Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Hà Nam - Pdf 42

`
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN QUANG HUY

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI
TỈNH HÀ NAM

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. LÊ THỊ QÚY

HÀ NỘI, 2017


`
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi
thực hiện dựa vào những hiểu biết của bản thân cùng sự hướng dẫn của
GS.TS. Lê Thị Quý.
Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực, chưa được công
bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác. Tôi xin chịu hoàn toàn trách
nhiệm về lời cam đoan này.
Hà Nội, ngày

CTXH tỉnh Hà Nam ...................................................................................................... 65
3.2. Đẩy mạnh công tác truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về hoạt động
CTXH với NCT ............................................................................................................. 67
3.3. Đào tạo, nâng cao năng lực hoạt động của mạng lưới cộng tác viên xã hội ở cơ
sở ................................................................................................................................... 68
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 73
PHỤ LỤC ...................................................................................................................... 76


`

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Từ, cụm từ viết tắt

Nghĩa của từ, cụm từ

BTXH

Bảo trợ xã hội

CTXH

Công tác xã hội

NCT

Người cao tuổi


quan tâm như trước. Thực tiễn cho thấy, có không ít những NCT ở nước ta đang
phải sống trong những hoàn cảnh thiếu thốn về kinh tế, phải tiếp tục kiếm sống,
nhiều NCT cô đơn, không nơi nương tựa thuộc gia đình hộ nghèo. Sự suy giảm về
sức khỏe, thể lực, sự thiếu thốn về tinh thần, tình cảm, sự quan tâm chăm sóc của
gia đình, xã hội đối với NCT đang trở thành những hiện tượng phổ biến…điều đó
đặt ra cho hệ thống an sinh xã hội của chúng ta những thách thức rất lớn trong việc
đảm bảo điều kiện sống, chăm sóc y tế, các hoạt động văn hóa giải trí … đặc biệt là
sự tham gia của các hoạt động CTXH vào lĩnh vực này.
Trên địa bàn tỉnh Hà Nam tính đến hết năm 2015 dân số tỉnh là 800.751
người, trong đó NCT là 112.791 chiếm 14,1% dân số. Thực hiện chủ trương chính
sách của Đảng và nhà nước, đảng bộ, các cấp chính quyền và nhân dân tỉnh Hà
Nam đã có nhiều giải pháp để quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất cũng như

1


`
tinh thần đối với NCT. Chính vì vậy, đời sống của NCT ở tỉnh Hà Nam nói chung
đã phần nào được ổn định, được cải thiện và từng bước được nâng lên. Tuy nhiên
Hà Nam là một tỉnh có điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn công tác chăm sóc,
trợ giúp NCT còn nhiều hạn chế mới chỉ đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu cơ
bản của NCT mà chưa đáp ứng những nhu cầu đa dạng khác, cũng như chưa giải
quyết tốt những vấn đề mang tính chất cá nhân, nhóm đối tượng đặc thù. Hiện nay
số NCT đang được quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng tại Trung tâm CTXH tỉnh Hà
Nam là 77 người. Trong điều kiện hội nhập và phát triển sâu rộng với thế giới,
nghề CTXH ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong việc cung cấp những dịch
vụ của CTXH nhằm hỗ trợ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho NCT trên
mọi phương diện. Các phương pháp CTXH như CTXH nhóm, CTXH cá nhân đối
với NCT là lĩnh vực khoa học đặc thù nhưng khá mới về cả lý luận, ứng dụng cũng
như cải tạo thực tiễn. Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam đã áp dụng các lý thuyết nền

