Quản lý công tác xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiễn tỉnh quảng nam - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HUY

QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN NGỌC TOẢN

HÀ NỘI – 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
ghi trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN HUY


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1

Người khuyết tật

CTXH

Công tác xã hội

Nxb

Nhà xuất bản

UBND

Ủy ban nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc biệt do hậu quả chiến tranh, thảm hoạ
thiên tai nên số người bị khuyết tật chiếm tỷ lệ khá cao trong dân số, mặc dù cho
đến nay chưa có cuộc điều tra trên phạm vi cả nước về người khuyết tật nhưng căn
cứ vào báo cáo của các tỉnh, thành phố, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đưa
ra con số ước tính có khoảng 6,7 triệu người khuyết tật. Đây là bộ phận dân cư chịu
thiệt thòi, ít có điều kiện tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, do vậy đời sống vật chất
tình thần luôn gặp khó khăn. Để bảo đảm quyền của người khuyết tật, Quốc hội đã
ban hành Luật người khuyết tật và hệ thống luật pháp chính sách quy định về quyền
của người khuyết tật và trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan tổ chức và gia đình
trong việc bảm đảm quyền của người khuyết tật. Cụ thể hóa luật pháp, Chính phủ đã
ban hành và thực hiện hệ thống chính sách chăm sóc, trợ giúp người khuyết tật trên
các lĩnh vực giáo dục, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, việc làm, văn hóa
thể thao, đời sống và hỗ trợ hòa nhập. Đồng thời đã huy động được nguồn lực để

cán bộ làm công tác xã hội ở cơ sở đã kết nối người khuyết tật tới các dịch vụ về y
học, thể chất, can thiệp và chăm sóc các yếu tố tinh thần, xã hội để họ có thể phục
hồi chức năng và hòa nhập vào cộng đồng, nhưng CTXH với người khuyết tật trên
địa bàn tỉnh chỉ mới được triển khai, bước đầu đã bộc lộ những hạn chế tồn tại,
trong đó quản lý CTXH đối với người khuyết tật đang là một khâu rất quan trọng
cần có những giải pháp cụ thể để dần từng bước đưa CTXH đối với người khuyết
tật trên địa bàn tỉnh mang tính chuyên nghiệp. Tuy nhiên để các mô hình, hoạt động
CTXH đạt hiệu quả cao nhất thì yếu tố quản lý rất quan trọng. Đầu tàu tốt, chạy
đúng hướng thì các toa tàu sau sẽ vận hành theo sau được ổn định và ngược lại. Như
vậy muốn “con tàu” CTXH được vận hành tốt và có hiệu quả thì yếu tố quản lý
trong công tác xã hội đóng vai trò then chốt, đặc biệt trong bối cảnh ở Việt Nam
hiện nay.
Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài nghiên cứu “Quản lý công tác xã hội đối
với người khuyết tật từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” có ý nghĩa cả về lý luận và thực
tiễn. Kết quả nghiên cứu sẽ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao đóng góp vào sự phát
triển chung, nâng cao hiệu quả về CTXH đối với người khuyết tật.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Những năm gần đây, người khuyết tật và các vấn đề của họ nhận được sự
quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các chuyên gia, học giả

2


trong và ngoài nước. Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, tác giả lựa chọn và
phân tích một số công trình nghiên cứu, bài viết, tạp chí tiêu biểu.
Thứ nhất, Các nghiên cứu về pháp luật, chính sách xã hội đối với người
khuyết tật
Việc đảm bảo quyền của người khuyết tật đã trở thành một trong những yêu
cầu quan trọng để đảm bảo công bằng, vì con người và phát triển bền vững của
quốc gia. Chính vì thế, có nhiều công trình nghiên cứu về khung pháp lý nhằm đảm

