Công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi từ thực tiễn trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh quảng ninh - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG VĂN HỒI

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI
TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. LÊ THỊ QÚY

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận văn của mình được thực hiện dựa vào hiểu biết và
quá trình tìm tòi, cố gắng, thực hiện của bản thân cùng sự hướng dẫn của
GS.TS. Lê Thị Quý. Công trình nghiên cứu của tôi không sao chép của bất
kỳ cá nhân hay tổ chức nào. Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung
thực và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 22 tháng 6 năm 2016
Học viên thực hiện

Hoàng Văn Hồi

KẾT LUẬN .................................................................................................................. 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 69
PHỤ LỤC ...................................................................................................................... 72


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ, cụm từ viết tắt

Nghĩa của từ, cụm từ

BTXH

Bảo trợ xã hội

CTXH

Công tác xã hội

NCT

Người cao tuổi

NVCTXH

Nhân viên công tác xã hội

NVXH

Nhân viên xã hội



32

2.4

Phân bố theo giới tính của người cao tuổi tại Trung tâm

32

2.5

Hoàn cảnh gia đình của người cao tuổi tại Trung tâm

33

2.8

Bảng đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của thân chủ

47

2.9

Xây dựng bảng kế hoạch trị liệu cho thân chủ

48


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ


2.10

Mô hình can thiệp của nhân viên CTXH

50

2.11

Mô hình hỗ trợ nguồn lực cho thân chủ

54


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam được đánh giá là một nước trong đó số người cao tuổi có xu hướng
tăng nhanh. Theo dự báo, Việt Nam sẽ là quốc gia có dân số già vào năm 2020.
Chính vì thế việc đối mặt với vấn đề già hóa dân số và tìm những biện pháp làm
giảm đi những ảnh hưởng tiêu cực của vấn đề già hóa dân số đang được Đảng và
Nhà nước ta quan tâm. Thực tiễn cho thấy sự già hóa dân số có những tác động to
lớn đến sự phát triển kinh tế, giáo dục, văn hóa… và đặc biệt là hệ thống an sinh xã
hội của quốc gia. Vậy an sinh xã hội sẽ làm gì và làm như thế nào trước vấn đề đó?
Đây chính là vấn đề cần nghiên cứu, trao đổi, bàn bạc cụ thể trong nhiều cơ quan,
nhiều tổ chức xã hội. Ở Việt Nam, công tác xã hội đang được xem là một lĩnh vực
quan trọng trong việc tăng cường an sinh xã hội và hỗ trợ cho sự phát triển, tăng
trưởng nhanh và bền vững hoạt động công tác xã hội đối với người cao tuổi trong hệ
thống an sinh xã hội sẽ mang lại những ý nghĩa thiết thực góp phần giải quyết
những vấn đề đã nêu trên. “Kính lão đắc thọ” là truyền thống tốt đẹp của nhân dân
ta vì vậy Đảng và Nhà nước ta coi việc quan tâm, chăm sóc đời sống vật chất và
tinh thần cho người cao tuổi là đạo lý của dân tộc, là tình cảm và trách nhiệm của

luận văn của mình. Với mong muốn đưa những kiến thức được học về CTXH vào
thực tiễn góp phần giải quyết các khó khăn của Trung tâm.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
CTXH đã phát triển và đi vào hoạt động chuyên nghiệp hơn một thế kỷ trên
thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam nghề CTXH vẫn mới chỉ bắt đầu, nhiều người còn
chưa biết đến CTXH. Khi nhắc đến lĩnh vực CTXH ở TTBTXH thường gắn liền với
CTXH đối với các nhóm đối tượng như: CTXH với người già cô đơn, CTXH với
TECHCĐB, CTXH với NKT… họ chính là những nhóm người yếu thế đang được
sự bảo trợ của xã hội để tồn tại, họ đang cần sự chung tay giúp đỡ của toàn xã hội,
trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của CTXH. CTXH trong TTBTXH là lĩnh
vực còn khá mới mẻ, các công trình nghiên cứu trong nước còn hạn chế, tác giả xin
khái quát một số công trình, kết quả khoa học đã được thực hiện ở Việt Nam.
Năm 1989, những nghiên cứu dân số và lao động về tuổi già bắt đầu với một
báo cáo quan trọng về người cao tuổi theo yêu cầu của ESCAP được hoàn thành.
Đây là báo cáo dân số học đầu tiên về tuổi già Việt Nam được giới thiệu ra quốc tế.
Tiếp sau đó là những khảo sát của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về người
cao tuổi, những khảo sát là công cụ quan trọng của quá trình làm chính sách. Có thể