Đặng Vũ Cảnh Linh (2009), trong cuốn tài liệu “NCT và các Mô hình chăm
sóc NCT ở Việt Nam” tác giả đã đưa ra những nghiên cứu đánh giá về thực trạng
của đời sống, sinh hoạt và nhu cầu của NCT hiện nay, đồng thời đưa ra những phân
tích cụ thể về các mô hình chăm sóc NCT hiện có như: Mô hình Bệnh viện; mô
hình Trung tâm chăm sóc NCT do nhà nước, các cơ quan đoàn thể, tư nhân quản lý;
mô hình chăm sóc NCT tại gia đình; mô hình chăm sóc NCT tại cộng đồng.
Ngày 25/3/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
32/2010/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án phát triển nghề CTXH, ở nước ta đã có thêm
nhiều nghiên cứu mới dưới dạng các đề tài, các bài báo khoa học về lĩnh vực CTXH
nói chung, trong đó có các nghiên cứu về dịch vụ CTXH, tiêu biểu là:
Trong Bài báo "Đề xuất mô hình trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH ở Việt
Nam" được đăng trên tạp chí Lao động Xã hội ngày 11/11/2011 của Ths.Nguyễn
Văn Hồi, tác giả đã trình bày khái quát những kết quả nghiên cứu, đánh giá về thực
trạng hoạt động cung cấp dịch vụ CTXH của mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ
CTXH ở Việt Nam (gồm các Trung tâm bảo trợ xã hội công lập và các Trung tâm,
cơ sở ngoài công lập), trong đó nhấn mạnh đến những hạn chế và đưa ra một số
khuyến nghị về mô hình trung tâm dịch vụ CTXH ở Việt Nam.

3


`
Trong cuốn tài liệu tập huấn “Khóa đào tạo CTXH cho các nhà quản lý cấp
cao” Dự án đào tạo CTXH tại Việt Nam MOLISA - ULSA - CFSI- ASI – AP UNICEF 2012. Cuốn tài liệu này đã khái quát những nội dung cơ bản về nghề
CTXH, nền tảng triết lý và kiến thức với các nội dung cơ bản như về nghề CTXH,
nhân viên xã hội, quy trình trợ giúp trong CTXH, các mô hình trợ giúp trong
CTXH.
Nguyễn Thị Kim Hoa (2012), Giáo trình “CTXH trợ giúp NCT”. Tác giả đã
trình bày một cách tổng quan về CTXH với NCT như: Các khái niệm, hệ thống lý
thuyết áp dụng, các chương trình chính sách, một số mô hình trợ giúp NCT hiện

Phân tích, đánh giá thực trạng sống, nhu cầu của NCT tại Trung tâm CTXH
Tỉnh Hà Nam. Tiến trình CTXH cá nhân đối với NCT. Kỹ năng trong quá trình
CTXH cá nhân để hỗ trợ, giúp đỡ NCT.
Thực hiện tiến trình CTXH cá nhân với NCT và xây dựng quy trình cho nhân
viên xã hội trong việc thực hiện hoạt động CTXH cá nhân đối với NCT.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động CTXH cá nhân đối với NCT tại Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 5 năm 2016 đến 31 tháng 12 năm 2016.
- Phạm vi không gian: Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam.
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: CTXH cá nhân đối với NCT.
4.3. Khách thể nghiên cứu
- NCT; người thân thân của NCT.
- Lãnh đạo Trung tâm; nhân viên y tế, nhân viên tư vấn.
- Những người bạn của NCT.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: Từ những đánh giá thực trạng,
nhu cầu của NCT, các hoạt động CTXH của cán bộ, nhân viên Trung tâm đối với

5


`
người cao tuổi sống ở Trung tâm CTXH từ đó rút ra những lý luận và đưa ra được
những đề xuất về biện pháp nâng cao hiệu quả CTXH cá nhân đối với NCT trên địa
bàn tỉnh Hà Nam.
Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: Nghiên cứu hệ thống những lý
thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan như CTXH

