VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN DŨNG
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI CHÁNH
PHÚ HÒA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THỊ VÂN HẠNH
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho phép em được gửi lời cảm ơn chân thành đến: Bộ Lao động
- Thương binh và Xã hội, Cục Bảo trợ xã hội, Học viện Khoa học Xã hội, Tổ chức
UNICEF, Học viện Xã hội Châu Á, cơ sở học viện tại thành phố Hồ Chí Minh,
trường Đại học Lao động Xã hội cơ sở 2 tại thành phố Hồ Chí Minh. Các thầy, cô
giáo: PGS.TS. Bùi Thị Xuân Mai, TS. Hà Thị Thư… các thầy, cô giáo của trường
Đại học Asi( Philippin ). Đặc biệt là Cô giáo: PGS. TS. Nguyễn Thị Vân Hạnh đã
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành tốt luận văn trong thời gian qua.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Sở Lao động Thương binh Xã hội
Thành phố Hồ Chí Minh, Ban lãnh đạo Trung tâm Bảo trợ xã hội Chánh Phú hòa,
các đồng nghiệp trong đơn vị đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được
Bảo Trợ Xã Hội Chánh phú Hòa ................................................................................... 222
1.3. Cở sở pháp lý về Công tác xã hội trong dịch vụ đối với người cao tuổi………….
329
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ Công tác xã hội đối với người cao tuổi 292
Chương 2:THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC CUNG CẤP
CÁC DỊCH VỤ CHO NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ
HỘI CHÁNH PHÚ HÒA ............................................................................................. 377
2.1. Khái quát về tình hình kinh tế, xã hội thành phố Hồ Chí Minh và tình hình
Trung tâm Bảo Trợ Xã Hội Chánh Phú Hòa ............................................................... 377
2.2. Thực trạng người cao tuổi và dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi
tại Trung tâm Bảo Trợ Xã Hội Chánh Phú Hòa .......................................................... 455
Chương 3: BẢO ĐẢM DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI
CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI CHÁNH PHÚ HÒA ....... 70
3.1. Định hướng………………………………………………………………………..70
3.2. Giải
pháp
………………………………………………………………………….704
KẾT LUẬN ..................................................................................................................... 799
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................. 822
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTXH
NVCTXH
Nhân viên công tác xã hội
NXB
Nhà xuất bản
TC
Thân chủ
TPHCM
Thành phố Hồ Chí Minh
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
UBND
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Những khó khăn của NCT ...................................................................... 488
Bảng 2.2: Mức độ hiệu quả của sự hỗ trợ ................................................................. 52
Bảng 2.3: Đánh giá cung cấp thức ăn tại Trung tâm............................................... 554
Bảng 2.4: Sức khỏe của NCT .................................................................................. 575
thiệt thòi về thể chất, tinh thần, tích cực hòa nhập cộng đồng là những hoạt động có
tính nhân văn sâu sắc, biểu hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc là trách nhiệm của
mỗi người, mỗi gia đình, tổ chức kinh tế, xã hội và các cấp chính quyền. Nhà nước
đã kịp thời tổ chức nghiên cứu, ban hành các chính sách, chế độ, đồng thời đề ra
nhiều chủ trương, biện pháp, đặc biệt đã tổ chức nhiều phong trào hoạt động sâu
rộng trong nhân dân nhằm chăm sóc và giúp đỡ người cao tuổi.
Và để bù đắp phần nào trong đời sống người cao tuổi gặp khó khăn, các dịch
vụ chăm sóc còn hạn chế trong chăm sóc sức khỏe, tinh thần cho người cao tuổi và
các nhóm yếu thế, trong đó có những người cao tuổi không nơi nương tựa, các trung
1
tâm bảo trợ xã hội trên khắp cả nước đã ra đời. Trong đó, Trung Tâm Bảo trợ xã hội
Chánh Phú Hòa là một trong những đơn vị điển hình thực hiện tốt vai trò đó. Trung
tâm thực hiện nhiệm vụ: tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục dạy
nghề, hòa nhập cộng đồng cho đối tượng xã hội gồm: người cao tuổi cô đơn không
nơi nương tựa, người khuyết tật và trẻ mồ côi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, lao
động nam và nữ..