2


kể đến nghiên cứu của Trịnh Văn Lễ về người nghỉ hưu, tác giả chỉ ra chế độ bảo
hiểm xã hội đối với người nghỉ hưu hình thành từ rất sớm từ năm 1950. Đến đầu
năm 1991, Viện bảo vệ sức khỏe người cao tuổi có chủ trì một hội thảo lớn về lão
khoa xã hội. Các công trình giới thiệu và được xuất bản, đây là mốc quan trọng cho
nghiên cứu xã hội học về người cao tuổi.
Năm 1983, trong khuôn khổ một chương trình nghiên cứu quốc gia về nhà
ở, một nhóm nhà xã hội học tiến hành khảo sát thực nghiệm về đời sống người
nghỉ hưu nội thành Hà Nội về các vấn đề như: Trách nhiệm gia đình, Làm thêm,
Giúp đỡ gia đình, Con cái, Uy tín trong gia đình, Tiếp đó là nghiên cứu thực

học; trại giam; trại cai nghiện…. Những đối tượng CTXH cung cấp các dịch vụ hỗ
trợ trực tiếp như: NKT; NCT…. Tác giả cũng đã nêu lên được một số mô hình can
thiệp CTXH với các nhóm đối tượng và các lý thuyết tiếp cận trong công tác xã hội.
Tuy nhiên cuốn sách cũng chỉ mới giới thiệu một cách cơ bản chứ chưa chuyên sâu
về thực hành trợ giúp các đối tượng.
Nguyễn Thị Kim Hoa (2012) trong cuốn tài liệu “Công tác xã hội trợ giúp
NCT.” Tác giả đã trình bày một cách tổng quan về CTXH với NCT như: Các khái
niệm, hệ thống lý thuyết áp dụng, các chương trình chính sách, một số mô hình trợ
giúp NCT hiện nay. Cuốn sách đã giới thiệu một cách tổng quan về CTXH với
NCT, là cơ sở để NVXH vận dụng vào thực hành trợ giúp NCT, tuy nhiên cuốn
sách chưa tìm hiểu được nhiều mô hình trợ giúp CTXH với NCT ở một số nước có
nghề CTXH phát triển, chưa nêu ra được các phương pháp tiếp cận làm việc với
tường nhóm đối tượng cụ thể trong CTXH với NCT như: NCT lang thang xin ăn;
NCT bị ngược đãi; NCT cô đơn; NCT bị bệnh hiểm nghèo; NCT bị trầm cảm; NCT
khuyết tật….
Trong cuốn tài liệu tập huấn “Khóa đào tạo CTXH cho các nhà quản lý
trong lĩnh vực CTXH.” Dự án đào tạo CTXH tại Việt Nam MOLISA - ULSA CFSI- ASI – AP - UNICEF 2012. Cuốn sách đã trình bày một cách khái quát về
thực trạng NCT, NKT và TECHĐB trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay,
đặc điểm tâm sinh lý và nhu cầu của các nhóm đối tượng, một số chương trình
chính sách của nhà nước đối với các nhóm đối tượng, một số mô hình chăm sóc hỗ
trợ các nhóm đối tượng hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới, các kỹ năng làm việc
với các nhóm đối tượng.

4


Năm 2014, có đề tài: “Hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn
huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên” của tác giả Man Khánh Quỳnh, tác giả đã tập
trung phân tích thực trạng hỗ trợ xã hội từ thực tiễn của huyện Văn Giang từ đó đưa
ra các giải pháp hỗ trợ đối với người cao tuổi.

Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh; thời gian từ 01 tháng 12 năm
2015 đến 30 tháng 6 năm 2016; giới hạn về nội dung công tác xã hội cá nhân đối
với người cao tuổi.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm Bảo
trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh.
4.3. Khách thể nghiên cứu
Người cao tuổi trong Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh, lãnh đạo,
nhân viên Trung tâm và người nhà của người cao tuổi (06 người).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tài liệu. Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá
trình nghiên cứu đề tài. Nhân viên CTXH tiến hành thu thập các tài liệu văn bản cần
thiết phù hợp với hoạt động trợ giúp cho người cao tuổi, xem xét các thông tin có sẵn
trong các tài liệu mà mình sử dụng nhằm tìm kiếm các thông tin phục vụ cho mục đích
tổng hợp thông tin và đáp ứng cho mục tiêu nghiên cứu đề tài một cách tốt nhất.
Phương pháp quan sát.
Phương pháp quan sát là phương pháp thu thập thông tin quan trọng được sử
dụng trong suốt quá trình nghiên cứu, được thực hiện trong nhiều giai đoạn như: từ
giai đoạn khảo sát trung tâm, giai đoạn tiến hành can thiệp với thân chủ và những
hoạt động khác đến giai đoạn kết thúc quá trình can thiệp.
Mục đích của phương pháp này là để thấy được những biểu hiện bên ngoài
của thân chủ là người cao tuổi bị khủng hoản tâm lý như: Hành vi, cử chỉ, thái độ
của thân chủ đối với môi trường xã hội xung quanh.
Phương pháp phỏng vấn sâu (định tính).
Phỏng vấn sâu (PVS) là phương pháp được sử dụng để có được những thông
tin cần thiết từ phía thân chủ. Thông qua cách hỏi và trả lời trực tiếp giữa nhân viên
CTXH với thân chủ, cán bộ nhân viên Trung tâm và những người cao tuổi đang
được chăm sóc và nuôi dưỡng tại Trung tâm bảo trợ xã hội Quảng Ninh (PVS 2
NCT và 3 cán bộ nhân viên).


Chương 2: Thực trạng người cao tuổi và tiến trình công tác xã hội cá nhân
đối với người cao tuổi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh.
Chương 3: Giải pháp bảo đảm thực hiện công tác xã hội cá nhân đối với
người cao tuổi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Quảng Ninh.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN
ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
1.1. Các khái niệm công cụ
1.1.1. Khái niệm người cao tuổi
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về NCT. Trước đây, người ta thường dùng
thuật ngữ người già để chỉ những người có tuổi, hiện nay NCT ngày càng được sử
dụng nhiều hơn. Hai thuật ngữ này tuy không khác nhau về mặt khoa học song về
tâm lý NCT là thuật ngữ mang tính tích cực và thể hiện thái độ tôn trọng.
Theo quan điểm y học: NCT là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với việc
suy giảm các chức năng của cơ thể.
Luật NCT Việt Nam số 39/2009/QH12 ngày 23/11/2009, điều 2 quy định:
NCT là “tất cả công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên”.
Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO): NCT phải từ 70 tuổi trở lên.
Ở một số nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ lại quy định NCT là những người
từ 65 tuổi trở lên. Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác nhau về lứa
tuổi có các biểu hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau. Những nước có
hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng
được nâng cao. Do các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn. Vì vậy, quy
định về tuổi của các nước đó cũng khác nhau.
Với đặc thù là một nghề trợ giúp xã hội, CTXH nhìn nhận NCT như sau:
NCT với những thay đổi về tâm sinh lý, lao động - thu nhập, quan hệ xã hội sẽ gặp

Như vậy căn cứ vào khái niệm CTXH chúng ta có thể định nghĩa CTXH cá
nhân đối với NCT như sau: CTXH cá nhân đối với NCT là một khoa học, một nghề
chuyên môn nhằm trợ giúp cá nhân NCT phục hồi và phát triển các chức năng xã
hội bị suy giảm thông qua việc tăng cường năng lực và thay đổi môi trường xung
quanh, giúp cá nhân đó tự lực vươn lên, giải quyết các vấn đề tồn tại, hòa nhập vào
sự phát triển chung của xã hội.
1.2. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1. Lý thuyết hệ thống sinh thái
Lý thuyết hệ thống sinh thái là một trong những lý thuyết quan trọng trong
nền tảng triết lý của công tác xã hội. Lý thuyết này bắt nguồn từ thuyết hệ thống
tổng quát của Bertanlaffy (nhà sinh học người Áo, 1901 – 1972), lý thuyết của ông