về hoàn cảnh của bản thân và gia đình, nhu cầu, vấn đề khó khăn đang gặp phải…
trong đó NVXH phỏng vấn NCT là chủ yếu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa khoa học
Với mục đích tìm hiểu thực tế để nâng cao hiệu quả trong quá trình học tập
và nghiên cứu của học viên, đề tài này thuộc nhóm đề tài nghiên cứu ứng dụng lý
thuyết, phương pháp CTXH vào việc giải quyết một vấn đề xã hội cụ thể. Cụ thể là
việc sử dụng hệ thống khái niệm, lý thuyết, phương pháp CTXH vào việc đánh giá,
phân tích và đưa ra phương pháp hỗ trợ thích hợp. Những kết quả thu được từ thực tế
sẽ đóng góp thêm vào nguồn tham khảo cho việc phân tích và nghiên cứu lý luận
của CTXH cá nhân đối với NCT.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp NVXH, cán bộ
làm công tác quản lý CTXH nói chung trên trên địa bàn tỉnh Hà Nam, Ban lãnh đạo
và NVXH Trung tâm CTXH tỉnh Hà Nam nói riêng thấy được vai trò, ý nghĩa quan
trọng của phương pháp CTXH cá nhân với NCT, đồng thời có thêm cái nhìn toàn
diện, sâu sắc tích cực về cách thức và phương pháp chăm sóc, nuôi dưỡng từ đó có
những giải pháp phù hợp giúp cho trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng NCT được
toàn diện và tốt hơn. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ những mặt hạn chế của chính
sách, chế độ trợ cấp nuôi dưỡng, trang cấp… của Đảng và nhà nước đối với NCT
được nuôi dưỡng tại Trung tâm. Giúp cho NCT nhận ra vấn đề và tiềm năng giải
quyết vấn đề của chính mình.
Kết quả nghiên cứu thực trạng CTXH cá nhân với NCT tại Trung tâm CTXH
tỉnh Hà Nam cũng chứng tỏ phương pháp CTXH cá nhân trong việc trợ giúp NCT
giải quyết được vấn đề của bản thân là phương pháp tối ưu và có thể nhân rộng
phương pháp này với đối tượng NCT trên địa bàn tỉnh Hà Nam. Bản thân sau khi
nghiên cứu đề tài sẽ củng cố, mở rộng kiến thức về CTXH nói chung và CTXH đối
7



Theo WHO: NCT phải từ 70 tuổi trở lên.
Một số nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ… lại quy định NCT là những
người từ 65 tuổi trở lên. Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác nhau về
lứa tuổi có các biểu hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau. Những
nước có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân
cũng được nâng cao. Do đó, các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn. Vì
vậy, quy định về tuổi của các nước đó cũng khác nhau.
Theo quan điểm của CTXH: Với đặc thù là một nghề trợ giúp xã hội, CTXH
nhìn nhận về NCT như sau: NCT với những thay đổi về tâm sinh lý, lao động - thu
nhập, quan hệ xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống. Do đó, NCT là
một đối tượng yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp của công tác xã hội” [7].
1.1.2. Khái niệm công tác xã hội
Theo Hiệp hội CTXH thế giới: ‘‘CTXH là sự thúc đẩy thay đổi trong xã hội,
thúc đẩy việc giải quyết các vấn đề trong quan hệ giữa con người, trao quyền và
giải phóng con người đem lại sự bình yên cho xã hội và hạnh phúc cho mọi người.
Vận dụng lý thuyết về hành vi của con người và các hệ thống xã hội, CTXH can
9


`
thiệp vào các mặt, ở đó con người tác động với môi trường sống của họ. Nguyên tắc
về quyền của con người và công bằng xã hội là cốt lõi của CTXH” [30].
Theo Nguyễn Thị Oanh trong cuốn “Công tác xã hội”, định nghĩa đơn giản
và dễ nhớ nhất là “CTXH nhằm giúp cá nhân và cộng đồng tự giúp” [21, Tr 6].
Theo Bùi Thị Xuân Mai trong cuốn giáo trình “Nhập môn CTXH”, định
nghĩa: “CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá
nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường
chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và
dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các
vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội” [17, Tr 16].

