Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật từ thực tiễn trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi thị nghè, thành phố hồ chí minh - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ KIM THÚY

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ TRẺ TÀN TẬT
MỒ CÔI THỊ NGHÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số
: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN KHẮC BÌNH

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ
khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè,
Thành phố Hồ Chí Minh” là đề tài nghiên cứu độc lập của riêng tôi,
được đưa ra dựa trên cơ sở tìm hiểu, phân tích và đánh giá công tác xã hội
đối với trẻ khuyết tật tại trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè.
Các số liệu là trung thực và chưa được công bố tại các công trình nghiên
cứu có nội dung tương đồng nào khác.

VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ TRẺ TÀN TẬT MÔ
CÔI THỊ NGHÈ, THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH................................................38

2.1 Giới thiệu chung về trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị nghè. 38
2.2 Thực trạng trẻ em khuyết tật tại Trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi
Thị Nghè, thành phố Hồ Chí Minh ............................................................ 42
2.3 Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại trung
tâm bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè, thành phồ hồ Chí Minh.............. 45
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết
tật tại trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè, thành phố Hồ Chí
Minh ......................................................................................................... 59
Chương 3: BIỆN PHÁP CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI
VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ TRẺ TÀN TẬT VÀ
MỒ CÔI THỊ NGHÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ........................................65

3.1 Định hướng bảo đảm thực hiện công tác xã hội với trẻ khuyết tật . 65
3.2 Các biện pháp nâng cao dịch vụ công tác xã hội đối với Trẻ khuyết
tật từ thực tiễn Trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè, Thành phố
Hồ Chí Minh ............................................................................................... 68
3.3 Khuyến nghị .................................................................................... 74
KẾT LUẬN ..............................................................................................................77
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................78


DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Thống kê số nhân viên và phụ huynh trả lời phỏng vấn....................43
Bảng 2.2: Mức độ đáp ứng nhu cầu về chăm sóc, nuôi dưỡng .........................45
Bảng 2.3: Mức độ đáp ứng nhu cầu ăn, uống, dinh dưỡng ................................47
Biểu đồ 2.1 : So sánh mức độ đáp ứng nhu cầu của trẻ ............................................60


nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đa số người khuyết tật. Một số Bộ,
ngành, địa phương đã tích cực triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ người
khuyết tật trong các lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, dạy nghề và tạo việc làm,
khám chữa bệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật tiếp cận các công
trình công cộng,…
Trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè, thành phố Hồ Chí Minh
là nơi tập trung trẻ tàn tật mồ côi. Tại đây đã thực thi công tác xã hội đối với
trẻ khuyết tật. Tuy nhiên trong thời gian qua, quá trình thực hiện công tác xã
hội cho trẻ em khuyết tật còn nhiều bất cập. Các quy định của pháp luật liên
quan đến công tác xã hội với trẻ em khuyết tật còn thiếu và chưa đồng bộ,
không cụ thể và chưa chú trọng nghiên cứu đề ra các biện pháp cụ thể trong
việc tổ chức thực hiện công tác xã hội. Vì vậy, hiện nay tỉ lệ trẻ em khuyết tật
được học tại các trường, lớp theo mô hình hòa nhập còn thấp; việc tiếp cận các
công trình công cộng của một bộ phận người khuyết tật còn nhiều khó khăn,
trở ngại; còn tồn tại không ít trường hợp người khuyết tật có hoàn cảnh khó
khăn chưa được hưởng chính sách trợ cấp, trợ giúp mặc dù có đủ điều kiện
theo quy định; v.v… Để tất cả trẻ em khuyết tật trên địa bàn được thụ hưởng
những ưu đãi, hỗ trợ mà Đảng, Nhà nước đã cam kết thì việc đánh giá lại công
tác xã hội cho trẻ em khuyết tật để phát hiện những sai sót, bất hợp lí cũng như
những khó khăn trong việc triển khai nhằm đưa ra biện pháp điều chỉnh, xử lí
là một đòi hỏi cấp thiết.
Xuất phát từ thực tế nêu trên, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Dịch vụ
công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật từ thực tiễn trung tâm bảo trợ trẻ tàn
tật mồ côi Thị Nghè, Thành phố Hồ Chí Minh” để làm đề tài luận văn thạc
sĩ của mình. Tôi mong rằng công trình nghiên cứu của bản thân sẽ góp phần
nhỏ bé vào việc hoàn thiện hơn nữa công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại

2


hội. Báo cáo kết quả thực hiện Pháp lệnh về người tàn tật và đề án trợ giúp
người khuyết tật giai đoạn 2006 - 2010 của Bộ Lao động, thương binh và xã
hội năm 2008. [6]
Những Báo cáo trên đã nêu lên kết quả và hạn chế trong việc triển khai
các chính sách hỗ trợ cho người khuyết tật, đồng thời cũng đã chỉ ra được một
số vướng mắc trong quá trình triển khai chính sách. Tuy nhiên, các báo cáo
trên chưa tập trung phân tích sâu những tồn tại trong quá trình triển khai chính
sách nên chưa đưa ra được các giải pháp cụ thể, tập trung để giải quyết những
tồn tại đó. Mặt khác, các Báo cáo trên là tổng hợp tình hình trợ giúp người
khuyết tật trên phạm vi cả nước nên không thể căn cứ vào đó để đánh giá và đề
ra giải pháp cho vấn đề chính sách đối với người khuyết tật trên địa bàn một
tỉnh cụ thể.
Nghiên cứu “Cuộc sống của trẻ em lang thang trên địa bàn Hà Nội” của
tác giả Nguyễn Thanh Bình được lấy kết quả từ điều tra xã hội học về trẻ em lang
thang trên địa bàn Hà Nội vào tháng 3/2009. Nghiên cứu này đã tiến hành khảo
sát 126 trẻ em lang thang, trong đó có 48 em nữ và 78 em nam với các độ tuổi
khác nhau từ 10 đến dưới 18 tuổi. Nghiên cứu đi sâu theo hướng mô tả về thực
trạng đời sống của trẻ em lang thang trên địa bàn thành phố Hà Nội. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, chỗ ở của trẻ em lang thang rất đa dạng, bao gồm mái ấm,
nhà tình thương, nhà ở không mất tiền, nhà trọ, nhiều em phải ngủ tại bến xe, nhà
ga, số khác ngủ tại gia đình đang làm thuê. Công việc của trẻ em lang thang
thường là lao động chân tay, không yêu cầu trình độ và kiến thức. Thu nhập của
các em ở mức thấp và không ổn định. Chi tiêu của trẻ em lang thang chủ yếu cho
những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống ở mức thấp và tiết kiệm. Cuộc sống của
các em rất thiếu thốn, khó khăn. Hoàn cảnh gia đình không được bình thường;
trình độ học vấn thấp; các em dễ bị ảnh hưởng của các tệ nạn xã hội. Tác giả đã
4


đặt ra yêu cầu phải có chính sách an sinh xã hội, những biện pháp hỗ trợ cuộc

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà
nước về chính sách cho người khuyết tật và việc thực thi chính sách cho người
khuyết tật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện bởi các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp
để xử lí tài liệu thu thập được, so sánh thông qua các bảng số liệu và tham khảo
các nguồn tài liệu để làm rõ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận
về trẻ khuyết tật và công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật. Luận văn chỉ ra
những thực trạng công tác xã hội cho trẻ khuyết tật từ thực tiễn trung tâm bảo
trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động
công tác xã hội cho trẻ khuyết tật từ thực tiễn trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật mồ
côi Thị Nghè, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối với gia đình trẻ khuyết tật: Gia đình trẻ khuyết tật được Đảng và
Nhà nước quan tâm bằng việc trợ cấp, trợ giúp đối với Người nuôi dưỡng trẻ
khuyết tật. đồng thời cũng đề cao trách nhiệm của gia đình trong việc chăm sóc
và trợ giúp trẻ khuyết tật. Gia đình trẻ khuyết tật được biết thêm những thông
6


