Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn tỉnh long an - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THÚY VÂN

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TỪ THỰC TIỄN
TỈNH LONG AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2017

1


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Công tác xã hội về “Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn tỉnh Long
An” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh
vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, lời đầu tiên cho phép tôi được gửi lời cảm ơn
chân thành đến Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục Bảo trợ xã hội, Học
viện Khoa học Xã hội, Học viện Xã hội Châu Á, cơ sở học viện tại thành phố Hồ
Chí Minh, Quí thầy, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn, truyền đạt kiến
thức cho tôi trong suốt khóa học. Đặc biệt tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc
đến Tiến sĩ Hà Thị Thư đã tận tình hướng dẫn, động viên giúp đỡ tôi trong quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Sở Lao động -Thương

3.1. Ứng dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân ...............................................72
3.2. Các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với người cao
tuổi..............................................................................................................................84
KẾT LUẬN................................................................................................................93
DANH MỤC TÀ

3


I LIỆU THAM KHẢO..............................................................................................94
PHỤ LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASXH
CLB
CTXH
CSSK
CSND
CTV CTXH
KT - XH
LĐTBXH
NCT
NVCTXH
UBND

An sinh xã hội
Câu lạc bộ
Công tác xã hội
Chăm sóc sức kỏe
Chăm sóc nuôi dưỡng

DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1.

Tổng quan về người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Long An

36

Bảng 2.2.

Phân loại về sức khỏe người cao tuổi

41

Bảng 2.3.

Đánh giá của người cao tuổi về hiệu quả hoạt động truyền
thông

46

Bảng 2.4.
Bảng 2.5.
Bảng 2.6.
Bảng 2.7.

Đánh giá của người cao tuổi về hình thức truyền thông
Đánh giá hiểu biết của người cao tuổi về các vấn đề liên
quan đến người cao tuổi
Đánh giá của người cao tuổi về hoạt động kết nối nguồn lực
Đánh giá của người cao tuổi về các yếu tố ảnh hưởng đến

Bảng 3.1.

Điểm mạnh, điểm hạn chế

79

Bảng 3.2.

Kế hoạch hỗ trợ cho bà D

80

6


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ĐỒ
Biểu đồ 2.1.

Phân theo khu vực

37

Biểu đồ 2.2.

Phân loại giới tính người cao tuổi

37

Biểu đồ 2.3.


Đặc điểm tâm lý của người cao tuổi

43

Biểu đồ 2.9.

Kết quả đánh giá của người cao tuổi về các hoạt động để
nâng cao nhận thức cho người cao tuổi

45

Biểu đồ 2.10.

Đánh giá của người cao tuổi về chế độ ăn uống, vệ sinh

50

Biểu đồ 2.11.

Tình hình luyện tập thể dục thể thao của người cao tuổi

52

Biểu đồ 2.12.

Tình hình khám sức khỏe định kỳ hàng năm của người cao
tuổi

53



61

Biểu đồ 2.18.

Đánh giá mức độ ảnh hưởng của khả năng huy động
nguồn lực đối với công tác xã hội

69

7


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Già hóa dân số đang là xu hướng của nhiều nước trên thế giới, trong đó có
Việt nam. Theo Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc tổng số người già từ 60 tuổi trở lên sẽ
tăng nhanh từ 214 triệu người vào năm 1950 lên 400 triệu người vào năm 1982,
khoảng 600 triệu người vào năm 2001 và khoảng 1,2 tỉ người vào năm 2025. Số
người 80 tuổi trở lên sẽ tăng từ 13 triệu người năm 1950 lên 50 triệu người vào
1995 và sẽ tăng lên 137 triệu người vào năm 2025. Tỉ lệ người cao tuổi trên thế giới
sẽ tăng liên tục từ 8% dân số năm 1950 lên 10% vào năm 2000 và gần 20% vào
năm 2050. Ở Việt Nam dự báo đến năm 2025 sẽ có trên 10 triệu người cao tuổi
chiếm tỉ lệ 15% dân số trên cả nước.
“Kính trên, nhường dưới”, “Kính lão, đắc thọ” là một trong những truyền
thống tốt đẹp, lâu đời của dân tộc Việt Nam. Trong xã hội ta, cũng như trong mỗi
gia đình, người cao tuổi luôn giữ một vị trí rất quan trọng. Vì vậy, Đảng và Nhà
nước ta luôn khẳng định người cao tuổi là một lực lượng xã hội đông đảo, quý giá
trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tuổi cao gương sáng người cao tuổi phát huy
trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, chiến đấu, học tập, đóng góp xây dựng gia đình

