Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật từ thực tiễn tỉnh bình phước - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ THỊ BÍCH TRÂM

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT
TẬT TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH PHƢỚC
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN HỮU MINH

HÀ NỘI, 2016

HÀ NỘI - năm


LỜI CAM ĐOAN

Đề tài nghiên cứu “Dịch vụ công tác xã hội đối với Trẻ khuyết tật từ thực tiễn tỉnh
Bình Phước” là kết quả của sự nỗ lực, cố gắng tìm tòi và nghiên cứu của bản thân
tôi cùng với sự hướng dẫn tận tình của người hướng dẫn khoa học là PGS.TS
Nguyễn Hữu Minh. Tôi xin cam đoan, kết quả nghiên cứu của đề tài hoàn toàn là
kết quả điều tra, khảo sát mà tôi đã tiến hành tại tỉnh Bình Phước.

Hà Nội, tháng 6/2016
Học viên

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BVCSTE: bảo vệ chăm sóc TE
CTXH: công tác xã hội
CTV: CTV
DV: dịch vụ
DVCTXH: dịch vụ công tác xã hội
GDHN: giáo dục hòa nhập
NKT: người khuyết tật
NTT: người tàn tật
TE: TE
TKT: trẻ khuyết tật


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Quy mô về độ tuổi Trẻ khuyết tật và các dạng khuyết tật ..................... .39
Bảng 2.2: Cơ cấu về độ tuổi khuyết tật và các dạng khuyết tật. ............................ .40
Bảng 2.3: Mức độ khuyết tật. ................................................................................... 40
Bảng 2.4: Nhận thức của cộng đồng đối với Trẻ khuyết tật. ................................... 60
Biểu đồ 2.1: Thực trạng hoàn cảnh sống của Trẻ khuyết tật ................................... 41
Biểu đồ 2.2: Thực trạng sức khỏe của Trẻ khuyết tật. .......................................... . 43


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em nói chung và Trẻ khuyết tật nói riêng là những đối tượng cần được quan
tâm của Đảng, nhà nước, gia đình và của toàn xã hội do các em chưa phát triển hoàn
thiện về mặt thể chất và tinh thần. Trẻ khuyết tật có nhiều thiệt thòi hơn so với các
bạn cùng độ tuổi vì các em bị khiếm khuyết về thể chất và tinh thần. Vì khuyết tật

đáp ứng, hỗ trợ để phù hợp với điều kiện về thể chất và tinh thần. Việc bảo đảm cho
Trẻ khuyết tật tiếp cận các dịch vụ y tế, học văn hoá, học nghề, tìm kiếm việc làm,
tham gia giao thông công cộng thực tế còn gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại, phần
lớn Trẻ khuyết tật chưa tiếp cận được với các dịch vụ giáo dục, dịch vụ giải trí, y tế.
. . nhất là ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Bình Phước là một tỉnh nghèo, chịu ảnh hưởng nặng nề sau chiến tranh, cùng
với hậu quả chiến tranh để lại, sự tác động của ô nhiễm môi trường, thiên tai, dịch
bệnh vì vậy số Trẻ khuyết tật của tỉnh được dự báo là sẽ không giảm trong những
năm tới. Hơn lúc nào hết cần phải tổ chức tốt các dịch vụ công tác xã hội đối với
Trẻ khuyết tật nhằm giúp các em tiếp cận được các dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa,
thể thao và các dịch vụ khác phù hợp để các em được hạn chế những khó khăn do
khuyết tật gây ra, có cơ hội phát triển, giảm bớt gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Xuất phát từ những cơ sở nêu trên, việc cung cấp các dịch vụ xã hội để đáp
ứng nhu cầu của Trẻ khuyết tật là cấp thiết để đảm bảo việc thực hiện các quyền của
Trẻ em theo pháp luật và phát huy hiệu quả của các hoạt động công tác xã hội.
Trước bối cảnh đó, tôi đã chọn đề tài “Dịch vụ công tác xã hội đối với Trẻ khuyết
tật từ thực tiễn tỉnh Bình Phước” làm đề tài nghiên cứu nhằm đưa những khuyến
nghị, giải pháp cụ thể để cung ứng các dịch vụ công tác xã hội cho Trẻ khuyết tật
đáp ứng nhu cầu và đạt hiệu quả hơn
2.Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề trẻ Trẻ khuyết tật, công tác xã hội với Người khuyết tật đã có nhiều
nghiên cứu, văn bản của các Bộ, ngành, các cấp chính quyền và các nhà nghiên cứu.
Cụ thể:
“ Báo cáo Quyền của Trẻ khuyết tật tại Việt Nam” của tác giả Eric Rosenthal
và Viện Quốc tế bảo vệ quyền Người khuyết tật tâm thần thực hiện theo yêu cầu