tin liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của gia đình trong công tác chăm sóc
trẻ khuyết tật.
Ngoài ra, luận văn còn góp phần bổ sung nguồn học liệu, tài liệu tham
khảo cho sinh viên khi học tập, nghiên cứu vấn đề liên quan tới người trẻ
khuyết tật và công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục Bảng Biểu, Sơ đồ, Danh mục
Chữ viết tắt và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu theo 3 chương, 16 tiết

- Bản thân mỗi cá nhân cũng là một hệ thống và hệ thống cá nhân này lại
bao gồm các tiểu hệ thống như: hệ thống sinh lý, hệ thống nhận thức, hệ thống
tình cảm, hành động và các hệ thống phản ứng
- Theo Pincus và Minahan (năm 1970) thì hệ thống mà nhân viên CTXH
làm việc là những hệ thống rất đa dạng: gia đình, cộng đồng, hệ thống xã hội,
môi trường văn hoá mà con người hiện đang tồn tại. Ví dụ: đối với học sinh
đang ở độ tuổi vị thành niên, hệ thống được chia thành ba hình thức chính bao

8


gồm: (1) Hệ thống phi chính thức: gia đình, bạn bè (2) Hệ thống chính thức:
trường học (3) Hệ thống xã hội: các tổ chức xã hội.
Các hệ thống luôn có sự tác động lên các cá nhân. Có thể đó là sự tác động
tích cực hoặc tiêu cực. Tuy nhiên sự phân biệt trên chỉ mang tính tương đối vì với
cá nhân này hệ thống trợ giúp có thể là hệ thống chính thức nhưng với cá nhân khác
lại là hệ thống xã hội. Vì thế cách phân chia trên chỉ mang tính tương đối. Hoặc có
thể đối với cá nhân một là hệ thống chính thức, nhưng đối với cá nhân khác đó lại là
hệ thống xã hội.
1.1.2 Lý thuyết hệ thống sinh thái
Thuyết hệ thống sinh thái dựa trên quan điểm của Germain & Gitterman và
Germain (1980) cho rằng con người ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng tới môi
trường. Ngược lại môi trường cũng ảnh hưởng đến con người.
Nguyên tắc cơ bản của sinh thái là mỗi cơ thể sống có quan hệ qua lại liên
túc với các thành phần khác tạo nên môi trường của chúng (những hệ thống sinh
thái là một khoa học khác với khoa học môi trường).
Lý thuyết hệ thống sinh thái được coi như là mô hình về cuộc sống. Mô hình
này chủ yếu được xây dựng trên lý thuyết sinh thái. Mô hình này còn có tên gọi là
“con người trong môi trường” (Person In Environment PIE), trong đó người ta
tác động lẫn nhau và tác động vào môi trường sống. Mục tiêu của CTXH là làm

Trong Công tác xã hội, nếu như nhận thức là cách nhìn nhậ của một người về
một vấn đề nào đó theo hai chiều hướng tích cực hoăc tiêu cực thì trị liệu nhận
thức là phương pháp tác động vào thân chủ làm thay đổi nhận thức tiêu cực của
họ .
Theo các nhà hành vi thì hành vi của con người là một cách trả lời, ứng xử
với một tác nhân kích thích tương ứng. Nhưng trên thực tế thì hành vi của con

