khoa học khá mới, nghề công tác xã hội đang được chú ý
và coi trọng nhằm trợ giúp các nhóm đối tượng yếu thế, gặp khó khăn trong
cuộc sống. Vì những lý do trên tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Dịch vụ Công
tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn tỉnh Hà Tĩnh” làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua nghiên cứu của giảng viên Nguyễn Thị Như Hương đã bảo vệ
thành công luận văn thạc sỹ với đề tài:“Công tác xã hội với thương bệnh binh
tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình” [33] và Luận văn thạc sỹ “Trợ
giúp xã hội đối với người cao tuổi tại cộng đồng (Nghiên cứu tại xã Trực
Tuấn, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định)” của Đồng Thị Minh Phúc [34], luận
án tiến sỹ “Một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi

quyết những nhiệm vụ sau:
3


- Xây dựng những vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật về dịch
vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi.
- Thu thập và xử lý thông tin để tìm hiểu thực trạng dịch vụ công tác xã
hội đối với người cao tuổi tại Hà Tĩnh.
- Nghiên cứu phân tích, đánh giá những thực trạng nhằm đưa ra định
hướng và giải pháp can thiệp từ góc nhìn công tác xã hội, bảo đảm thực hiện
tốt dịch vụ công tác xã hội cho người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề lý luận và thực tiễn về dịch vụ hỗ trợ của công tác xã
hội đối với người cao tuổi tại tỉnh Hà Tĩnh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng người cao tuổi giai đoạn
2010 - 2015 và đề xuất kiến nghị giai đoạn 2016 – 2020 trên địa bàn Hà Tĩnh.
- Phạm vi không gian: Khảo sát trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Dịch vụ công tác xã hội đối với người
cao tuổi.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Các tài liệu, Luật Người cao tuổi, các chính sách, các tài liệu có liên
quan đến dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi. Phân tích các thông
tin đã thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau, từ đó tổng hợp và đưa ra các
nhận xét, đánh giá. Đồng thời, sử dụng phương pháp này nhằm thu thập, tổng
hợp, phân tích tài liệu từ sách, báo, tạp chí và các báo cáo khoa học để xây
dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu

6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ những chủ trương, chính sách hỗ trợ,
chế độ trợ cấp của Đảng và Nhà nước ta đối với người cao tuổi.
5


Kết quả nghiên cứu cũng góp phần giúp những người quản lý, những nhà lãnh
đạo, có thêm cái nhìn toàn diện, sâu sắc tích cực trong công tác tuyên truyền,
phổ biến chính sách, Luật pháp của Đảng và Nhà nước đến với người cao
tuổi, gia đình người cao tuổi cũng như cộng đồng mà người cao tuổi đang
sinh sống. Giúp cho người cao tuổi nhận ra vấn đề và tiềm năng giải quyết
vấn đề của mình. Bên cạnh đó, hiểu rõ các chế độ trợ cấp đối với họ và các
dịch vụ trợ giúp của công tác xã hội trong lĩnh vực này.
Giúp cho nhân viên công tác xã hội nói riêng và các ngành có liên quan
hiểu biết thêm về các chế độ trợ cấp, các dịch vụ hỗ trợ của công tác xã hội
đối với người cao tuổi và những yêu cầu cần thiết để trở thành nhân viên xã
hội chuyên nghiệp trong lĩnh vực chăm sóc, trợ giúp người cao tuổi.
Bản thân sau khi nghiên cứu đề tài sẽ củng cố, mở rộng kiến thức về công tác
xã hội nói chung và các dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi nói
riêng, từ đó rút ngắn khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực này.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu, các phụ lục luận văn
còn có 3 chương, gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật về dịch
vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi
Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi
tại Hà Tĩnh
Chương 3: Định hướng và giải pháp bảo đảm thực hiện dịch vụ công
tác xã hội tại tỉnh Hà Tĩnh