Là một người quản lý công tác xã hội có thời gian gắn bó với Trung tâm hơn
hai mươi mốt năm tôi mong muốn được đóng góp thật nhiều tâm huyết của mình
vào việc đưa chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đến với cuộc sống của
đối tượng bảo trợ xã hội nói chung và đối tượng người cao tuổi cô đơn không nơi
nương tựa nói riêng, đảm bảo chất lượng cuộc sống của họ ngày càng tốt hơn, giúp
họ an tâm gắn bó những ngày còn lại của cuộc đời với trung tâm, góp phần vào việc
phát triển nghề Công tác xã hội, đảm bảo an sinh xã hội, xây dựng đất nước ngày
càng giàu mạnh.
Xuất phát từ những lý do trên, trước tình hình đặc thù của TP.HCM đã đề
cập, tác giả mong muốn đóng góp thông qua việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá,
so sánh các hệ thống cung cấp dịch vụ công tác xã hội của các cấp, các ngành và địa
phương so với thực tiễn ứng dụng hoạt động công tác xã hội nhằm đưa ra những
tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến lạc hậu về thời cuộc và cô đơn trong cuộc sống
của người cao tuổi.”
Công trình nghiên cứu “Một số vấn để cơ bản về người cao tuổi ở Việt
Nam giai đoạn 2011 - 2020” của Ts. Lê Ngọc Lân - Viện nghiên cứu Gia đình và
giới - Viện Khoa học xã hội Việt Nam đã đề cập tới một số nội dung như: khái
niệm, các cách tiếp cận nghiên cứu về người cao tuổi, kinh nghiệm nghiên cứu
người cao tuổi ở các nước và quan điểm của Đảng về người cao tuổi, một số vấn đề
cơ bản về đời sống của người cao tuổi hiện nay, một số vấn đề trong chăm sóc
người cao tuổi trong các gia đình, cộng đồng và xã hội. Đồng thời, đề tài cũng là cơ
sở thực tiễn để điều chỉnh chính sách nhằm phát huy hơn nữa vai trò của người cao
tuổi và chăm sóc người cao tuổi tốt hơn trong giai đoạn 2011 – 2015.
Theo công trình“Tiếp cận văn hóa người cao tuổi” của Tiến sĩ Nguyễn
Phương Lan: “Người cao tuổi chuyển đổi từ môi trường hoạt động tích cực sang
3
môi trường nghĩ ngơi hoàn toàn. Với thời gian rỗi qua nhiều trong khi sức khỏe
ngày càng kém đi đã khiến cho họ rơi vào trạng thái tâm lý cô lập với thế giới xung
quanh, đòi hỏi cần có nhu cầu giao tiếp mãnh liệt. Do kinh nghiệm sống của các cụ
nhiều khi hơn lớp trẻ, được tiếp xúc với nhiều nên văn hóa mang tính truyền thống.
Tác giả đã nhận định đối với các cụ trong đời sống hiện nay thì nhu cầu giao tiếp
xã hội, với con người ta là quan trọng nhất. Vì khi về tuổi già họ luôn có xu hướng
mặc cảm bản thân, chán nản, hay giận dỗi không kiềm nén được cảm xúc bản
thân… do đó ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ giữa mọi người xung quanh.
Dựa trên đặc điểm này ta có thề tìm ra các biện pháp can thiệp để cải thiện tình
trạng giao tiếp theo chiều hướng tốt nhất.
Đề tài nghiên cứu khoa học: “Nhu cầu quan hệ của người già cô đơn,
không nơi nương tựa tại trung tâm bảo trợ xã hội và vai trò can thiệp của nhân
viên công tác xã hội” của Khoa Xã hội học Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn Hà Nội đã đề cập đến người già cô đơn, không nơi nương tựa tại Trung
chưa đề cập đến một số phương pháp để người cao tuổi ở tại các cơ sở mái ấm
không thể vận động được có cách chăm sóc sức khỏe mình tốt hơn. Cuối cùng cuốn
sách đã nhắc đến vấn đề tinh thần nhưng chưa đi sâu vào cách chăm sóc đời sống
tinh thần như thế nào phù hợp. Từ đó công trình đã đưa ra được một số giải pháp
như: tăng cường các hoạt động phục vụ đời sống tinh thần cho Người cao tuổi;
Thường xuyên tổ chức các hoạt động cung cấp dịch vụ; xây dựng cơ sở phù hợp
chăm sóc người cao tuổi; Nâng cao trình độ nhân viên công tác xã hội và đội ngũ y,
bác sĩ tại các cơ sở.