2


UNICEP Việt Nam năm 2009. Báo cáo đã nhận định tại Việt Nam cũng như nhiều



qua việc khảo sát lấy ý kiến của chính các em trong quá trình xây dựng và đánh giá các
chương trình và dịch vụ dành cho Trẻ khuyết tật.
Bài viết “Dịch vụ xã hội cho người khuyết tật thách thức và triển vọng” của
tác giả Tạ Hải Giang – Trung tâm phát triển sức khỏe bền vững – Viethealth. Bài
viết nêu rõ ở nước ta, những dịch vụ xã hội cơ bản dành cho Người khuyết tật như
y tế, giáo dục, sinh kế và việc làm đã được triển khai, tuy nhiên với rất nhiều Người
khuyết tật thì việc tiếp cận các dịch vụ này gặp rất nhiều rào cản đó là thiếu thông
tin, sự kỳ thị, thiếu những dịch vụ ở cấp độ cá nhân. Mặc dù nhà nước và các tổ
chức cá nhân trong và ngoài nước đã nổ lực cải thiện tình trạng này nhưng việc
cung cấp các dịch vụ xã hội cho Người khuyết tật vẫn còn nhiều vướng mắc về kinh
phí, nguồn nhân lực, nhận thức về Người khuyết tật còn hạn chế. Bên cạnh đó, bài
viết cũng nêu quan điểm, các dịch vụ xã hội nên và cần có sự góp sức của nhân viên
xã hội. Trong tương lai gần, nhân viên xã hội hoàn toàn có thể tham gia vào quá
trình cung cấp dịch vụ cho Người khuyết tật như giáo dục hòa nhập, hướng nghiệp
việc làm.
Báo cáo “Trẻ em ngoài nhà trường” do Bộ giáo dục và Đào tạo chủ trì thực
hiện với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của UNICEP Việt Nam đã nêu rõ trẻ em
chưa từng đi học, bỏ học hoặc có nguy cơ bỏ học gồm nhiều đối tượng trong đó có
Trẻ khuyết tật. Nghiên cứu cũng nhận định Trẻ khuyết tật có bất lợi rõ rệt về giáo
dục, với tỷ lệ đi học rất thấp và ngược lại tỷ lệ Trẻ em ngoài nhà trường rất cao. Tỷ
lệ Trẻ em ngoài nhà trường ở bậc tiểu học và Trung học cơ sở là khoảng 25% đối
với Trẻ khuyết tật một phần và lên đến trên 90% đối với Trẻ khuyết tật; tỷ lệ Trẻ
khuyết tật chưa từng đi học hoặc thôi học, Trẻ em ngoài nhà trường, luôn có tỉ lệ
cao hơn 80% ở mọi độ tuổi. Đặc biệt, tỷ lệ này lên tới 91,4% ở Trẻ khuyết tật từ 11
- 14 tuổi. Báo cáo nghiên cứu cũng phân tích một số các rào cản và vướng mắc, đến
từ phía cầu tức bản thân Trẻ em và cha mẹ và phía cung cấp dịch vụ giáo dục, bao
gồm hệ thống giáo dục đồng thời có liên quan đến các bên khác như các cơ quan
quản lý quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các cấp. Nổi bật về rào cản liên quan

Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc, việc cung cấp Dịch vụ xã hội chủ yếu là trách
nhiệm của các bộ và cơ quan nhà nước.

một số quốc gia, dịch vụ công tác xã hội

thường tập trung vào trị liệu tâm lý xã hội và tham vấn, ở một số quốc gia khác,
dịch vụ công tác xã hội có vai trò cụ thể và ảnh hưởng nhiều hơn đến việc quản lý
các dịch vụ xã hội của chính phủ.