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây, người cao tuổi và các vấn đề của người cao tuổi đều
nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các chuyên
gia, học giả trong và ngoài nước. Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, tác giả
chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, bài viết, tạp chí tiêu biểu có nội
dung liên quan:
Cuốn sách “Trong miền an sinh hội-những nghiên cứu về tuổi già Việt Nam”
năm 2005 của tác giả Bùi Thế Cường, nghiên cứu người cao tuổi trong nghiên cứu
xã hội ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 1970, các nhà y khoa là những người đầu
tiên khai phá lĩnh vực nghiên cứu y học về người cao tuổi. Sau đó thành lập chương
trình Nghiên cứu Y học tuổi già và 10 năm sau trở thành đơn vị nghiên cứu Y học
Tuổi già của Bộ Y tế [14].
Cẩm nang “Sức khỏe người cao tuổi” của Ban công tác Câu lạc bộ Hội người
cao tuổi Việt Nam - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia cung cấp những kiến thức cần

9


thiết về việc chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là sức khỏe thể chất cho người cao tuổi.
Người cao tuổi thường có thói quen ít đi lại. Sự giảm hoạt động này là một trong
những nguyên nhân dẫn đến các rối loạn chức năng và bệnh lý của cơ thể mà chủ
yếu là các bệnh về xương khớp. Ngoài ra, ở người cao tuổi thường xuất hiện các
bệnh như: Cao huyết áp, xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ tim, tai biến,…Vì thế việc
rèn luyện thể lực là rất cần thiết. Tuy nhiên, trong cuốn sách cẩm nang vẫn chưa nói
đến các bệnh mà người cao tuổi thường gặp. Bên cạnh đó, chưa nói tới vấn đề dinh
dưỡng cho người cao tuổi. Sách chưa đề cập đến một số phương pháp để người cao
tuổi ở tại các cơ sở mái ấm không thể vận động được có cách chăm sóc sức khỏe
mình tốt hơn. Cuối cùng cuốn sách đã nhắc đến vấn đề tinh thần nhưng chưa đi sâu
vào cách chăm sóc đời sống tinh thần như thế nào phù hợp [8].
Tác phẩm “Tiếp cận văn hóa người cao tuổi” của Nguyễn Phương Lan: người

Công trình nghiên cứu “Một số vấn để cơ bản về người cao tuổi ở Việt Nam
giai đoạn 2011 - 2020” của Lê Ngọc Lân - Viện nghiên cứu Gia đình và giới - Viện
Khoa học xã hội Việt Nam. Đề tài đã đề cập tới một số nội dung như: khái niệm,
các tiếp cận nghiên cứu về người cao tuổi, kinh nghiệm nghiên cứu người cao tuổi ở
các nước và quan điểm của Đảng về người cao tuổi, một số vấn đề cơ bản về đời
sống của người cao tuổi hiện nay, một số vấn đề trong chăm sóc người cao tuổi
trong các gia đình, cộng đồng và xã hội. Đồng thời, đề tài cũng là cơ sở thực tiễn để
điều chỉnh chính sách nhằm phát huy hơn nữa vai trò của người cao tuổi và chăm
sóc người cao tuổi tốt hơn trong giai đoạn 2011 – 2015 [21].
Nghiên cứu “Khảo sát thu thập xử lý thông tin về người cao tuổi” năm 2007 do
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi
Việt Nam thực hiện. Nghiên cứu được tiến hành tại 8 tỉnh thuộc 8 vùng địa lý.
Nghiên cứu tập trung vào chủ đề: Đánh giá thực trạng vị thế và đời sống người cao
tuổi ở Việt Nam; đánh giá thực trạng việc thực hiện các chương trình, chính sách về
người cao tuổi. Trên cơ đó đề xuất một số giải pháp về chính sách nhằm phát huy vai
trò và nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi [4].
Đề tài “Hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi tại địa bàn thành phố Quy
Nhơn” năm 2011 của tác giả Phạm Quỳnh Anh tìm hiểu về các đặc trưng của hỗ
trợ xã hội đối với người cao tuổi (sức khỏe, y tế, tinh thần, vật chất), những yếu tố
văn hóa – xã hội của người cao tuổi và làm rõ việc hỗ trợ xã hội đối với người cao