Theo kết quả khảo sát của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, năm 2012 có trên
58% số người từ 60-69 tuổi cho rằng, sức khỏe của họ là yếu. Tỷ lệ này tăng nhanh
theo tuổi tác. Ở nhóm tuổi từ 70-79, con số này tăng lên 68,4% và từ 80 trở lên, con
số này tăng lên gần 75%. Chỉ 6,3% người từ 60-69 tuổi tự đánh giá sức khỏe của họ
là tốt; tỷ lệ này ở nhóm người từ 70 tuổi trở lên còn thấp hơn nhiều, chỉ là 3,7%.
Điều này cũng cho thấy, việc chăm sóc sức khỏe đối với nhóm NCT là rất cần thiết
và chi phí cho việc chăm sóc sức khỏe của họ cũng tăng cao so với nhóm các nhóm
tuổi khác. Sức khỏe yếu cũng là lý do chính để NCT không thể làm việc được,
không tự tạo được thu nhập đảm bảo cuộc sống của bản thân. Do vậy, cần thiết
5
nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác trợ giúp xã hội đối với NCT, đặc biệt đối
với NCT thuộc nhóm tuổi 75-80 chưa được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng. Qua
đó, thấy được những tác động tích cực, những tồn tại và nguyên nhân để đưa ra
được những khuyến nghị nhằm tăng cường công tác trợ giúp xã hội đối với NCT.
“Tìm hiểu đời sống người cao tuổi ở Mái ấm tình thương Chùa Diệu pháp”,
đăng trên website chuadieuphap.com.vn là một đề tài gần gũi nhất với đề tài mà chúng tôi
đang nói đến. Đề tài đã cho chúng ta thấy được thực trạng đời sống của người cao tuổi tại
Mái ấm tình thương Chùa Diệu Pháp trên tất cả các mặt: chế độ dinh dưỡng, chế độ sinh
hoạt, điều kiện chăm sóc sức khỏe, sự quan tâm của cán bộ quản lý, của nhân viên phục vụ.
Ngoài ra đề tài còn đề cập đến một số đặc điểm tâm lý điển hình của những người cao tuổi
các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động này tại Trung tâm.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn tập trung
giải quyết những nhiệm vụ sau:
Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về NCT và CTXH, dịch vụ CTXH, chính sách.
pháp luật của Việt Nam đối với NCT tại Trung tâm bảo trợ xã hội.
Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý và những khó khăn trong việc đáp
ứng nhu cầu đối với đối tượng người cao tuổi tại Trung tâm.
Đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội trợ
giúp đối với NCT nhằm nâng cao năng lực cho NCT trong việc tham gia, khám
chữa bệnh ban đầu, phục hồi chức năng, giáo dục – dạy nghề, hòa nhập cộng đồng
tham gia các hoạt động xã hội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi tại Trung tâm bảo trợ xã hội
Chánh Phú Hòa Thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Đề tài được triển khai nghiên cứu đối với các khách thể là người cao tuổi
đang được nuôi dưỡng tại Trung tâm Bảo trợ xã hội Chánh Phú Hòa, các nhân viên
bảo trợ và lãnh đạo Trung tâm.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
7
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Trung tâm Bảo trợ xã hội Chánh Phú
Hòa số Km 16, đường ĐT 741 – khu phố 1b, phường Chánh Phú Hòa, thị xã Bến
Cát, tỉnh Bình Dương,trực thuộc Sở LĐTB&XH TP.HCM. Thực trạng hoạt động
cung cấp dịch vụ CTXH đối với người cao tuổi tại TTBTXH Chánh Phú Hòa được
nghiên cứu từ những góc độ sau: Việc triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ cho
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu dựa trên quan điểm, lập trường của chủ nghĩa Mác-Lê nin, cụ thể
là chủ nghĩa duy vật biện chứng, nghĩa là nghiên cứu chính sách xã hội tác động tới
đời sống NCT neo đơn phải đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với các chính
sách xã hội đối với các giai cấp, các tầng lớp các nhóm xã hội khác nhau. Đồng
thời, nghiên cứu phải dựa trên quan điểm duy vật lịch sử, nghĩa là vấn đề nghiên
cứu phải đặt ra được những hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể. Quá trình nghiên
cứu phải đảm bảo căn cứ trên cơ sở điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của từng giai
đoạn.