Anh, các cách tiếp cận dịch vụ có thể là do thân

chủ tự tìm đến dịch vụ, hoặc được cán bộ chuyên môn giới thiệu như bác sỹ hoặc
giáo viên , hoặc thông qua lệnh của tòa án dựa trên đánh giá của cán bộ xã hội cấp
quận/huyện;

Mĩ Cũng giống như mô hình ở Vương quốc Anh, những người cần

dịch vụ có thể tự tìm đến dịch vụ hoặc do cán bộ chuyên môn hoặc tòa án giới thiệu
đến. Công tác xã hội tại Philippines ngày càng nhấn mạnh hơn vào vấn đề chính
5


sách và phát triển cộng đồng trong đó các cán bộ hoạt động trực tiếp kết hợp vai trò
cung cấp các dịch vụ phúc lợi xã hội cho nhu cầu của các cá nhân và gia đình với
các hoạt động tổ chức cộng đồng. Các dịch vụ chuyên biệt được cung cấp tại các
trung tâm dành cho người có nhu cầu hoặc ở cấp vùng, cấp quốc gia. Liên quan đến
tính thể chế của các dịch vụ công tác xã hội, kinh nghiệm ở một số nước cũng cho
thấy tính pháp lý có ý nghĩa rất lớn giúp tạo điều kiện cho người hành nghề các dịch
vụ công tác xã hội được thuận lợi và thực sự được coi đó là một nghề.
“Nghiên cứu định tính về Trẻ khuyết tật tại An Giang và Đồng Nai, kiến

trung vào vấn đề chính sách và phát triển cộng đồng, trong đó, các cán bộ hoạt động
trực tiếp đóng vai trò là người cung cấp các dịch vụ phúc lợi xã hội, đáp ứng nhu
cầu của cá nhân và gia đình. Các cán bộ xã hội làm việc tại cơ quan trung ương là
Bộ hoặc tại các dự án của tổ chức phi Chính phủ, văn phòng trung ương và cấp tỉnh.
Các dịch vụ chuyên biệt được cung cấp tại các trung tâm dành cho người có nhu cầu
hợc ở cấp vùng, cấp quốc gia.
Tất cả các công trình nghiên cứu trên đều nghiên cứu về Trẻ khuyết tật,
Người khuyết tật và Dịch vụ công tác xã hội. Tuy nhiên các nghiên cứu đó chỉ dừng
lại ở mức đánh giá thực trạng hay nêu lên các quyền của Trẻ khuyết tật, chưa có đề
tài nào nghiên cứu sâu về Dịch vụ công tác xã hội đối với Trẻ khuyết tật. Từ năm
2011 đến nay, trên địa bàn tỉnh Bình Phước chưa có những chương trình cũng như
đề tài nghiên cứu về Dịch vụ công tác xã hội đối với Trẻ khuyết tật nhằm đưa ra
những khuyến nghị hợp lý và xác thực để có hướng giúp đỡ các em vì vậy đề tài mà
tôi lựa chọn là hoàn toàn không bị trùng lặp với các đề tài nghiên cứu trước đây.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu lý luận, phân tích, đánh giá thực trạng của Dịch vụ công
tác xã hội đối với Trẻ khuyết tật trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Trên cơ sở đó đề
xuất các giải pháp, khuyến nghị về giải pháp hỗ trợ cho Trẻ khuyết tật phù hợp với
nhu cầu và hiệu quả hơn góp phần phát triển Dịch vụ công tác xã hội đối với Trẻ
khuyết tật trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận chung về Trẻ em, Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt,
khuyết tật, Trẻ khuyết tật, công tác xã hội, Dịch vụ công tác xã hội, Dịch vụ công
tác xã hội đối với Trẻ khuyết tật.