11


tuổi thông qua sự trợ giúp về chăm sóc sức khỏe, trò chuyện, sinh hoạt hàng ngày.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng những vấn đề hỗ trợ xã hội cho người
cao tuổi, đề tài đưa ra các giải pháp và định hướng đối với việc hỗ trợ xã hội cho
người cao tuổi. Đề tài tiến hành nghiên cứu quá trình sống của 130 người cao tuổi
ở 3 khu vực (khu vực 1, 3, 8) của phường Nguyễn Văn Cừ, thành phố Quy Nhơn,
tỉnh Bình Định [1].

người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Long An.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn tỉnh Long An
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về đối tượng: công tác xã hội đối với người cao tuổi có nhiều nội
dung hoạt động, tuy nhiên trong phạm vi đề tài này tác giả tập trung nghiên cứu 05
nội dung hoạt động chủ yếu sau:
+ Hoạt động truyền thông về người cao tuổi
+ Hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe đối với người cao tuổi
+ Hoạt động hỗ trợ về tâm lý cho người cao tuổi
+ Hoạt động kết nối nguồn lực
+ Hoạt động hỗ trợ pháp lý cho người cao tuổi
- Phạm vi về khách thể: Đề tài nghiên cứu trên 110 người cao tuổi; Cán bộ
quản lý và nhân viên công tác xã hội làm việc với người cao tuổi các cấp; Cán bộ
đang làm việc ở các hội đoàn thể liên quan đến người cao tuổi; Gia đình có người
cao tuổi.
- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu giới hạn phạm vi về không gian chỉ
tập trung nghiên cứu người cao tuổi ở 3 khu vực đặc trưng của tỉnh Long An (đại diện
50 người cao tuổi tại thành phố Tân An, đại diện 30 người cao tuổi tại huyện Vĩnh
Hưng, đại diện 30 người cao tuổi tại huyện Đức Hòa).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: từ những đánh giá thực trạng về
đời sống của người cao tuổi, thực trạng của công tác xã hội đối với người cao tuổi
trên địa bàn rút ra những lý luận và đưa ra được những đề xuất về biện pháp nâng
cao hiệu quả công tác xã hội đối với người cao tuổi trên địa bàn tỉnh.
Những phát hiện của nghiên cứu này sẽ bổ sung thêm cơ sở lý luận, khoa học
cũng như phát triển hệ thống các lý luận, phương pháp trong nghiên cứu về các vấn



14


làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu nhất là phần đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm
thực hiện tốt công tác xã hội đối với người cao tuổi trong thời gian tới.
Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng chương trình SPSS để xử lý, phân
tích bảng hỏi; trích dẫn nội dung phỏng vấn sâu qua băng ghi âm, biên bản ghi chép
theo chủ đề phân tích.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Thông qua nghiên cứu này, có thể nhìn nhận vấn đề công tác xã hội đối với
người cao tuổi từ góc độ khoa học, mô tả, đánh giá vấn đề bằng những lý thuyết khoa
học liên quan đến ngành công tác xã hội, kiến thức thu được từ thực tiễn được bổ
sung sẽ làm phong phú thêm nguồn tham khảo cho việc phân tích lý luận về công tác
xã hội đối với người cao tuổi nói riêng và lý luận về công tác xã hội nói chung.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, cùng với sự phát triển và ảnh
hưởng mạnh mẽ của công nghiệp hóa – hiện đại hóa đã làm cho vấn đề già hóa dân
số cần được quan tâm hơn. Việc chăm lo đời sống của người cao tuổi không chỉ là
của cá nhân, gia đình, cộng đồng mà cả toàn xã hội. Công tác xã hội đối với người
cao tuổi là hoạt động cần thiết nhằm trợ giúp người cao tuổi vượt qua khó khăn,
giúp người cao tuổi đánh giá, xác định vấn đề, tìm kiếm tiềm năng, điểm mạnh từ
đó nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề. Từ đó tạo điều kiện để người cao tuổi có
thể tự nâng cao năng lực, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống của chính
bản thân người cao tuổi, góp phần giúp người cao tuổi sống vui, sống khỏe, sống
có ích. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện, công tác này còn gặp rất nhiều
khó khăn. Từ nghiên cứu này, tác giả mong muốn sẽ cung cấp những thông tin cụ
thể về thực trạng công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn tỉnh Long An;
đồng thời đề xuất một số giải pháp để bảo đảm thực hiện hiệu quả công tác xã hội