Nghiên cứu phải giữ vững lập trường quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh,
được cụ thể hóa bằng các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng Cộng sản
Việt Nam, Nhà nước Việt Nam trong các chính sách xã hội nói chung, chính sách
an sinh xã hội, bảo trợ xã hội nói riêng. Mọi chính sách của Đảng và Nhà nước ta
đều nhằm mục đích phát triển kinh tế, ổn định, tạo sự công bằng xã hội mà nhất là
với những đối tượng người yếu thế trong xã hội. Phải dựa trên lập trường của giai
cấp công nhân, đó là lập trường cách mạng triệt để, là lập trường kiên quyết đấu
tranh, lập trường cách mạng thể hiện được yêu cầu, nguyện vọng cơ bản của quần
chúng nhân dân.
Người cao tuổi là đối tượng cần được xã hội quan tâm nên khi đi vào nghiên
cứu chính sách xã hội về các đối tượng này chúng ta phải xác định trước hết vì nhân
tố phát triển con người, đảm bảo các nhu cầu chính đáng của đối tượng từ đó góp
phần vào phát triển xã hội.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Mẫu điều tra được tiến hành trên nhóm đối tượng là Người cao tuổi và được
điều tra tại các khu nhà ở dành cho đối tượng cao tuổi tại Trung tâm.
9
Số lượng mẫu nghiên cứu là 70 đối tượng, theo phương pháp chọn mẫu ngẫu
CTXH tại Trung tâm, một lãnh đạo tại Trung tâm, người đảm nhiệm công tác quản
lý NCT tại Trung tâm và các ban ngành có liên quan.
Phương pháp quan sát: là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu
xã hội học thực nghiệm thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập các thông
tin từ thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Trong đề tài này tác giả sử dụng phương pháp này nhằm thu thập, bổ sung
thông tin còn thiếu và kiểm tra đối chiếu, so sánh các thông tin từ việc quan sát để
đánh giá độ tin cậy của các thông tin thông qua việc quan sát bối cảnh sống, thái độ,
thể trạng... của người được điều tra. Cũng thông qua đó hình thành được câu trả lời
đầy đủ và có được những thông tin chính xác cho bảng hỏi cũng như bảng phỏng
vấn sâu. Cụ thể đề tài tập trung quan sát các hoạt động công tác xã hội hoặc các
hoạt động mang tính chất CTXH. Quan sát về môi trường, không gian sống của
NCT. Quan sát về thể chất, thái độ giao tiếp và trạng thái tâm lý của đối tượng khảo
sát với người điều tra, nhằm xác định xem họ có gặp phải những vấn đề khó khăn
về sức khỏe, tâm lý hay không…
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài luận văn làm phong phú thêm hệ thống lý thuyết nghiên cứu dịch vụ
CTXH đối với NCT. Trong đó gồm các khái niệm NCT; NCT cô đơn; CTXH;
CTXH đối với NCT; dịch vụ; dịch vụ CTXH. Luận văn chỉ ra những vấn đề lý luận
chính về dịch vụ CTXH đối với NCT cũng như vai trò nhiệm vụ của nhân viên
CTXH. Kết quả nghiên cứu lý luận góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về dịch
vụ CTXH đối với NCT đang được nuôi dưỡng tại TTBTXH Chánh Phú Hòa vào
trong nội dung lý luận của CTXH ở khía cạnh hỗ trợ các dịch vụ xã hội cho NCT.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu hoạt động dịch vụ CTXH tại trung tâm bảo trợ xã hội là một việc
làm vô cùng cần thiết và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng thể hiện tinh thần nhân văn
sâu sắc. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức, thực hiện, công tác này gặp rất nhiều
khó khăn. Với luận văn này tôi mong muốn sẽ cung cấp những thông tin cụ thể về
1.1.1 Người cao tuổi, Người cao tuổi cô đơn
Già là một giai đoạn trong cuộc đời của mỗi con người. Để đi đến cách hiểu
thống nhất về khái niệm, trước tiên cần có sự thống nhất về cách gọi lớp người
nhiều tuổi trong xã hội. Trong tiếng Việt và trong đời sống thực tế, để gọi lớp NCT,
người Việt Nam sử dụng nhiều tên gọi khác nhau như “ Lão”, “Cụ”. Ngoài những
từ phổ biến đó ra, ở Việt Nam còn có nhiều từ khác dùng để gọi người già bao gồm
cả từ thuần Việt và từ Hán Việt như “Bà”, “Bủ”…Mỗi từ này đều mang một sắc
thái, ngữ nghĩa khác nhau và đề hàm chứa tinh thần kính trọng đối với người già .