7


hội ở Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020…[26]. Trên thực tế, CTXH với những
biểu hiện cụ thể của nó đã được đề cập trong pháp luật Việt Nam từ rất sớm,
ngay những năm 40 - 50 của thế kỷ trước thông qua các hoạt động trợ giúp,
hỗ trợ người cao tuổi, trẻ em mồ côi, khuyết tật, những người gặp hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn do cá nhân, tổ chức như Hội Chữ thập đỏ, phụ nữ, thanh
niên …thực hiện. Do đó, việc sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật về
lĩnh vực này đã có tiền đề và là một thuận lợi để chúng ta hoàn thiện.
- Đã có những văn bản có liên quan đến hoạt động CTXH được quy định
trong các lĩnh vực cụ thể là cơ sở thuận lợi cho việc bổ sung, điều chỉnh, xây
dựng các quy định pháp luật về nghề CTXH trong thời gian tới. Nhiều nội
dung liên quan đến CTXH đã được qui định trong pháp luật Việt Nam, có liên
quan đến nhiều lĩnh vực của các Bộ, ngành. Pháp luật Việt Nam đã có một số
văn bản quy định trực tiếp về CTXH như Luật nuôi con nuôi, Nghị định số
19/2011/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn Luật nuôi con nuôi, Nghị định 67
và Nghị định 13 về chính sách bảo trợ xã hội…[5,6,7]. Bên cạnh đó có nhiều
văn bản mặc dù không quy định cụ thể về CTXH nhưng đã có quy định thể
hiện khá rõ nét bản chất của CTXH và dịch vụ công tác xã hội [2,3,4].
- Việc tổ chức thực hiện các quy định có liên quan đến công tác xã hội
và dịch vụ công tác xã hội về cơ bản đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền,
lãnh đạo các ban ngành, tổ chức quan tâm chỉ đạo, triển khai và đã đạt được
nhiều kết quả đáng ghi nhận, đó là cơ sở để từng bước đóng góp vào sự phát
triển, hoàn thiện ngành, nghề CTXH ở Việt Nam [9,20,21,22].
1.1.1.Các khái niệm
1.1.1.1. Dịch vụ
Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con
người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu
hình) như hàng hóa nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội.

9


sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống. Do đó, NCT là một đối tượng
yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp của CTXH.
1.1.1.4. Dịch vụ công tác xã hội
Dịch vụ công tác xã hội cho nhóm yếu thế là các hoạt động có chủ đích
của con người nhằm phòng ngừa - hạn chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp
ứng được nhu cầu cơ bản và thúc đẩy khả năng hòa nhập cộng đồng, xã hội
cho nhóm đối tượng yếu thế.
1.1.1.5. Dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi
Từ những phân tích trên có thế thấy rằng dịch vụ công tác xã hội đối
với người cao tuổi dù ở cộng đồng hay ỏ các cơ sở xã hội đều có những khó
khăn khác nhau trong cuộc sống, ngay cả khi họ được nhà nước tạo cơ hội để
có những dịch vụ trợ giúp. Khó khăn ở mỗi đối tượng có thể khác nhau ở mức
độ và một số khía cạnh cụ thể, song khó khăn nổi trội nhất vẫn là khía cạnh
sức khỏe, tài chính, những bất ổn tâm lý và sự hòa nhập xã hội. Điều này cho
thấy cần có các dịch vụ khác nhau để cung cấp nhu cầu đa dạng cho nhóm đối
tượng người cao tuổi trong xã hội.
Việc này đòi hỏi người cung cấp dịch vụ phải xác định được nhu cầu
của từng đối tượng và khả năng trợ giúp để đưa ra những quyết định đúng
đắn, phù hợp và hiệu quả nhất. Do vậy, người cung cấp dịch vụ cần tính tới
một kế hoạch trợ giúp tổng thế với sự trợ giúp của các cơ sở dịch vụ khác
nhau để đảm bảo vấn đề của họ được giải quyết càng nhiều khía cạnh càng tốt
như vậy sự trợ giúp sẽ mang tính bền vững. Một cơ sở thường không có khả
năng đáp ứng được hết các nhu cầu của đối tượng, muốn vậy người cung cấp
dịch vụ mà ở đây là nhân viên CTXH cần kết nối và chuyển gửi đối tượng tới
những cơ sở cung cấp dịch vụ khác. Đối với người cao tuổi việc cung cấp các
dịch vụ không chỉ là các dịch vụ cơ bản mà còn có các dịch vụ nâng cao về mặt
tinh thần, ổn định đời sống văn hóa cho người cao tuổi. Nếu được trợ giúp một