9


là một lý thuyết sinh học trong đó ông cho rằng “mọi tổ chức hữu cơ đều là một hệ
thống và được tạo nên từ các tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một phần của hệ
thống lớn hơn”, theo đó con người cũng là một bộ phận của hệ thống xã hội. Sau
này, lý thuyết hệ thống được các nhà khoa học khác nghiên cứu và phát triển
Hanson(1995), Mancoske(1981), Siporin(1980). Người có công đưa lý thuyết hệ
thống áp dụng vào thực tiễn công tác xã hội phải kể đến công lao của Pincus và
Minahan cùng các đồng sự khác, tiếp đến là Germain và Giterman. Những nhà khoa
học trên đã góp phần phát triển và hoàn thiện thuyết Hệ thống trong thực hành công
tác xã hội trên toàn thế giới.
Trong CTXH, thuyết hệ thống sinh thái được tiếp cận theo hướng: con người
sống trong môi trường, chịu sự tác động của môi trường và con người có thể ảnh
hưởng ngược trở lại môi trường.
Thuyết hệ thống sinh thái vận dụng sức mạnh của các lý thuyết khác trong
việc mô tả hành vi phức tạp của con người. Nó chỉ ra hành vi của cá nhân, gia đình,
nhóm, tổ chức, cộng đồng và những mối quan hệ kết nối của họ tạo ra bối cảnh lý

được đáp ứng.
Biểu 1.1: Mô hình bậc thang nhu cầu của Abraham Maslow

N/cHoàn thiện
N/c Đc tôn trọng
N/c tình cảm xã hội
Nhu cầu được an toàn

Nhu cầu thể chất, sinh lý..

Vận dụng lý thuyết nhu cầu vào đề tài này ta có thể nhận thấy những nhu cầu
cơ bản mà NCT đòi hỏi trong việc thực hiện các hỗ trợ xã hội là rất chính đáng và
cần được đáp ứng đầy đủ, như nhu cầu về ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, về nhà
ở, nhu cầu trong tiêu dùng, trong chăm sóc sức khỏe, ổn định cuộc sống, nhu cầu về

11


cảm xúc, tâm lý, được tham gia xã hội… Vì thế tác giả vận dụng thuyết này nhằm
đánh giá các dịch vụ hỗ trợ hiện nay tại Trung tâm BTXH tỉnh Quảng Ninh đã thực
sự đáp ứng được nhu cầu của NCT hay chưa, tìm hiểu những nhu cầu cụ thể mà
NCT còn thiếu hụt thuộc bậc thang nhu cầu nào. Thông qua đó tác giả xem xét đề
xuất phương pháp tác động hiệu quả hơn bên cạnh các hỗ trợ xã hội hiện có và đưa
ra giải pháp nhằm trợ giúp thỏa mãn các nhu cầu đang thiếu hụt của đối tượng mà
đề tài hướng đến.
1.3. Vai trò và nhiệm vụ của nhân viên xã hội đối với người cao tuổi
1.3.1. Vai trò của nhân viên xã hội
1.3.1.1. Người tạo khả năng
Công tác xã hội đối với người cao tuổi là một lĩnh vực đặc thù trong công tác
xã hội nhằm trợ giúp người cao tuổi phát huy tiềm năng của bản thân để họ tự lực