1.2. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1. Lý thuyết hệ thống sinh thái
Trong tiến trình thực hành CTXH nói chung và CTXH cá nhân nói riêng,
NVXH khi giúp đỡ thân chủ của mình cần áp dụng rất nhiều kĩ năng và kiến thức
như: thuyết hành vi, lí thuyết phân tâm học, thuyết nhân văn, hiện sinh…và nhiều lí
thuyết khác để giải thích hành vi của thân chủ từ đó đưa ra được tiến trình giúp đỡ
phù hợp mang lại hiệu quả cao. Thuyết Hệ thống là một trong những lí thuyết quan
trọng được vận dụng trong CTXH, khi thực hiện một tiến trình giúp đỡ cá nhân
không thể thiếu được lí thuyết Hệ thống bởi NVXH cần chỉ ra thân chủ của mình
đang thiếu và cần đến những hệ thống trợ giúp nào và tìm cách giúp đỡ để họ có thể
tiếp cận và tham gia các hệ thống. Có làm được như vậy thì NVXH mới thực sự
hoàn thành tiến trình giúp đỡ cá nhân. Chỉ khi nào thân chủ được sự giúp đỡ và
tham gia các hệ thống họ mới thực sự trở lại là chính họ.
Các quan điểm về hệ thống trong CTXH bắt nguồn từ lý thuyết hệ thống
tổng quát của Bertanlaffy (nhà sinh học người Áo, 1901 – 1972). Thuyết này dựa
trên quan điểm của lý thuyết sinh học cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ
thống, được tạo nên từ các tiểu hệ thống và đồng thời bản thân các tiểu hệ thống
cũng là mộ phần của hệ thống lớn hơn.
Đại diện của thuyết hệ thống sinh thái là Hanson (1995), Mancoske (1981),
Siporin (1980). Nội dung của thuyết nhấn mạnh đến sự tương tác giữa con người
với môi trường sinh thái của mình. Do vậy, nguyên tắc chủ đạo của lý thuyết này là
cuộc sống bình thường của con người phụ thuộc vào môi trường xã hội hiện tại của
họ. Như vậy có thể nói, cốt lõi của cách tiếp cận này là:

11


`
- Con người sống trong môi trường.
- Con người chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố.


`
Nhu cầu về an toàn, an ninh: Nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiện trong
cả thể chất lẫn tinh thần. Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của
mình khỏi các nguy hiểm. Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các
trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú
dữ... Nhu cầu này cũng thường được khẳng định thông qua các mong muốn về sự
ổn định trong cuộc sống, được sống trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có
pháp luật, có nhà cửa để ở, được chăm sóc khi ốm đau, bệnh tật … Các chế độ bảo
hiểm xã hội, các chế độ khi về hưu, các kế hoạch để dành tiết kiệm … cũng chính là
thể hiện sự đáp ứng nhu cầu an toàn này.
Nhu cầu về xã hội: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc
về một bộ phận, một tổ chức nào đó hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương. Nhu
cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu,
lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm việc, đi chơi picnic, tham gia
các câu lạc bộ, làm việc nhóm, …
Nhu cầu về được quý trọng: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng
vì nó thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các
thành quả của bản thân và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng
của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân. Chúng ta thường
thấy trong công việc hoặc cuộc sống, khi một người được khích lệ, tưởng thưởng về
thành quả lao động của mình, họ sẵn sàng làm việc hăng say hơn, hiệu quả hơn.

13


`
Biểu 1.1: Mô hình bậc thang nhu cầu của Abraham Maslow
Nhu cầu được
thể hiện mình

tâm đặc biệt. Kế thừa truyền thống “Trọng lão”, “Trọng xỉ” của dân tộc, Hồ Chí
Minh luôn xác định rõ vị trí, vai trò của NCT và tầm quan trọng của việc vận động
NCT tham gia vào sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong xây
dựng đất nước. Theo Người, tuổi già, thực tế là “tuổi càng cao chí khí càng cao”,
NCT vẫn là lớp người mang ý nghĩa “đức cao vọng trọng” trong xã hội. Biết ơn
NCT, đó vừa là tình người và vừa là đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.
Sau khi Hội NCT Việt Nam được thành lập (10/5/1995), Ban Bí thư TW đã
ban hành chỉ thị 59/CT-TW “Về chăm sóc NCT”, quy định: “Việc chăm sóc đời
sống vật chất và tinh thần của NCT là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã
hội. Hội NCT Việt Nam mới được thành lập, cần được nhanh chóng ổn định về tổ
chức và mở rộng hoạt động ở cơ sở. Đảng đoàn, Mặt trận tổ quốc, các ban của
Đảng, các đoàn thể nhân dân cần giúp đỡ Hội hoạt động có hiệu quả thiết thực, phối
hợp với Hội trong việc vận động gia đình và xã hội chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy
NCT phục vụ công cuộc đổi mới. Đảng đoàn Quốc hội, Đảng đoàn Mặt trận tổ quốc
Việt Nam, các Ban của Đảng, các ban cán sự đảng Chính phủ, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp phối hợp với Hội nghiên cứu, xem xét
các chính sách pháp luật hiện hành, đề xuất những văn bản pháp quy của Nhà nước
nhằm bảo vệ, chăm sóc và phát huy NCT [1].
Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng đã nêu: “Đối với các lão
thành cách mạng, những người có công với nước, các cán bộ nghỉ hưu, những
NCT.. thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc sức khoẻ, nâng cao đời
sống tinh thần và vật chất trong điều kiện mới; đáp ứng nhu cầu thông tin, phát huy
khả năng tham gia đời sống chính trị của đất nước và các hoạt động xã hội". Báo
cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng cũng ghi rõ: “Vận động toàn dân tham gia hoạt