Theo qui ước của Liên Hiệp Quốc “Những người từ 60 tuổi trở lên không
phân biệt giới tính là người già” và chia làm hai nhóm tuổi (tuổi từ 60-74 là NCT và
tuổi từ 75 trở lên là người già).
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) phân chia các lứa tuổi người già làm ba
nhóm (Từ 60-74 tuổi: NCT; Từ 75-90 tuổi: người già và ngoài 90 tuổi: người già
sống lâu).
Tại Việt Nam, Luật NCT được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 6, quốc hội khóa XII quy định: “Người cao tuổi
là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên” [27, tr.01].
Theo quan điểm của Công tác xã hội: Với đặc thù là một nghề trợ giúp xã hội,
CTXH nhìn nhận về NCT như sau: NCT với những thay đổi về tâm sinh lý, lao động,
thu nhập, quan hệ xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống. Do đó, NCT
là một đối tượng yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp của cộng đồng [23, tr.82].
1.1.2. Đặc điểm về tâm sinh lý - xã hội của người cao tuổi
1.1.2.1. Đặc điểm về sinh lý

17


Ở người già hiện tượng lão hóa xuất hiện. Cường độ trao đổi chất giảm. Hệ hô
hấp tuần hoàn kém (nhịp thở yếu, lực co bóp tim yếu, huyết áp không ổn định...) độ
nhạy cảm giác quan kém (mắt mờ, tai nghễnh ngãng...). Khả năng chống đỡ tác nhân
ngoại cảnh kém, bệnh tật phát sinh [15, tr 82-83].
Ở độ tuổi này NCT thường mắc các bệnh như: bệnh huyết áp cao, tai biến mạch
máu não, đau đầu, giảm thị lực, loãng xương và một số bệnh liên quan đến hệ thần
kinh như Parkinxon làm cho tay chân rui rẩy, không điều khiển chính xác động tác,
hành động của mình, gây nhiều khó khăn cho tự phục vụ trong sinh hoạt, bệnh
Alzheimer làm cho trí nhớ NCT giảm sút, giảm khả năng suy nghĩ lôgic, sau đó biểu
hiện trong lời nói và kèm theo là rối loạn hành vi, hay gây gổ, đi lang thang...dần dần
không làm chủ được gì cho bản thân, không tự phục vụ được và cuối cùng là chết

thích hội họp, tìm lại bạn cũ, cảnh xưa, tham gia hội ái hữu, hội cựu chiến binh... Họ
thích ôn lại chuyện cũ, viết hồi ký, hệ thống lại quãng đời đã đi của mình, nhằm để lại
cho con cháu và hậu thế những trải nghiệm của cuộc đời.
Ở độ tuổi này là giai đoạn con người kết thúc thời kỳ lao động của mình để nghỉ
ngơi, thư giãn. Đây là tuổi hưu của con người. Khi chuyển từ trạng thái làm việc tích
cực, khẩn trương hàng ngày sang trạng thái nghỉ ngơi với cuộc sống mới. Người ta
cho rằng đây là những năm tháng dễ gây ra các “hội chứng về hưu” ở NCT.
1.1.2.3. Đặc điểm về xã hội
Người cao tuổi là người đã kết thúc giai đoạn lao động chính thức. Nhiều
người sau khi nghỉ hưu vẫn tham gia lao động dưới nhiều hình thức. Họ tiếp tục tạo
thu nhập bằng nghề nghiệp cũ, hoặc nhận những công việc mới phù hợp với sức
lực, hoặc đảm đương công việc nội trợ trong gia đình, hoặc trông nom các cháu.
Những suy nghĩ và việc làm của NCT không nhằm vào lợi ích kinh tế mà hướng
vào các giá trị xã hội nhằm khẳng định vị thế, sự hữu ích và uy tín với con cháu, với
cộng đồng.
Trong gia đình truyền thống hay gia đình hiện đại thì vai trò, chức năng của
NCT đều được điều chỉnh lại cho phù hợp với sức khỏe và tuổi tác của họ. Sự quan
trọng của NCT đối với gia đình không phụ thuộc quá nhiều vào việc họ có sống
cùng con cháu hay không. Trong cuộc sống gia đình, NCT vừa muốn sống độc lập
không phụ thuộc con cháu (nhất là về kinh tế), song họ đều muốn gần gũi với con
cháu, để tránh sự cô đơn, để được sự chăm nom, săn sóc lúc “trái nắng, trở trời”.