Hiện nay, nhiều nước trên thế giới và một số tổ chức quốc tế, cũng như ở
Việt nam đã dùng danh từ “Người cao tuổi” thay cho “Người già”. Cụm từ “Người
cao tuổi” bao hàm sự kính trọng, sự động viên hơn so với cụm từ “Người già”.Tuy
nhiên, về mặt khoa học thì thuật ngữ “Người già” hay “ Người cao tuổi” đều được
dùng với ý nghĩa tương tự như nhau.
Trên cơ sở thống nhất về tên gọi, để đánh giá đúng thực trạng NCT cần
thống nhất hiểu thế nào là NCT? Theo quan điểm y học, sự già hóa có đặc điểm vừa
chung mọi người, vừa riêng mỗi người không có một ngưỡng tuổi già duy nhất như
nhau. Nhưng nhìn chung xét theo y học thì “Đã lão hóa thực thể sống”. Xét theo
tâm lý học là “Cảm nhận về tri giác sáng tạo đã cạn nguồn”. Còn xét theo vận động
cơ học thì “đã vào thời kỳ di chuyển chậm, kém thích ứng xã hội”.
Quan niệm về tuổi già cũng phụ thuộc vào tập quán và mang tính địa
phương. Việc xác định độ tuổi để quan niệm rõ thế nào là NCT có ý nghĩa rất quan
trọng vì nó phụ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật. Hội NCT Việt Nam qui
định hội viên nam 55 tuổi trở lên, nữ 50 tuổi trở lên. Bộ luật lao động lại qui định
lao động nam 60 tuổi trở lên và nữ 55 tuổi trở lên được nghỉ hưởng chế độ hưu trí.
Theo qui ước của Liên Hiệp Quốc “Những người từ 60 tuổi trở lên không
phân biệt giới tính là người già” và chia làm hai nhóm tuổi:
13
- Tuổi từ 60- 74 là NCT.
tuổi già lao động của mỗi người có thể khác nhau tùy theo tính chất công việc và
điều kiện lao động của họ.
Người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa:
Với NCT cô đơn, không nơi nương tựa, thành viên từ gia đình của họ hầu
như không hợp tác. Do vậy, thay thế vào đó là đại diện từ những tổ chức, ban ngành
chức năng hay các tổ chức xã hội. Các đại diện từ cơ quan y tế, giáo dục, tư pháp,
ngành lao động… sẽ tham gia khi TC có những nhu cầu liên quan tới ngành của
mình.
Là những người từ đủ 60 tuổi trở lên, sống độc thân, NCT còn vợ hoặc
chồng nhưng già yếu, không có con cháu, người thân thích để nương tựa.(BTXH
theo số 136/2013/NĐ-CP, ngày 21 tháng 10 năm 2013 Nghị định Chính phủ).
1.1.2. Công tác xã hội, công tác xã hội đối với người cao tuổi
Có nhiều khái niệm về CTXH được đưa ra ở các góc độ khác nhau:
Theo từ điển Bách khoa ngành CTXH (1995) có ghi “CTXH là một khoa học
ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những chuyển
biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội”.
CTXH ở Việt Nam cũng được các tác giả xem xét từ những khía cạnh khác
nhau điển hình có tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng: CTXH là hoạt động thực tiễn,
mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương pháp hỗ
trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề. CTXH theo đuổi mục tiêu vì
phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội’’
Và như vậy ta có thể hiểu một cách chung nhất theo như định nghĩa của
PGS.TS. Bùi Thị Xuân Mai: “CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp
nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu
cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính
sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và
phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội”.
Khái niệm CTXH đối với người cao tuổi
Dịch vụ được hiểu theo nhiều cách khác nhau và gắn liền với quá trình phát
triển xã hội. Theo Đại từ điển tiếng Việt: dịch vụ là công việc phục vụ cho đông đảo
16
dân chúng (Nguyễn Như Ý, 1999, , NXB Văn hóa, Đại từ điển tiếng Việt). Tác giả
Trần Hậu, Đoàn Minh Huấn (2012) cho rằng dịch vụ là những hoạt động lao động
mang tính xã hội tạo ra các sản phẩm hàng hóa tồn tại dưới hình thái vô hình nhằm
thỏa mãn các nhu cầu sản xuất và đời sống của con người.