15


`
động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với lão thành cách mạng, những
người có công với nước. Chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người già,

văn bản hướng dẫn thì NCT được hưởng nhiều hỗ trợ ưu tiên, thể hiện qua các
chính sách cụ thể như:
- Về chính sách bảo trợ xã hội: NCT thuộc hộ gia đình nghèo không có
người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền
phụng dưỡng những người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hằng tháng; người
từ đủ 80 tuổi mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng trợ cấp xã
hội hằng tháng thì được hưởng bảo hiểm y tế, được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng
và hỗ trợ chi phí mai táng khi chết. NCT thuộc hộ gia đình nghèo không có người
có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, có
nguyện vọng và được tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội.
- Về chúc thọ, mừng thọ: Người thọ 100 tuổi được Chủ tịch nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam chúc thọ và tặng quà; người thọ 90 tuổi được Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chúc thọ và tặng quà; Uỷ
ban nhân dân xã, phường, thị trấn phối hợp với Hội NCT tại địa phương, gia đình
của NCT tổ chức mừng thọ NCT ở tuổi 70, 75, 80, 85, 90, 95 và 100 tuổi trở lên.
Luật lao động sửa đổi năm 2012 quy định tại Mục 2 Điều 166: “Người lao
động cao tuổi được rút ngắn thời giờ làm việc hằng ngày hoặc được áp dụng chế độ
làm việc không trọn thời gian” và tại Mục 2 Điều 167: “Không được sử dụng người
lao động cao tuổi làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh
hưởng xấu tới sức khỏe người lao động cao tuổi, trừ trường hợp đặc biệt theo quy
định của Chính phủ” và trong điều này có ghi “Người sử dụng lao động có trách
nhiệm quan tâm chăm sóc sức khỏe của người lao động cao tuổi tại nơi làm việc”.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 2 Điều 104 quy định: “Cháu có
nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ông bà ngoại; trường hợp
ông bà nội, ông bà ngoại không có con để nuôi dưỡng mình thì cháu đã thành niên
có nghĩa vụ nuôi dưỡng”…
Quyết định số 141/2004/QĐ-TTg ngày 05/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ
Về việc thành lập Ủy ban Quốc gia về NCT Việt Nam.