19


Những tác động của đời sống kinh tế - xã hội tạo ra những thay đổi quan trọng
trong đời sống NCT, ngoài những tiện ích của dịch vụ xã hội hỗ trợ, NCT tự cảm
thấy mình đang mất dần các uy thế và quyền lực. Do tuổi cao, sức yếu, NCT thường
là từ chối, ngại tham gia các hoạt động xã hội mang tính tập thể. Hạnh phúc nhất
của tuổi già chính là sự thanh thản với những sở thích cá nhân. Quan hệ giao tiếp xã

họ có thể tực túc hoạt động không cần phải được dẫn dắt. NCT vận động và yếu sức
không nên ở nhà tầng cao, vì phải leo cầu thang nhiều dễ ngã,…Đây là nhu cầu
không thể thiếu để NCT có thể tồn tại trong cuộc sống hàng ngày.
- Nhu cầu được an toàn: hầu hết NCT là người đã từng trải qua 2 cuộc đấu
tranh gian khổ để dành độc lập, do đó họ hiểu được sự tàn khốc, mất mát do chiến
tranh gây ra, chính vì vậy, ngày nay NCT luôn mong muốn được sống trong khung
cảnh hòa bình, được gia đình, người thân và cộng đồng đùm bọc, yêu thương, quan
tâm, chăm sóc và chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn cùng họ. Hơn nữa, NCT đang
sống trong giai đoạn cuối của cuộc đời, giai đoạn lão hóa nên không những chỉ ảnh
hưởng thể chất mà cả về tâm lý. Vì vậy, đối với NCT việc chăm sóc sức khỏe là vô
cùng cần thiết, từ chế độ ăn uống sinh hoạt, khám chữa bệnh, tạo điều kiện cho
NCT sống trong môi trường lành mạnh, ít căng thẳng.
- Nhu cầu thuộc về một nhóm nào đó: NCT là những người từng trải trong
cuộc sống, tích lũy nhiều kinh nghiệm quý báu, chính vì vậy NCT luôn có nhu cầu
giao tiếp, luôn cảm thấy mình vẫn có ích cho xã hội nên họ muốn tiếp tục cống hiến
những kiến thức, kinh nghiệm sống cho con cháu, gia đình và xã hội. Ở độ tuổi này,
NCT luôn muốn được quây quần vui cùng con cháu, được giao lưu với bạn bè, đồng
đội, được tham gia vào các tổ chức ở địa phương như Hội NCT, Hội cựu chiến
binh,…Nếu thiếu những mối quan hệ và tình cảm của những người thân, bạn bè thì
NCT rất dễ nảy sinh cảm giác cô đơn và đôi khi có thể tăng thêm quá trình lão hóa.
- Nhu cầu được tôn trọng: đối với NCT thì đây là một nhu cầu cực kì quan trọng
bởi lẽ họ là những người có nhiều công lao, đóng góp cho gia đình và xã hội, vì vậy
họ luôn muốn được gia đình, cộng đồng và xã hội tôn trọng, kính nể, xem họ là tấm
gương để noi theo và thừa nhận những thành quả mà họ đã cống hiến.
- Nhu cầu tự thể hiện bản thân: NCT mặc dù tuổi cao, sức khỏe yếu nhưng
NCT cũng mong muốn tự khẳng định mình và được xã hội tạo điều kiện để hoàn