Nhân viên công tác xã hội cần giới thiệu cho người cao tuổi các câu lạc bộ phù hợp
để người cao tuổi sinh hoạt. Việc sinh hoạt ở các câu lạc bộ người cao tuổi như: Câu
lạc bộ văn thơ, câu lạc bộ dưỡng sinh….sẽ giúp người cao tuổi đáp ứng các nhu cầu
về quan hệ xã hội cho người cao tuổi.
1.3.1.3. Người giáo dục
Người cao tuổi phải đối mặt với rất nhiều những thay đổi về tâm sinh lý cũng
như các chức năng xã hội. Do đó, để thích ứng với cuộc sống, người cao tuổi cần
phải có thêm nhiều kiến thức, kỹ năng về chế độ dinh dưỡng, chăm sóc bản thân,
các kỹ năng xã hội…Nhân viên công tác xã hội hỗ trợ người cao tuổi những kiến
thức và kỹ năng đó thông qua vai trò là người giáo dục. Hình thức giáo dục có thể
qua việc cung cấp tài liệu, tập huấn hoặc được lồng ghép trong tiến trình trợ giúp.
Thông qua giáo dục, nhân viên xã hội sẽ giúp người cao tuổi có thêm những kiến
thức, kỹ năng để phòng ngừa, chữa trị, phục hồi hay cũng như phát triển các chức
năng xã hội phù hợp. Việc cung cấp cho người cao tuổi những kiến thức, kỹ năng
chăm sóc bản thân như chế độ dinh dưỡng, các hoạt động thể chất, các cách thức
phòng bệnh…. Khoa học và phù hợp sẽ giúp người cao tuổi có cuộc sống mạnh
khỏe và an toàn hơn. Không chỉ quan tâm đến cá nhân người cao tuổi, công tác xã
hội còn hướng đến giáo dục, tham vấn cho gia đình người cao tuổi. Nhân viên công
tác xã hội cung cấp thông tin, hướng dẫn cụ thể, tham vấn cho gia đình người cao
tuổi những cách thức chăm sóc, ứng xử với người cao tuổi…Cung cấp những kiến
thức, hiểu biết về đặc điểm tâm sinh lý, xã hội, những nhu cầu của người cao tuổi để
gia đình chăm sóc, hỗ trợ người cao tuổi tốt hơn.

13


1.3.1.4. Người biện hộ
Khi làm việc với người cao tuổi, nhân viên công tác xã hội cần đánh giá,
phân tích những nhu cầu, mong muốn cũng như nguồn lực của người cao tuổi. Nhân
viên công tác xã hội phải bảo vệ nhu cầu chính đáng của người cao tuổi. Do những

Chính vì thế, trong tiến trình công tác xã hội với người cao tuổi, nhân viên công tác
xã hội cần quan tâm đến việc huy động các nguồn lực hỗ trợ từ gia đình người cao
tuổi, để người cao tuổi có thêm các nguồn lực hỗ trợ, có thêm các điều kiện thuận
lợi để tự lực vươn lên, giải quyết triệt để các vấn đề của cá nhân và đạt được những
giá trị xã hội như mong đợi của họ.
1.3.1.6. Người đánh giá và giám sát
Nhân viên xã hội là người trực tiếp đánh giá, chẩn đoán những vấn đề của
người cao tuổi trong cuộc sống hàng ngày. Những vấn đề của người cao tuổi rất đa
dạng: Có thể về sinh lý, tâm lý, lao động, thu nhập hay các vấn đề về quan hệ xã
hội. Bước sang giai đoạn cuối của cuộc đời, do sự suy giảm hoạt động và sự già hóa
của các cơ quan, hệ thống sinh học mà người cao tuổi phải đối mặt với nhiều bệnh
tật: Tai biến mạch máu não do huyết áp cao, bệnh về tim mạch, hô hấp…tâm lý của
người cao tuổi cũng có nhiều nét đặc biệt nhất là trong việc suy nghĩ và đối phó với
cái chết. Trong tiến trình trợ giúp người cao tuổi, nhân viên xã hội thực hiện việc
đánh giá và giám sát các hoạt động của người cao tuổi, kết quả của tiến trình. Sự
đánh giá và giám sát của nhân viên xã hội một cách thường xuyên, liên tục sẽ góp
phần vào việc phát hiện sớm, nâng cao hiệu quả can thiệp trong công tác xã hội đối
với người cao tuổi.
Trong tiến trình công tác xã hội với người cao tuổi tùy vào điều kiện thực tế
cũng như những vấn đề cụ thể ở người cao tuổi mà các vai trò của nhân viên công
tác xã hội thực hiện có sự khác biệt. Nhân viên công tác xã hội thông qua việc thực
hiện các vai trò cụ thể của mình để hướng đến mục tiêu phòng ngừa, chữa trị, phục
hồi và phát triển cho người cao tuổi.
1.3.2. Nhiệm vụ của công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi
1.3.2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận
Công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi là một lĩnh vực khoa học khá
mới mẻ ở Việt Nam, vì vậy nhiệm vụ hàng đầu của công tác xã hội cá nhân đối với
NCT là xây dựng và phát triển hệ thống các khái niệm, phạm trù, lý thuyết đặc thù
của công tác xã hội cá nhân đối với NCT.