10


người còn phức tạp hơn nhiều chứ không phải đơn thuần là do những tác nhân
kích thích. Những nhà tâm lý học cho rằng con người có suy nghĩ rất phức tạp
không thể quan sát và những suy nghĩ này có ảnh hưởng vô cùng lớn đến hành
vi của các nhân. Họ cho rằng nhận thức sai lầm là tâm điểm của những hành vi
sai lầm. Muốn thay đổi hành vi sai lầm, phải tạo ra một mô hình nhận thức mới
hợp lí.
Trị liệu nhận thức là một trường phái tư tưởng với chủ đề chính tập
trung xung quanh khái niệm tư duy. Sự tư duy của cá nhân được định hình bởi
xã hội và hoàn cảnh trực tiếp của người ấy. Trên chiều cạnh này tư duy quyết
định cảm xúc lẫn hành vi. Như vậy việc thực hiện chức năng xã hội của một cá
nhân bị khiếm khuyết thì có nghĩa là tư duy của người ấy không hoàn hảo.
Chính vì vậy, hành vi của con người thay đổi thì phương thức tư duy cũng phải
thay đổi theo. Do vậy, muốn biến đổi hành vi bất thường, phải tạo ra mô hình
nhận thức mới hợp lí. Như vậy vận dụng lí thuyết này vào hoạt động xóa đói
giảm nghèo NVXH phải giúp cho mọi người trong cộng đồng nhận ra những
suy nghĩ không phù hợp của họ sau đó đưa ra những liệu pháp nhằm tạo ra
những mô hình nhận thức mới tích cực hơn từ đó sẽ tạo những hành vi đúng
đắn tương ứng
Vận dụng lý thuyết nhận thức hành vi vào trong hoạt động xóa đói giảm
nghèo: một trong những yếu tố quyết định đến việc giải quyết vấn đề nghèo đói

1.1.4 Lý thuyết nhu cầu
Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn,
nguyện vọng và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức,
môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác
nhau (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia).
Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow được xem là cha đẻ của lý
thuyết nhu cầu. Theo Maslow, nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ tự
12


bậc thang từ thấp tới cao - từ các nhu cầu thiết yếu nhất tới các nhu cầu thứ yếu,
cao hơn. Sự thoả mãn nhu cầu của con người cũng theo các bậc thang đó. Khi con
người thoả mãn được nhu cầu cấp thấp rồi thì sẽ tiến tới thoả mãn các nhu cầu cấp
cao hơn:
Nhu cầu cơ bản:bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người đây là các
nhu cầu phục vụ cho mục đích sinh tồn như: ăn, uống, ngủ, không khí để thở,
tình dục,…đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người.
Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi
những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn.
Nhu cầu về an toàn: Nhu cầu an toàn này thể hiện ở mặt thể chất và tinh
thần. Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các
nguy hiểm. Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp
khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gây hấn, đe
dọa….
Nhu cầu về xã hội:Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn
thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó hoặc nhu cầu về tình cảm, tình
thương. Nếu nhu cầu này không được thoả mãn, đáp ứng, nó có thể gây ra các
bệnh trầm trọng về tinh thần, thần kinh.
Nhu cầu tôn trọng:Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng vì nó thể
hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành

Tiếp cận dựa trên quyền của trẻ là cách tiếp cận cung cấp các dịch vụ đảm bảo
trẻ em được thực hiện đầy đủ các nhóm quyền của trẻ em. Trong Luật Bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em thì quyền trẻ em bao gồm 10 nhóm quyền cơ bản:
Quyền được khai sinh và có quốc tịch; Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng; Quyền
được sống chung với cha mẹ; Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, than thể,