người khuyết tật. Đây là giáo trình đào tạo Công tác xã hội ở hệ trung cấp nghề. [23]
Hay, PGS. TS Nguyễn Thị Kim Hoa (chủ biên) cũng đã nghiên cứu và xây
dựng giáo trình đào tạo Công tác xã hội với người khuyết tật ở bậc Đại học và Sau
đại học với ba nội dung chính. Đó là tổng quan về về người khuyết tật; Trải nghiệm
khuyết tật; và Các kỹ năng thực hành công tác xã hội. [9]
Để hỗ trợ cho đội ngũ cán bộ làm việc với người khuyết tật một cách chuyên
nghiệp, Cục Bảo trợ xã hội phối hợp cùng Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ
(USAID) và Tổ chức hỗ trợ người khuyết tật xây dựng tài liệu về quản lý trường
hợp với người khuyết tật đề cập tới những quan điểm về cung cấp dịch vụ cho
người khuyết tật và các giai đoạn của quản lý trường hợp với người khuyết tật. [3]
Ngoài ra, Cục Bảo trợ xã hội còn xây dựng tài liệu hướng đến cung cấp cho
cán bộ xã hội những kiến thức và kỹ năng cần thiết trong công tác trợ giúp cho
người khuyết tật, tăng cường các chức năng xã hội của người khuyết tật để họ có thể
hòa nhập cộng đồng một cách bền vững. [4]
Thứ ba, các nghiên cứu về các hoạt động thực hành công tác xã hội đối
với người khuyết tật
Các đề tài luận văn thạc sĩ ngành công tác xã hội trong những năm gần đây
có xu hướng chuyên sâu nghiên cứu về thực trạng của công tác xã hội đối với người
khuyết tật tại các trung tâm bảo trợ, tại cộng đồng. Từ đó, vận dụng các phương
pháp công tác xã hội với cá nhân, phương pháp công tác xã hội với nhóm để thúc
đẩy hoạt động trợ giúp cho người khuyết tật mang tính chuyên nghiệp hơn như đề
tài “Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp người khuyết tật từ thực tiễn Trung
tâm dạy nghề từ thiện Quỳnh Hoa, huyện Thanh Trì, Hà Nội” của Nguyễn Ngọc
Tùng [21]; Lê Thanh Thủy với đề tài “Công tác xã hội đối với người khiếm thị từ
thực tiễn huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội” [22]; …

4


Th.S Nguyễn Thụy Diễm Hương và Th.S Tạ Thị Thanh Thủy (trường Đại học



Thứ năm, các hội thảo, dự án liên quan đến việc hỗ trợ cho người khuyết tật
Trong những năm qua có nhiều hội thảo, dự án nghiên cứu các hoạt động hỗ
trợ cho người khuyết tật được tổ chức. Tiêu biểu một số hội thảo, dự án như sau:
“Hội thảo Quốc tế về Công ước quyền người khuyết tật và vai trò của các
Hội Người khuyết tật” do Bộ Ngoại giao chủ trì vào ngày 10/12/2013. Đây là hoạt
động trong khuôn khổ Dự án về “Tăng cường năng lực đảm bảo các quyền con
người của Việt Nam” do Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tài trợ.
Qua quá trình trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm từ thực tiễn của các Hiệp hội người
khuyết tật trong toàn quốc đã cho thấy Công ước về quyền người khuyết tật đã mở
ra một cách nhìn nhận, tiếp cận mới của thế giới nói chung và của Việt Nam nói
riêng đối với người khuyết tật. Công ước thúc đẩy việc bảo đảm người khuyết tật
được thụ hưởng các quyền và tự do cơ bản như tất cả mọi người.
Hội thảo “Thúc đẩy cộng đồng: Tăng quyền cho người khuyết tật” được diễn
ra vào ngày 26/3/2015 tại Hà Nội. Hội thảo nhằm giới thiệu dự án Rights Now!,
đánh giá thực trạng thực thi quyền của người khuyết tật sau khi Công ước quốc tế
về quyền của người khuyết tật được phê chuẩn tại Việt Nam, đồng thời cũng là cơ
hội để chia sẻ kỹ năng, công cụ, kinh nghiệm và tài liệu hỗ trợ nâng cao năng lực
cho Hội/nhóm/tổ chức của hoặc vì người khuyết tật Việt Nam trong tương lai.
Chương trình do MIUSA (tổ chức vận động quốc tế Hoa Kỳ), DREDF (Quỹ Bảo vệ
và Giáo dục Quyền của người khuyết tật), IFES (Quỹ quốc tế về hệ thống bầu cử
Hoa Kỳ), USICD (Hội đồng Quốc tế về người khuyết tật) và Trung tâm ACDC
đồng tổ chức.
Hội thảo khoa học với chủ đề: “Quản lý trường hợp với người khuyết tật tại
Việt Nam” do Khoa Công tác xã hội của Học viện khoa học xã hội Việt Nam tổ
chức vào ngày 22/10/2015. Đây là hội thảo khoa học mang nhiều ý nghĩa khi nội
dung nghiên cứu, thảo luận hướng đến vấn đề “Quản lý trường hợp với người
khuyết tật” – đây là hướng đi mới hỗ trợ người khuyết tật đang được triển khai ở
nhiều địa phương theo Thông tư 01/TT-Bộ LĐTB &XH về công tác Quản lý trường