7


Tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng Dịch vụ công tác xã hội với Trẻ

sách, môi trường xã hội, gia đình, cộng đồng. Các đối tượng được nghiên cứu trong
đề tài sẽ được đánh giá theo mốc thời gian, mang tính lịch sử rõ ràng. Qua đó các
vấn đề và các yếu tố quan trọng trong đề tài nghiên cứu có sự so sánh, đối chiếu,
đảm bảo tính chính xác trong trình bày kết quả nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để tìm hiểu thực trạng của Dịch vụ công tác xã hội đối với Trẻ khuyết tật
trên địa bàn tỉnh Bình Phước đã tương xứng với nhu cầu thực tế hay chưa, nhu cầu
của Trẻ khuyết tật gồm những gì, luận văn sử dụng các phương pháp sau đây:
5.2.1. Điều tra bằng bảng hỏi
Điều tra bằng bảng hỏi tiến hành phỏng vấn trực tiếp với khách thể nghiên
cứu nhằm thu thập thông tin để làm rõ thực trạng nhu cầu hỗ trợ từ các chính sách,
dịch vụ đối với Trẻ khuyết tật.
Điều tra và lấy thông tin từ người được hỏi, tác giả tiến hành chọn 170 mẫu,
trong đó có 120 Trẻ khuyết tật hoặc cha mẹ, người chăm sóc Trẻ khuyết tật) từ 1016 tuổi của 03 huyện Hớn Quản, Lộc Ninh và Đồng Phú để thu thập thông tin, số
liệu về những loại hình Dịch vụ công tác xã hội mà các em đang được hưởng có đủ
và phù hợp với các em hay không, những mong muốn của các em; 50 người dân
trong cộng đồng nhằm thu thập thông tin về nhận thức của cộng đồng đối với nhằm
thu thập thông tin, số liệu về thực trạng đời sống của Trẻ khuyết tật, sự hiểu biết về
vấn đề khuyết tật và nhận thức của cộng đồng với vấn đề Trẻ khuyết tật. Những
thông tin thu thập từ bảng hỏi sẽ làm cơ sở cho tác giả đề xuất những giải pháp thiết
thực để cung cấp các Dịch vụ công tác xã hội đối với Trẻ khuyết tật đạt hiệu quả hơn.
5.2.2. Phương pháp quan sát
Trong thời gian thực hiện đề tài, tác giả đã tiến hành quan sát thực trạng đời
sống, kinh tế, xã hội tại địa phương và đời sống tâm lý của Trẻ khuyết tật thông qua
qua các hoạt động thường ngày. Phương pháp quan sát thực tế góp phần làm rõ
thêm những kết quả của nghiên cứu định lượng.
5.2.3. Phỏng vấn sâu
9



Nghiên cứu cũng góp phần cung cấp thông tin với địa phương và các tổ
chức xã hội, đề xuất các phương án cũng như khuyến nghị để có các chính sách hỗ
trợ kịp thời và phù hợp giúp Trẻ khuyết tật có cuộc sống tốt hơn.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung chính gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về Dịch vụ công tác xã hội đối với Trẻ khuyết tật.
Chương 2: Thực trạng Dịch vụ công tác xã hội đối với Trẻ khuyết tật ở tỉnh
Bình Phước.
Chương 3: Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả các Dịch vụ
công tác xã hội.

11


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ
KHUYẾT TẬT
1.1. Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của Trẻ khuyết tật
1.1.1. Một số khái niệm
Khái niệm Trẻ em
Điều 1 Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em quy định: “trẻ em có
nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó
quy định tuổi thành niên sớm hơn”.
Khái niệm Trẻ em theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em số
25/2004/QH11 của Việt Nam: “trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt
Nam dưới 16 tuổi”.
Trong Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009 sử dụng khái niệm “người
chưa thành niên” là người đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Trong quá trình thực hiện một số chính sách trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt ở nước ta vẫn vận dụng cho những người trong độ tuổi vị thành niên từ 16

hiểu từ khuyết nghĩa là không đầy đủ, thiếu mất một bộ phận hoặc một phần. Từ tật
có nghĩa là có điều gì đó không được bình thường, ít nhiều khó chữa ở vật liệu,
dụng cụ, máy móc. Còn ở người là sự bất thường, nói chung không thể chữa được
của một cơ quan trong cơ thể do bẩm sinh mà có, hoặc do tai nạn hay bệnh gây ra
theo Từ điển tiếng Việt Nxb Khoa học – xã hội, Hà Nội, 1988 .
Khuyết tật có thể được hiểu là khiếm khuyết thực thể ở một bộ phận nào đó
hoặc khiếm khuyết chức năng ở một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức của cơ thể và
khiếm khuyết đó có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống.
Như vậy, định nghĩa khuyết tật theo cách tiếp cận mới được hiểu là tình trạng
thiếu hụt chức năng hay rối loạn chức năng so với chuẩn sinh lý bình thường làm
cho cá nhân bị trở ngại trong học tập, làm việc, giao tiếp, vui chơi giải trí và sinh
hoạt [43,tr.8].