11


nhu cầu thông tin, phát huy khả năng tham gia đời sống chính trị của đất
nước và các hoạt động xã hội; nêu gương tốt, giáo dục lý tưởng và truyền
thống cách mạng cho thanh niên, thiếu niên…”[16].
Thông báo số: 12 TB/TW ngày 13 tháng 6 năm 2001 đã khẳng định
Hội Người cao tuổi Việt Nam là tổ chức xã hội của người cao tuổi, có các
nhiệm vụ đã được quy định cụ thể tại Pháp lệnh Người cao tuổi; Hội có Ban
đại diện ở cấp tỉnh và cấp huyện; Cấp tỉnh có từ 2 đến 3, cấp huyện có từ 1
đến 2 cán bộ chuyên trách đồng thời khẳng định: “Nhà nước tiếp tục trợ cấp
kinh phí hoạt động cho Hội. Các cơ quan có chức năng của Nhà nước tạo
thuận lợi, bảo đảm cấp kinh phí kịp thời cho Hội”.
Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng ghi rõ: “Vận động toàn dân
tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với lão
thành cách mạng, những người có công với nước, người hưởng chính sách xã
hội. Chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người già, nhất là những
người già cô đơn, không nơi nương tựa…”[24].
Như vậy, từ Chỉ thị 59/CT-TW, các văn kiện Đại hội Đảng và Thông
báo số: 12 TB/TW của Ban Bí thư TW Đảng đều khẳng định: Người cao tuổi
là nền tảng của gia đình, là tài sản vô giá, nguồn lực quan trọng cho sự phát
triển xã hội. Vì thế, chăm sóc và phát huy tốt vai trò người cao tuổi là thể hiện
bản chất tốt đẹp của chế độ ta và đạo đức người Việt Nam, góp phần tăng
cường khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh [5].
1.2.2. Chính sách và pháp luật của Nhà nước về người cao tuổi
1.2.2.1. Chính sách của Nhà nước Việt Nam về người cao tuổi
Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 quy định
chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội trong đó người cao

bà ngoại; trường hợp ông bà nội, ông bà ngoại không có con để nuôi dưỡng
mình thì cháu đã thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng”…[14].
13


Luật Bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã dành một chương riêng:
Bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi… trong đó, khoản 1 Điều 41 của Luật này
quy định: “Người cao tuổi… được ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh, được tạo
điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khoẻ của
mình”[5].
Luật Lao động sửa đổi năm 2012 quy định tại Mục 2 Điều 166:
“Người lao động cao tuổi được rút ngắn thời giờ làm việc hằng ngày hoặc
được áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian” Và tại Mục 2 Điều 167:
“Không được sử dụng người lao động cao tuổi làm những công việc nặng
nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ người lao động cao
tuổi, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ” và trong điều này
có ghi “Người sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khoẻ
của người lao động cao tuổi tại nơi làm việc”.
Điều 151 của Bộ luật Hình sự quy định: “Tội ngược đãi hoặc hành hạ
ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình” và
Điều 152 quy định “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng”. Bên
cạnh đó, luật cũng quy định một số tình tiết giảm nhẹ khi “người phạm tội là
người già”.
Từ ngày 1/7/2010, Luật Người cao tuổi có hiệu lực, Luật Người cao
tuổi thể hiện rất rõ nét tính ưu việt cũng như truyền thống "uống nước nhớ
nguồn" của xã hội ta. Ngoài việc được Nhà nước, các tổ chức, đoàn thể chúc
thọ, mừng thọ theo quy định, người cao tuổi sẽ được chăm sóc sức khỏe thông
qua việc định kỳ khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế, đặc biệt ưu tiên cho
người đủ 80 tuổi trở lên. Các bệnh viện sẽ thành lập các khoa lão khoa hoặc
dành một số giường để điều trị người bệnh cao tuổi. Người cao tuổi được

tuổi với các thành viên gia đình, giúp họ gắn bó và tự giác tham gia các sinh
hoạt cộng đồng; tham vấn, điều chỉnh các mối quan hệ giữa người già và các
15