công tác xã hội đối với người khuyết tật
4.2. Phạm vi nghiên cứu

7


- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu tập trung vào nội dung thực trạng Quản
lý công tác xã hội với nhóm đối tượng người khuyết tật trên địa bàn thỉnh Quảng
Nam.
- Phạm vi khách thể: Đề tài nghiên cứu trên 2 nhóm khách thể chính đó là:
Cán bộ lãnh đạo Sở, cán bộ quản lý, lãnh đạo trực tiếp trong các cơ sở chăm sóc
người khuyết tật và Trung tâm Công tác xã hội tỉnh (một đơn vị 01 người); (2) nhân
viên trong các trung tâm chăm sóc khuyết tật.
- Phạm vi về không gian, thời gian: Từ tháng 1/1/2012 đến hết tháng 6/2016
tại Tỉnh Quảng Nam.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng để phân tích, đánh giá
các hoạt động quản lý công tác xã hội nói chung và trong lĩnh vực chăm sóc người
khuyết tật nói riêng.
Những phát hiện của nghiên cứu này sẽ bổ sung thêm cơ sở lý luận, khoa học
cũng như phát triển hệ thống các lý luận, phương pháp trong nghiên cứu về các vấn
đề liên quan như CTXH, quản lý công tác xã hội và một số vấn đề lý luận về người
khuyết tật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu: Là phương pháp thu thập thông
tin từ các công trình nghiên cứu và các tài liệu có sẵn của các tác giả trong và ngoài
nước. Phương pháp này được áp dụng phân tích các tài liệu như: Các văn bản pháp
luật liên quan đến công tác xã hội và người khuyết tật của cả nước và của tỉnh
Quảng Nam; Các quy định, chính sách của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý

- Những bất cập, thuận lợi ở khía cạnh quản lý ảnh hưởng tới công việc của
họ
- Những đề xuất khuyến nghị của họ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý từ đó
giúp cho công việc của họ được thực hiện tốt hơn
Phương pháp thảo luận nhóm:

9


Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp huy động một số người có kiến
thức và sự hiểu biết về một lĩnh vực nhất định. Mục đích của phương pháp này là để
thu thập thông tin từ đa dạng từ nhiều chiều khác nhau. Hơn nữa trong quá trình
thảo luận nhóm, các quan điểm trái chiều sẽ được đưa ra trao đổi để đi đến thống
nhất. Như vậy nghiên cứu viên sẽ có được những ý kiến sâu sắc và thống nhất về
các vấn đề cần quan tâm
Trong đề tài này đã thực hiện 2 cuộc thảo luận nhóm
- Thảo luận nhóm 1: Có 11 cán bộ làm việc trực tiếp với NKT; qua buổi thảo
luận các thành viên đã đã đánh giá về hiệu quả về công tác xã hội đối với NKT, của
hoạt động quản lý CTXH đối với NKT và những mong đợi của họ trong các hoạt
động quản lý này.
- Thảo luận nhóm 2: Có 08 cán bộ quản lý, gồm: 01 Lãnh đạo Sở, 02 Lãnh
đạo phòng Bảo trợ xã hội, 04 Lãnh đạo cơ sở bảo trợ xã hội và 01 Lãnh đạo phòng
Lao động - TBXH cấp huyện. Tại Hội thảo các thành viên đã đánh giá sâu về thực
trạng quản lý, những khó khăn họ đang gặp phải và những đề xuất nhằm nâng cao
hiệu quả quản lý CTXH đối với NKT.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả của đề tài sẽ đóng góp một phần vào hệ thống kiến thức hiện đại về
một số lý luận về quản lý nói chung và quản lý CTXH nói riêng. Hơn nữa các kết
quả cũng góp phần bổ sung thêm vào hệ thống những giải pháp trong việc nâng cao

Lời nói đầu.
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý công tác xã hội đối với người
khuyết tật.
- Chương 2: Thực trạng về người khuyết tật và quản lý công tác xã hội đối
với người khuyết tật từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
- Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác xã hội đối với
người khuyết tật từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
Kết luận và Khuyến nghị

11


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1.1. Lý luận về khuyết tật và người khuyết tật
1.1.1. Một số khái niệm
* Khái niệm khuyết tật
Có nhiều cách hiểu cũng như nhiều định nghĩa khác nhau về khuyết tật, tuy
nhiên mỗi cách hiểu đều xét trên những mục đích và quan điểm khác nhau.
Từ “khuyết tật” có nguồn gốc từ “disability” trong tiếng Anh. Theo nguyên
ngữ từ này có nghĩa là sự hàm ý hạn chế hoặc thiếu khả năng thực hiện một hoạt
động gì đó do có khiếm khuyết [9, tr.23]
Từ “khuyết” có nghĩa là không đầy đủ, thiếu mất một bộ phận, một phần; từ
“tật” có nghĩa là “điều gì đó không được bình thường, ít nhiều khó chữa ở vật liệu,
dụng cụ, máy móc. Còn ở người là sự bất thường, nói chung không thể chữa được,
của một cơ quan trong cơ thể do bẩm sinh mà có, hoặc do tai nạn hay bệnh gây ra”
trong từ điển Tiếng việt. Như vậy, có thể hiểu khuyết tật là khiếm khuyết thực thể ở
một bộ phận nào đó hoặc khiếm khuyết chức năng ở một hoặc nhiều cơ quan, tổ
chức của cơ thể và khiếm khuyết đó có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống.

khuyết tật ở Việt Nam đã được cụ thể hóa trong Luật Người khuyết tật năm 2010.
Việc phân loại mức độ khuyết tật thường được dựa trên nhiều tiêu chí khác
nhau: dựa vào các dạng tật và dựa vào các mức độ khuyết tật. [9, tr. 34]
Tiêu chí thứ nhất, Về các dạng khuyết tật
Căn cứ vào Khoản 1, Điều 2, Chương 1, Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày
10/4/2012 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật người khuyết tật, đã quy định 6 dạng khuyết tật cơ bản như sau:
Khuyết tật vận động: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ,
chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển.
Khuyết tật nghe, nói: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc
cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp,
trao đổi thông tin bằng lời nói.
Khuyết tật nhìn: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh
sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường.

13


Khuyết tật thần kinh, tâm thần: là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc,
kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường.
Khuyết tật trí tuệ: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy
biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng,
giải quyết sự việc.
Khuyết tật khác: là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến
cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trường
hợp được quy định tại các dạng trên.
Tiêu chí thứ hai, Về các mức độ khuyết tật
Tại Điều 3 của Nghị định số: 28/2012/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật chia thành 3 mức độ khuyết tật như
sau:

Thiếu ô-xy ở trẻ: Những vấn đề do nhau thai, sinh quá lâu, trẻ không thở
hoặc không khóc ngay sau khi sinh; Tổn thương trong lúc sinh: Tổn thương não do
mẹ đẻ khó hoặc do dùng phóc-sép (một dụng cụ y tế dùng để kéo đầu trẻ); Viêm
nhiễm: Vi rút Herpes, giang mai; Đẻ non hoặc thiếu trọng lượng: Đẻ non hoặc thiếu
trọng lượng
* Sau khi sinh
Viêm nhiễm: Viêm màng não gây ra do bệnh sởi, ho gà, quai bị, thuỷ đậu, và
viêm phổi (có thể gây ra bệnh tràn dịch màng não sau này). Trong số những loại
bệnh này, có thể ngăn chặn bằng vắc xin. Đôi khi, việc dùng vắc xin có thể gây
viêm màng não.
Tổn thương: Tổn thương não do chấn thương đầu nặng, hoặc do ngạt; U não:
Tổn thương do khối u; hoặc do các hoạt động chỉnh trị như: phẫu thuật, chỉnh trị
bằng tia phóng xạ…; Suy dinh dưỡng, bị lạm dụng, kích thích dưới ngưỡng hoặc bị
bỏ rơi.
* Các nguyên nhân khác
Không được chăm sóc đầy đủ về y tế và thể chất; thiếu thốn về tâm lý xã hội;
Sử dụng ngôn ngữ một cách rất hạn chế trong gia đình; Ít có cơ hội đến trường.
Hiện nay, các nguyên nhân gây nên khuyết tật có sự biến động và khác hơn
so với giai đoạn trước đây; các nguyên nhân do bệnh tật, bẩm sinh và chiến tranh sẽ
giảm, đặc biệt là các tác động dẫn đến khuyết tật trong giai đoạn trước sinh và trong

15


khi sinh được hạn chế rất nhiều do sự phát triển của y học, nhất là vấn đề sàng lọc
trước sinh và sự tuyên truyền tốt về việc chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em cũng như
vấn đề sinh đẻ. Tuy nhiên, các nguyên nhân như do tai nạn lao động, giao thông, ô
nhiễm môi trường, môi trường xã hội không phù hợp như thiếu thốn về tâm lý xã
hội và không rõ nguyên nhân có chiều hướng gia tăng do sự phát triển mạnh mẽ của
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa.

khuyết tật, là đối tượng được bảo trợ, thậm chí họ đổ lỗi những khiếm khuyết của
bản thân là do xã hội không quan tâm. Vì vậy, một số người khuyết tật có thái độ ỷ
lại, trông chờ vào người khác hỗ trợ, điều này làm cho việc hỗ trợ người khuyết tật
khắc phục khó khăn, vượn lên hòa nhập xã hội hết sức khó khăn. Trong xã hội hiện
nay, có nhiều người khuyết tật có ý chí vươn lên khỏi hoàn cảnh, số phận của mình,
họ có thể tự chủ được trong công việc và cuộc sống. Bên cạnh những khó khăn người
khuyết tật phải trải qua, họ là người rất giàu về nghị lực để vượt qua khó khăn của tật
nguyền. Với sự hỗ trợ thích hợp của gia đình và xã hội, một số người khuyết tật đã
đạt được nhiều thành tích cao trong lao động và học tập, nhiều người khuyết tật trở
thành tấm gương sáng, thành nguồn động lực cho nhiều người noi theo.
1.2. Lý luận về quản lý công tác xã hội đối với người khuyết tật
1.2.1. Khái niệm về quản lý công tác xã hội và các khái niệm liên quan
- Công tác xã hội
Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế (2011) thống
nhất một định nghĩa về CTXH như sau: Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia
vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay
đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất
lượng sống của con người. CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và
lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với với môi
trường sống.
Công tác xã hội ở Việt Nam cũng được các tác giả xem xét từ những khía cạnh
khác nhau điển hình có tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng: Công tác xã hội là hoạt
động thực tiễn, mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc,
phương pháp hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề. Công tác xã hội
theo đuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội’’. [12, tr. 11]