14


nhân phẩm và danh dự; quyền được chăm sóc sức khỏe; quyền được học tập; quyền
được vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịc;
Quyền được phát triển năng khiếu; Quyền được có tài sản; Quyền được tiếp cận
thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia các hoạt động xã hội. Theo công ước Liên hợp
quốc thì quyền trẻ em được chia làm 4 nhóm quyền cơ bản là: Quyền được sinh
tồn; quyền được bảo vệ; quyền được phát triển; quyền được tham gia.
Việc tiếp cận dựa trên quyền sẽ giúp đảm bảo quyền của trẻ em nhóm yếu thế
được quan tâm thực thi nhiều hơn. Như vậy sẻ mang lại sự công bằng trong xã hội.
Từ đó sẽ góp phần vào việc tang cường sức mạnh cho các tổ chức địa phương,
cộng đồng và các nhóm. Đây là nền tảng cho sự phát triển bền vững.[28, tr.138]
1.2 Một số khái niệm cơ bản
* Khái niệm trẻ khuyết tật
Theo Công ước về quyền của người khuyết tật được định nghĩa như sau:
“ Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí
tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt
những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết
tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác.”
Ở một số quốc gia, người khuyết tật được hiểu là người: “mất khả năng
về nhìn, nghe, nói hoặc về thể chất, mất khả năng về trí não, rối loạn tâm thần,
khuyết tật bị đa tật hoặc các dạng khuyết tật khác”.
Ở Mỹ định nghĩa người khuyết tật “là người có sự suy yếu về thể chất

chức năng nhất định gây nên những khó khăn đặc thù trong các hoạt động học
tập, vui chơi và lao động.
Trẻ có thể bị khuyết tật ở những bộ phận và chức năng khác nhau, với
mức độ khác nhau rất đa dạng. Tuy nhiên có thể tạm chia ra thành 2 nhóm
16


khuyết tật. Thứ nhất là nhóm trẻ bị khuyết tật về các bộ phận trên cơ thể con
người gây tổn thương về tai, mắt, chân, tay…với những biểu hiện như khiếm
thính, khiếm thị hay khuyết tật vận động… Thứ hai, nhóm trẻ khuyết tật về trí
tuệ do bị tổn thương ỏ não bộ, gây khó khăn trong việc nhận thức và hoạt động
nhận thức với các biểu hiện như động kinh, bại não hay hay rối loạn tâm thần
như (tự kỷ, tăng động giảm chú ý, trầm cảm…)
Như vậy trẻ em khuyết tật nói chung rất đa dạng về hình thức và phong phú
về mức độ biểu hiện; còn khuyết tật trí tuệ nói riêng là một khái niệm rộng.
* Phân loại trẻ khuyết tật
Bại não: Là rối loạn vận động và tư thế do tổn thương ở não bộ gây ra.
Bại não không diễn tiến nặng hơn nhưng lại có nhiều biến chứng như co rút các
khớp, vẹo cột sống, bệnh lý do nằm lâu: loét da, viêm phổi…
Các kiểu bại não: -Bại não gồng cứng tứ chi
- Bại não yếu liệt nửa người
- Bại não gồng cứng 2 chi dưới
- Bại não múa vờn
- Bại não thất điều( mất thăng bằng)
- Bại não dạng phối hợp
Trị liệu: Tập vật lý trị liệu để giúp phát triển vận động và ngăn ngừa các
biến chứng
Gíao dục đặc biệt: nếu trẻ có chậm phát triển trí tuệ đi kèm theo
Điều trị bằng thuốc trong một số trường hợp như có động kinh đi
kèm, gồng cứng quá nhiều…