ở các khu vực, các nhóm độ tuổi, các hoàn cảnh khác nhau để góp phần hoàn thiện
về lý lụân thực nghiệm.

16


1.4. Các dịch vụ công tác xã hội dành cho người cao tuổi
Trong thời gian qua khi các chính sách, các chương trình, dự án dành cho
nhóm yếu thế được hiện thực hóa. Các dịch vụ xã hội cũng đã được hình thành và
phát triển dựa trên nhu cầu thực tiễn, đặc biệt là nhu cầu của những người lao động
nghèo và nhóm yếu thế. Các dịch vụ xã hội đặc thù đó đã được phổ biến rộng rãi và
mang lại nhiều lợi ích và nhiều thay đổi theo hướng tích cực trong đời sống của
người cao tuổi.
Dịch vụ chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh cho người cao tuổi, dịch vụ
tham vấn, tư vấn, quản lý ca, trợ giúp tâm lý, tổ chức hoạt động nhóm, giáo dục
nâng cao nhận thức cho đối tượng là người cao tuổi, dịch vụ vui chơi giải trí cho
người cao tuổi, các hoạt động đoàn thể tại các câu lạc bộ người cao tuổi, nhà văn
hóa, các chương trình trên báo đài.
Dịch vụ chăm sóc tại Trung tâm bảo trợ xã hội cho những người cao tuổi cô
đơn, không nơi nương tựa. Cung cấp trợ cấp hàng tháng cho người cao tuổi từ 90
tuổi trơ lên.
Dịch vụ bảo hiểm đã được triển khai ở mọi nơi, với nhiều đối tượng thuộc
nhóm yếu thế, như cấp bảo hiểm y tế cho người nghèo, người già cô đơn, trẻ em có
hoàn cảnh khó khăn, bảo hiểm dự phòng tuổi già cho nông dân.
Các dịch vụ về nhà ở: ở hầu hết các địa phương đã cung cấp nơi ở cho các đối
tượng khi gặp phải những rủi ro cần có nơi trú ẩn an toàn đặc biệt là người cao tuổi.
Dịch vụ chăm sóc và nuôi dưỡng người cao tuổi theo hướng tự nguyện đóng
góp kinh phí đang là một xu thế phát triển của xã hội ngày nay, dịch vụ này đang
được rất nhiều người quan tâm.
1.5. Thể chế về công tác xã hội đối với người cao tuổi

người cao tuổi thực sự là một bộ phận hợp thành nguồn lực nội sinh quý giá của cả
dân tộc. Chúng ta tôn trọng, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực ấy”…
Báo cáo chính trị Đại hội X của Đảng ghi rõ: “Vận động toàn dân tham gia
các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với lão thành cách
mạng, những người có công với nước, người hưởng chính sách xã hội. Chăm sóc
đời sống vật chất và tinh thần của người già, nhất là những người già cô đơn, không
nơi nương tựa…”
Như vậy, từ Chỉ thị số 59/CT-TW, các văn kiện đại hội Đảng đều khẳng
định: Người cao tuổi là nền tảng của gia đình, là tài sản vô giá, nguồn lực quan
trọng cho sự phát triển xã hội. Vì thế, chăm sóc và phát huy tốt vai trò người cao

18


tuổi là thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta và đạo đức của người Việt Nam, qua
đó góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp dân giầu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
1.5.2. Văn bản pháp luật của Nhà nước
Quan điểm trên của Đảng và Bác Hồ được thể hiện trong Hiến pháp năm
1946, Điều 14 quy định: “Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc
thì được giúp đỡ”. Điều 32 của Hiến pháp năm 1959 ghi rõ: “Giúp đỡ người già,
người đau yếu và tàn tật. Mở rộng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm sức khỏe và cứu trợ
xã hội…”. Điều 64 của Hiến pháp năm 1992 quy định: “…Cha mẹ có trách nhiệm
nuôi dạy con cái. Con cái có trách nhiệm kính trọng và chăm sóc ông bà, cha
mẹ…”. Và Điều 87 Hiến pháp ghi rõ: “ Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không
nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ”.
Luật Bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân năm 1989 đã dành một chương
riêng: Bảo vệ sức khỏe người cao tuổi…trong đó, khoản 1 Điều 41 của Luật này
quy định: “Người cao tuổi… được ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh, được tạo điều
kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khỏe của mình”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status