21



22


chuyên môn góp phần giải quyết những vấn đề xã hội liên quan tới con người để
thỏa mãn những nhu cầu căn bản, mặt khác góp phần giúp cá nhân tự nhận thức về
vị trí, vai trò xã hội của mình.
- Như vậy, ta có thể hiểu một cách chung nhất theo như định nghĩa của tác giả
Bùi Thị Xuân Mai: CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp
các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng
cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách,
nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và
phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần đảm bảo ASXH [23, tr.3].
* Khái niệm công tác xã hội đối với người cao tuổi
Từ khái niệm CTXH, chúng ta có thể đưa ra khái niệm CTXH đối với NCT
như sau: CTXH đối với NCT là hoạt động chuyên nghiệp của CTXH nhằm trợ giúp
NCT đặc biệt là NCT gặp khó khăn trong cuộc sống để họ có điều kiện tự đánh giá,
xác định vấn đề, phát huy điểm mạnh từ đó nâng cao năng lực để tăng cường chức
năng xã hội, tự giải quyết vấn đề thông qua các hoạt động như truyền thông nâng
cao nhận thức, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ về tâm lý, kết nối nguồn lực, hỗ trợ
pháp lý cho người cao tuổi.
1.2.2. Nguyên tắc công tác xã hội trong làm việc với người cao tuổi
Trên cơ sở nền tảng triết lý và giá trị, nguyên tắc nghề nghiệp của ngành
CTXH người ta đưa ra hệ thống các qui tắc ứng xử cho nhân viên xã hội trong quá
trình thực hiệụ. Những qui tắc ứng xử này đóng vai trò như kim chỉ nam cho hành
động tương tác của nhân viên xã hội với đối tượng trong quá trình trợ giúp. Tuy
nhiên trong quá trình làm việc của CTXH đối với NCT cần bảo đảm một số nguyên
tắc cơ bản sau [23, tr.43- 45]:
* Nguyên tắc chấp nhận người cao tuổi
Đối tượng phục vụ của ngành CTXH là con người, đặc biệt là nhóm người yếu
thế, nhóm người có hoàn cảnh và nhu cầu chưa được đáp ứng. Thân chủ trong CTXH

gia của thân chủ, bởi hơn ai hết họ là người hiểu rõ nhất về hoàn cảnh, những khó
khăn của mình. Khi làm việc với NCT, NVCTXH chỉ đóng vai trò xúc tác, vai trò
định hướng trong quá trình trợ giúp thân chủ thực hiện giải pháp cho vấn đề của họ.
Đối với NCT, kinh nghiệm sống rất phong phú, họ đã trải qua nhiều sóng gió của

24


cuộc đời, kinh nghiệm được tích lũy trong suốt quãng đời trước đây sẽ là nguồn lực
hữu ích giúp họ tham gia tự giải quyết vấn đề.
* Nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của người cao tuổi
NVCTXH không quyết định thay NCT, không áp đặt mà chỉ đóng vai trò là
người xúc tác và giúp đỡ họ đưa ra quyết định đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh của
họ. NCT hơn ai hết bản thân biết mình cần gì, mong muốn gì, đồng thời cũng là
người hiểu hoàn cảnh của mình hơn tất cả những người khác vì họ là những người
có nhiều trải nghiệm cũng như kinh nghiệm sống rất phong phú.
Việc NCT tự đưa ra quyết định của mình giúp cho họ có trách nhiệm với việc
lựa chọn của mình, không lệ thuộc vào sự trợ giúp của NVCTXH. Thực hiện
nguyên tắc này cũng là cách mà NVCTXH sẽ giúp cho NCT tự tin hơn, từ đó nâng
cao khả năng tự ra quyết định của mình, khắc phục khó khăn để vươn lên trong
cuộc sống.
* Nguyên tắc giữ bí mật về các vấn đề cuả người cao tuổi
Cũng như các đối tượng khác, NCT luôn mong được giữ kín các thông tin sau
khi họ đã cung cấp cho chúng ta bởi lẽ họ vốn mặc cảm bởi thân phận, bởi tuổi tác,
hoàn cảnh mà họ đang gặp phải và vì vậy không phải với bất cứ ai họ cũng dễ dàng
dãi bày tâm sự. Nếu NVCTXH đảm bảo tốt nguyên tắc này thì sẽ xây dựng được
mối quan hệ tốt đẹp với NCT, tạo được lòng tin với NCT.
* Nguyên tắc phải luôn luôn ý thức được mình
NVCTXH luôn phải chứng tỏ năng lực, sự hiểu biết, tính chuyên nghiệp trong
công việc. Cần nắm rõ vai trò, nhiệm vụ của mình trong từng lúc từng nơi và trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status