Khái niệm dịch vụ xã hội
Tác giả Trần Hậu, Đoàn Minh Huấn (2012) cũng xem DVXH là những dịch
vụ đáp ứng nhu cầu cộng đồng và cá nhân nhằm phát triển xã hội, có vai trò đảm
bảo hạnh phúc, phúc lợi và công bằng xã hội, đề cao tính nhân văn, vì con người, là
hoạt động mang bản chất kinh tế-xã hội, do Nhà nước, thị trường hoặc xã hội dân sự
cung ứng tùy theo tính chất thuần công, không thuần công hay tư của từng lĩnh vực
dịch vụ, bao gồm các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, văn hóa,
thông tin, thể dục thể thao và các trợ giúp xã hội khác. Theo các tác giả, DVXH có
đặc điểm sau:
Là loại dịch vụ nhằm mục tiêu phát triển xã hội có tính chất xã hội. DVXH
tồn tại nhằm đảm bảo giá trị chuẩn mực xã hội, hỗ trợ cho các thành viên trong xã
hội phòng ngừa rủi ro, hạn chế rủi ro.
Do cơ quan nhà nước, thị trường hoặc xã hội thực hiện.
Luôn bị điều tiết bởi giá trị đạo đức, giá trị văn hóa, nhân sinh, trách nhiệm
xã hội của Nhà nước, doanh nghiệp hoặc tư nhân.
Mọi người dân đều có quyền hưởng dịch vụ không tính việc đóng thuế bao
nhiêu.
Là dịch vụ thiết yếu với người dân.
Dịch vụ xã hội có loại dịch vụ công hay dịch vụ tư nhân. Nếu là dịch vụ công
thì tất cả mọi người đều có quyền được hưởng. Nếu là loại dịch vụ không thuần
công (dịch vụ tư) thì tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng chi trả của cá nhân.
Do vậy, việc đào tạo CTXH tại các trường đại học gắn với/hướng đến việc
chuyên nghiệp hóa các dịch vụ CTXH trong thực tiễn là một định hướng mang tầm
vóc thời đại, chuyên môn hóa và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực CTXH tại Việt
Nam. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đào tạo gắn với chuyên nghiệp DVCTXH, sự
chuyên nghiệp các DVCTXH cho các nhóm đối tượng yếu thế ở Việt nam có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn.
18
DVCTXH đối với các nhóm đối tượng yếu thế chính là việc cung cấp các
hoạt động là việc cung cấp các hoạt động mang tính chất phòng ngừa – khắc phục
rủi ro và hòa nhập cộng đồng cho các nhóm đối tượng yếu thế dựa trên các nhu cầu
cơ bản của họ nhằm đảm bảo các giá trị và chuẩn mực xã hội
DVCTXH góp phần thực hiện nhiều vai trò như: nâng cao chất lượng cuộc
sồng cho người yếu thế; đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội; tạo nhiều cơ hội tiếp
cận dịch vụ cho người yếu thế; phát triển cơ hội cho nhà chuyên môn; tạo môi
trường gần gũi giữa các nhà hoạt động trong lĩnh vực xã hội; giữ gìn và phát huy
bản sắc tốt đẹp đồng thời xóa đi những hủ tục, thói quen thiếu lành mạnh của công
đồng
Xuất phát từ những lý luận và thực tiễn đáp ứng của DVCTXH, chúng ta có
thể nhận thấy DVCTXH thực hiện các vai trò sau:
Thứ nhất, với tính chất là phục vụ con người thì DVCTXH đã góp khá lớn
vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người, nhất là người yếu thế, giúp
họ thay đổi cuộc sống, vượt qua khó khăn về thể chất, tinh thần và xã hội để hòa
nhập cuộc sống;
Thứ hai, DVCTXH góp phần ổn định xã hội và tạo ra nhiều cơ hội giáo dục,
việc làm… cho các đối tượng yếu thế/ khó khăn, góp phần giảm đi các vấn đề để lại
do nghiện ma túy, bán dâm, buôn bán, bạo lực, giảm đi tỉ lệ nghèo đói, thất nghiệp,
vô gia cư,… gây ra/tạo ra;
Thứ ba, DVCTXH góp phần lớn thực hiện, triển khai các chính sách xã hội