17


Công tác xã hội tại Việt Nam cũng được xem như là sự vận dụng các lý


- Trợ giúp, khuyến khích, thúc đẩy và tăng cường việc thực hiện chức năng
xã hội của cá nhân, nhóm, các tổ chức và các cộng đồng người khuyết tật bằng cách
giúp họ, phòng ngừa, chữa trị và giảm nhẹ những đau buồn thống khổ do khuyết tật
mang lại và biết cách sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hiệu quả.
- Tham gia vào việc hoạch định, xây dựng và thực thi các chính sách xã hội,
các dịch vụ xã hội, các nguồn tài nguyên và các chương trình để đáp ứng những nhu
cầu của người khuyết tật và hỗ trợ cho sự phát triển của họ.
- Theo đuổi những chính sách, dịch vụ, tài nguyên và chương trình thông qua
công tác biện hộ trong phạm vi cơ sở hay trong phạm vi quản trị cơ sở hoặc hành
động chính trị để tăng quyền lực cho người khuyết tật nhằm đảm bảo sự công bằng
và sự tham gia đầy đủ của họ vào các hoạt động xã hội.
- Nhân viên xã hội
Nhân viên xã hội là những người được đào tạo các kiến thức, kỹ năng
chuyên môn về Công tác xã hội để giúp đối tượng tăng năng lực trong việc giải
quyết vấn đề của họ. Đây có thể coi là quá trình nhân viên xã hội giúp đối tượng
phát hiện được những khả năng tiềm tàng, những điểm mạnh và những nguồn lực
sẵn có của bản thân (cá nhân, gia đình, cộng đồng) và nối kết với các nguồn lực xã
hội trong việc tự lực giải quyết vấn đề của chính mình.
- Quản lý
Theo Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì
và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm " .
Theo Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh
nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo,
điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều
chỉnh và kiểm soát ấy”.
Theo Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó
không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic
mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích".



20


1.2.2. Mục đích quản lý công tác xã hội
- Quản lý công tác xã hội nhằm nâng cao trách nhiệm của người nhân viên
trong một tổ chức
Mục đích của quản lý CTXH là khai thác và phát huy cao tinh thần, thái độ
làm việc tự giác, nỗ lực của đội ngũ cán bộ, nhân viên để mang lại ích và chất lượng
phục vụ tốt nhất. đồng thời, nâng cao uy tín, đạo đức nghề nghiệp của nhà quản lý
công tác xã hội
- Quản lý công tác xã hội nhằm nâng cao trách nhiệm của cơ quan tổ chức
các hoạt động xã hội.
Mỗi cá nhân cần làm việc trong một nhóm, một tổ chức nhất định. Họ cần
được hướng dẫn, tạo điều kiện, nhận được sự giúp đỡ của người lãnh đạo và tổ chức
của họ…
Tóm lại mục đích của quản lý công tác xã hội nhằm:
Gắn trách nhiệm của cá nhân với tổ chức và ngược lại.
Làm cho các bên tham gia vào các hoạt động dịch vụ xã hội thực hiện đúng
cam kết của mình trong việc sử dụng đúng các nguồn lực của cơ quan, tổ chức hạy
của các nhà từ thiện một cách hiệu quả
Đảm bảo khả năng giải trình ở cả cấp độ tổ chức và cá nhân các thành viên
trong tổ chức của họ.
1.2.3. Tầm quan trọng của quản lý công tác xã hội
Quản lý công tác xã hội là một tiến trình làm việc với con người bằng cách
phát huy và liên kết năng lực của họ để họ sử dụng tài nguyên sẵn có thực hiện mục
đích cung cấp cho cộng đồng những chương trình và dịch vụ cần thiết.
- Tầm quan trọng thứ nhất: Quản lý CTXH là công cụ giúp cho nhân viên xã
hội thực hành chức năng quản lý tại cơ sở dịch vụ hỗ trợ con người một cách hiệu
quả hơn. Rất nhiều các nhân viên xã hội muốn lựa chọn công việc của nhà quản lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status