13


Khái niệm Trẻ khuyết tật
Theo Luật NKT 2010 : NKT là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ
phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao
động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.
Theo Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em: TKT là TE dưới 16 tuổi không phân
biệt nguồn gốc gây ra tàn tật, bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc
chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt
động, khiến cho lao động sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn [2; tr.252 ].
1.1.2. Biểu hiện tâm lý và nhu cầu của Trẻ khuyết tật
1.1.2.1.Biểu hiện tâm lý của Trẻ khuyết tật:
Do sự thiếu hụt về thể chất dẫn tới khả năng hoạt động chức năng của TKT
bị suy giảm vì vậy ở TKT sẽ có những đặc điểm chung như sau:
Về tính cách
Các em thường bi quan, chán nản, mặc cảm, tự ti, tủi phận, cho mình là

tồn tại độc lập mà luôn nằm trong mối quan hệ gắn kết, phụ thuộc và ảnh hưởng lẫn
nhau.
Maslow đã xắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc:
- Nhu cầu cơ bản: ăn, uống, hít thở, không khí, khi các nhu cầu này được
thỏa mãn thì con người có xu hướng tìm kiếm cách đáp ứng nhu cầu bậc cao hơn.
- Nhu cầu an toàn: có cảm giác an toàn về thân thể, tình yêu thương, nhà ở,
việc làm, sức khỏe, gia đình đây là những nhu cầu giúp con người có cuộc sống an
toàn, bình yên, ổn định.
- Nhu cầu xã hội: nhu cầu được hòa nhập, giao lưu tình cảm, muốn có gia
đình yên ấm, bạn bè.
- Nhu cầu được tôn trọng, kính mến: được chấp nhận có một vị trí trong
nhóm người, cộng đồng, xã hội, cần có cảm giác được tôn trọng, kính mến, được tin
tưởng.

15


- Nhu cầu được khẳng định, tự thể hiện mình: nhu cầu được hoàn thiện, phát
triển trí tuệ, sáng tạo, được thể hiện khả năng, năng lực của mình và được công
nhận.
Từ những nhu cầu chung của con người theo quan điểm của A.Masslow,
TKT cũng có tất cả những nhu cầu như người bình thường nhưng việc đáp ứng các
nhu cầu này cho các em thường gặp những khó khăn nhất định. Một số nhu cầu bậc
cao của TKT ít có cơ hội được đáp ứng như học văn hóa, học nghề, tìm kiếm việc
làm, tiếp cận dịch vụ xã hội. Chính vì vậy, TKT rất cần sự hỗ trợ phù hợp từ phía
gia đình và cộng đồng để các em có thêm cơ hội được đáp ứng các nhu cầu. Vận
dụng lý thuyết này vào trợ giúp TKT đòi hỏi phải nắm được nhu cầu của các em,
trên cơ sở đó giải quyết những nhu cầu cơ bản về vật chất, tinh thần và tạo niềm tin
cho các em vào bản thân, vào cuộc sống, vào cộng đồng để hướng các em đến
những điều tốt đẹp nhất, tránh những suy nghỉ tiêu cực. Từ chính những đặc điểm

2011 thống nhất một định nghĩa về công tác xã hội như sau: CTXH là nghề nghiệp
tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy
sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao đổi quyền và giải phóng quyền lực nhằm
nâng cao chất lượng sống của con người. CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi
con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người
với môi trường sống.
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai 2010 : CTXH là một nghề, một hoạt động
chuyên nghiệp nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực và
đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường
xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng
đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã
hội.[ 5; tr.19 ]
Khái niệm Dịch vụ công tác xã hội
Được hiểu là các dịch vụ cụ thể hóa các luật pháp, chính sách của nhà nước
về các lĩnh vực phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục, pháp lý nhằm trợ giúp các cá nhân,