động lập đi lập lại: gật gù, lắc lư thân người, xoay người, chơi tay, lắc tay…và
nhiều khi chống lại các thay đổi: ví dụ: trẻ chỉ thích đi một con đường, hay chỉ
thích xem một chương trình tivi, hay thích sắp xếp đồ đạc theo một thứ tự nào
đó, nếu chỉ cần thay đổi các trật tứ này là trẻ sẽ lên cơn nổi giận la hét tự đánh
mình hay đánh người khác.
Trị liệu: Gíao dục đặc biệt
Hành vi liệu pháp : Phương pháp phân tích hành vi áp dụng ( ABA)
Trẻ bị di chứng sốt bại liệt: Thường bị teo cơ một bên hoặc hai bên kèm
theo yếu cơ, các trẻ này vẫn có khả năng về trí tuệ, nhưng cũng thường bị thiếu
tự tin, mặc cảm do bị khuyết tật, do bị giới hạn trong vận động.
Trị liệu: Tập vật lý trị liệu, mang giày nẹp tùy trường hợp, ngăng ngừa
các biến chứng vẹo cột sống, hỗ trợ về tâm lý: Gia tăng lòng tự tin, nhìn nhận
tốt về hình ảnh bản thân, đươc hỗ trợ nghề nghiệp phù hợp.
Trẻ bị khiếm thính: Có thể mất khả năng nghe hoàn toàn hay còn một phần,
nếu sự suy kém thính giác xảy ra sớm, trẻ sẽ có khó khăn về ngôn ngữ, do sự
giới hạn trong việc tiếp nhận thông tin nên trẻ cũng khó khăn trong việc diễn
đạt, kèm theo bị đối xử phân biệt điều này dễ làm cho trẻ ấm ức khó chịu.
Trị liệu: Gíao dục đặc biệt dành cho trẻ khiếm thính, máy trợ thính
Trẻ khiếm thị: Có thể không nhìn thấy hoàn toàn hay còn nhìn thấy một
phần.Do bị giới hạn tiếp nhận thông tin qua thị giác nên cũng làm cho trẻ bị
giới hạn trong việc tương tác với môi trường .Các trẻ này thường có khả năng
tốt về thính giác và khối hình tri giác( có khả năng âm nhạc và khả năng nhận
biết hình dạng đồ vật thông qua cảm giác lòng bàn tay).
Trị liệu và hỗ trợ: Chữ nổi, từ điển sách nói, âm nhạc, gia tăng lòng tự
tin, đánh giá đúng giá trị bản thân, nghề nghiệp phù hợp.
19



trọng, là người biện hộ để cá nhân, gia đình trẻ khuyết tật được hưởng các
chính sách an sinh xã hội dành cho họ. Trên cơ sở đó, giúp người khuyết tật
nâng cao chức năng của mình.
Từ định nghĩa về CTXH chúng ta có thể hiểu : “CTXH với NKT tật là
họat động chuyên nghiệp của nhân viên CTXH giúp đỡ NKT tăng cường hay
khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ, huy động nguồn lực, xác
định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ NKT, gia đình và cộng đồng triển khai
hoạt động chăm sóc trợ giúp một cách hiệu quả, vượt qua những rào cản, đảm
bảo sự tham gia đầy đủ vào hoạt động xã hội trên nền tảng sự công bằng như
những người khác trong xã hội”
1.3.2 Khái niệm dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật

 Dịch vụ xã hội (DVXH): là hoạt động cung cấp, đáp ứng nhu cầu cho
các cá nhân, nhóm người nhất định nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã
hội. Bên cạnh cách hiểu trên, một cách hiểu khác nhìn từ vai trò của người
cung cấp dịch vụ và đối tượng khách hàng cho rằng: DVXH là các dịch vụ do
nhà nước, tập thể cung cấp cho thành viên xã hội. Tuy nhiên, cách hiểu này ít
nhiều “máy móc”, thiếu tính bao quát và cũng không phổ biến. DVXH cho
nhóm yếu thế là các hoạt động có chủ đích của con người nhằm phòng ngừa,
hạn chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cơ bản và thúc đẩy
khả năng hoà nhập cộng đồng, xã hội cho nhóm đối tượng yếu thế.

 Dịch vụ CTXH đối với trẻ em gồm cung cấp chỗ ở, thức ăn, bảo vệ trẻ
em, cho đi học,, khám chữa bệnh, hoạt động vui chơi giải trí, quản lý ca, chăm
sóc thay thế và hỗ trợ tâm lý. Trên thế giới, việc bảo vệ chăm sóc trẻ em được
thực hiện bởi những trung tâm CTXH , cơ sở trợ giúp trẻ em và một phần ủy
quyền cho các tổ chức phi chính phủ như mô hình trị liệu tập trung hướng tới
gia đình và Mô hình hướng tới an sinh trẻ em. Việt Nam có mô hình chăm sóc

21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status