thành viên trong gia đình, giúp họ sống hòa thuận, biết yêu thương và kính
trọng lẫn nhau; cung cấp các dịch vụ tập huấn, nâng cao kiến thức, kỹ năng
chăm sóc người cao tuổi cho các thành viên trong gia đình để họ tạo ra môi
trường hỗ trợ tốt nhất cho người cao tuổi. Nhân viên công tác xã hội cũng tư
vấn, hướng dẫn các công việc phù hợp với tuổi già, tạo niềm vui, tạo thu nhập
làm giảm cảm giác lệ thuộc; vận động cộng đồng (làng xóm) quan tâm giúp
đỡ người cao tuổi sống một mình…
1.4. Nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội khi làm việc với người cao tuổi
1.4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận
Công tác xã hội đối với người cao tuổi là một lĩnh vực khoa học khá mới
mẻ của Việt Nam, vì vậy nhiệm vụ hàng đầu của nhân viên công tác xã hội
đối với người cao tuổi là xây dựng và phát triển hệ thống các khái niệm, phạm
trù, lý thuyết đặc thù của công tác xã hội đối với người cao tuổi. Ví dụ có sự
thống nhất về khái niệm công tác xã hội đối với người cao tuổi.
Nhân viên công tác xã hội đối với người cao tuổi có nhiệm vụ hình thành
và phát triển công tác nghiên cứu lý luận để vừa củng cố hệ thống khái niệm
vừa tìm tòi tích lũy tri thức tiến tới phát triển nhanh, mạnh về lý luận và
phương pháp tiếp cận trợ giúp thân chủ.
Đồng thời nhân viên công tác xã hội cần nghiên cứu một cách bài bản, hệ
thống những vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm đáp ứng nhu cầu về điều kiện
vật chất cũng như tinh thần của người cao tuổi trong giai đoạn hiện nay.
1.4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu thực nghiệm
Đây là một nhiệm vụ quan trọng của nhân viên công tác xã hội đối với
người cao tuổi. Công tác xã hội đối với người cao tuổi tiến hành nghiên cứu
thực nghiệm nhằm kiểm nghiệm, chứng minh các vai trò, vị trí, đặc điểm tâm

xã hội. Trong đạo đức, sự cần thiết xã hội, những nhu cầu lợi ích của xã hội
hoặc của giai cấp biểu hiện dưới hình thức những quy định và những sự đánh
giá đã được mọi người thừa nhận và hình thành một cách tự phát, được củng
cố bằng sức mạnh và tấm gương của quần chúng của thói quen, phong tục.
17


Cũng như mọi ngành nghề tồn tại trong xã hội, đặc biệt là những nghề
có mối liên hệ xã hội sâu rộng, công tác xã hội cần thiết phải xây dựng các
tiêu chuẩn đạo đức của mình. Các tiêu chuẩn đạo đức (hay còn gọi là các chế
định đạo đức) có thể tồn tại ở dạng thành văn, được công bố chính thức và
rộng rãi trong toàn xã hội, cũng có thể chỉ tồn tại dưới dạng những quy ước
ngầm thông qua các hành vi ứng xử và sự chấp nhận trong cộng đồng. Nhưng
dù tồn tại dưới dạng nào thì những tiêu chuẩn đó vẫn phải phản ánh mức độ
chuyên nghiệp hóa của nghề nghiệp và thể hiện được mong muốn của xã hội
đối với nghề. Tính chuyên nghiệp và ảnh hưởng xã hội của nghề càng cao thì
yêu cầu về sự chuẩn hóa càng lớn. Do vậy, một nghề cụ thể khi phát triển đến
một trình độ nhất định bao giờ cũng phải xây dựng cho mình những bảng tiêu
chuẩn nghề nghiệp cụ thể. Trong đó, tiêu chuẩn đạo đức nghề luôn được đặt
lên hàng đầu.
Trong thời điểm hiện nay, khi công tác xã hội ở nước ta đang bắt đầu
những bước đi đầu tiên, vấn đề đạo đức nghề nghiệp cần phải được nhận thức
một cách đầy đủ hơn bao giờ hết. Đạo đức trong công tác xã hội hay nói cách
khác, các chế định đạo đức của công tác xã hội bao gồm một hệ thống các giá
trị, nguyên tắc và một tập hợp các chuẩn mực hành vi. Chúng được sắp xếp
theo ba cấp độ trong các văn bản quy định về đạo đức của các hội nghề
nghiệp công tác xã hội ở các quốc gia. Trong đó, hệ thống các điều khoản quy
định các chuẩn mực hành vi đạo đức thường được nói tới nhiều hơn cả.
1.5.2. Nguyên tắc cơ bản khi nhân viên công tác xã hội tiếp xúc với người
cao tuổi


19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status