17


nhóm, cộng đồng, trong đó có trẻ em có nhu cầu giải quyết các vấn đề khó khăn và
mang tính chuyên nghiệp của CTXH.
Từ những khái niệm, quan điểm về CTXH và DVXH, có thể hiểu dịch vụ
công tác xã hội DVCTXH ở Việt Nam như sau: DVCTXH là hoạt động CTXH
chuyên nghiệp nhằm cung cấp các hoạt động hỗ trợ về tinh thần hay vật chất cho
những người gặp hoàn cảnh khó khăn như người nghèo, NKT, TE có hoàn cảnh đặc
biệt, người già. . . nhằm nâng cao sức khỏe và chất lượng cuộc sống, giảm thiểu
những rào cản để những đối tượng này được tiếp cận với những hỗ trợ của chính
phủ, cộng đồng, khôi phục các chức năng xã hội của mình.
Từ những khái niệm trên, theo tôi DVCTXH là một hoạt động chuyên nghiệp
của Công tác xã hội gồm hoạt động của các nhân viên công tác xã hội hoặc những

hội. Đảng, nhà nước ta đã có sự quan tâm, đầu tư cho các em thể hiện qua hệ thống
văn bản chỉ đạo, điều hành và sự đầu tư nguồn lực. Vấn đề ở đây là làm thế nào
giúp các em tiếp cận được với các DVCTXH phù hợp với nhu cầu bản thân và dạng
tật. Con đường hòa nhập cộng đồng của các em sẽ vô cùng khó khăn nếu chỉ có sự
nỗ lực của bản thân, gia đình mà không có sự đồng hành, hỗ trợ thích hợp từ phía
chính quyền, cộng đồng, xã hội. DVCTXH đối với TKT như chiếc cầu nối các em
với xã hội, hỗ trợ các em về vật chất, tinh thần, tâm lý xã hội để khắc phục những
khó khăn, tạo thuận lợi để các em được hòa nhập, phát triển. KT là điều không ai
mong muốn nhưng việc giúp các em đón nhận và khắc phục những KT này với tâm
thế chủ động là điều mà gia đình, xã hội, cộng đồng nên làm để hỗ trợ cho các em.
1.2.2.Cách tiếp cận và yêu cầu đối với Nhân viên công tác xã hội khi cung
cấp Dịch vụ công tác xã hội cho Trẻ khuyết tật
1.2.2.1. Tiếp cận theo nhu cầu
Tiếp cận theo nhu cầu của TKT là cách tiếp cận dựa trên việc đáp ứng tốt
nhất các dịch vụ công tác xã hội đối với các nhu cầu của TKT. Theo cách tiếp cận
này TKT và nhu cầu của TKT được đặt vào vị trí trung tâm. Đây là cách tiếp cận
mang tính nhân văn vì coi trọng TKT và nhu cầu của các em. Tiếp cận theo nhu cầu
của các em sẽ giúp cho việc hỗ trợ hợp lý, đạt hiệu quả, không thừa, không thiếu,
tránh việc quyết định thay, làm thay hoặc không cung cấp đúng nhu cầu sẽ làm cho
các em chán nản, thiếu tin tưởng. Việc tiếp cận theo nhu cầu phải theo hai hướng là

19


nhu cầu cần và nhu cầu cảm. Nhu cầu cần là những nhu cầu cơ bản của TKT, còn
nhu cầu cảm là nhu cầu mà nhân viên xã hội thấy là cần cho các em. Nghĩa là ngoài
những nhu cầu tự thân của các em, nhân viên xã hội phải nhìn thấy, cảm thấy được
cái gì là hợp lý để tư vấn, hướng dẫn cho các em. Việc đáp ứng các nhu cầu cho trẻ
cũng là động cơ thúc đẩy để trẻ cảm thấy tự tin hơn và hòa nhập xã hội. Bên cạnh
đó, việc tiếp cận theo nhu cầu sẽ giúp các hỗ trợ xã hội giảm bớt kinh phí và tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status