17

Mỗi đối tượng khác nhau lại có những vấn đề cụ thể khác nhau. Vì thế vai

18


`
trò của NVXH trong tiến trình trợ giúp mỗi đối tượng cụ thể cũng có sự khác nhau.
Trong CTXH với NCT, NVXH cần thực hiện tốt các vai trò sau:
1.4.1. Người tạo khả năng
Nghề nghiệp của CTXH hướng đến việc trợ giúp các đối tượng khai thác
những tiềm năng của bản thân để tự lực vươn lên, giải quyết các vấn đề cụ thể của
bản thân. NVXH không làm hộ, làm thay thân chủ mà chỉ giúp thân chủ nhận thức
được những khả năng của mình, phát huy những khả năng đó để giải quyết vấn đề
của mình. Đối với NCT, NVXH cần giúp họ nhận thấy các khả năng của mình:
Chuyên môn, kinh nghiệm sống, sức khỏe, tay nghề… Cần động viên, cổ vũ để
NCT tin tưởng vào bản thân mình, tin tưởng rằng mình vẫn còn hữu ích với gia
đình, xã hội từ đó thúc đẩy NCT hoạt động để tiếp tục đóng góp cho gia đình, xã
hội. Qua những hoạt động đó, NCT không những giải quyết được các vấn đề của
bản thân mà còn có thể góp sức vào sự phát triển của gia đình, xã hội. NCT có quá
trình lao động lâu dài vì thế kinh nghiệm thực tế của họ là rất phong phú và rất có
giá trị. Sau khi về hưu, không được tiếp tục cống hiến, họ trở nên chán nản và coi
mình là người bỏ đi từ đó gây ra nhiều vấn đề nhất là các vấn đề tâm lý cho bản
thân. Đồng thời, việc không nhận thức và khai thác những kiến thức và kinh nghiệm
của NCT là sự lãng phí rất lớn của xã hội. Do đó, NVXH cần giúp NCT nhận thức
được giá trị của mình để họ tiếp tục lao động với cách thức phù hợp. Thông qua lao
động, các vấn đề của NCT: Tâm sinh lý, thu nhập, quan hệ… sẽ được giải quyết.
Thêm vào đó, khi huy động được NCT vào đội ngũ lao động, xã hội sẽ có thêm
nguồn kinh nghiệm và trí thức quý giá để phát triển nhanh hơn và bền vững hơn [7].
1.4.2. Người điều phối - kết nối dịch vụ
NVXH thông qua đánh giá, chẩn đoán các vấn đề và nguồn lực của NCT để

Khi làm việc với NCT, NVXH cần đánh giá, phân tích những nhu cầu, mong
muốn cũng như những nguồn lực của NCT. NVXH phải bảo vệ những nhu cầu
chính đáng của NCT. Do những thay đổi và sự không ổn định về tâm sinh lý, một
số NCT có thể có những hành động, hành vi khác thường. NVXH cần tìm hiểu
nguyên nhân của các hành vi đó và lý giải để mọi người xung quanh nhất là gia đình
hiểu và thông cảm cho họ. Trong xã hội Việt Nam, do đặc thù của văn hóa, nhu cầu
tình dục của NCT chưa được chú ý đúng mức, thậm chí là một hành vi bị lên án.
Những NCT kết hôn luôn chịu sự bàn tán, đánh giá của gia đình, của những người
xung quanh. Đây là một nhạy cảm văn hóa mà NVXH cần hết sức chú ý. Cần làm

20


`
cho bản thân NCT cũng như gia đình và những người xung quanh hiểu và tôn trọng
nhu cầu đó của NCT bởi tình dục cũng như ăn, uống, hít thở… là những nhu cầu cơ
bản nhất của con người. NCT suy giảm nhu cầu tình dục chứ không phải là hoàn
toàn không có nhu cầu đó [7].
1.4.5. Người tạo môi trường thuận lợi
Mỗi cá nhân là một hệ thống chịu ảnh hưởng và sự tác động từ những hệ
thống xung quanh. CTXH chú ý đến mối quan hệ giữa con người với các hệ thống
xung quanh. Tạo môi trường thuận lợi trong CTXH được thực hiện qua việc cải
thiện và nâng cao chất lượng trong mối quan hệ giữa con người và hệ thống xung
quanh. NCT cũng tương tác và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ gia đình, các tổ chức xã
hội. Vì thế, trong tiến trình CTXH với NCT cần chú ý đến các hệ thống xung quanh
NCT: Gia đình, hội hưu trí, các câu lạc bộ NCT… NVXH cần tác động và làm thay
đổi các hệ thống đó để tạo ra môi trường thuận lợi nhất phục vụ NCT giải quyết các
vấn đề của bản thân cũng như những hoạt động phù hợp với nhu cầu của bản thân
và sự mong đợi của xã hội.
Gia đình là một thiết chế quan trọng đối với mọi cá nhân trong đó có NCT.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status