VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHÙNG THỊ THƠM
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM TỰ KỶ
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHÙNG THỊ THƠM
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM TỰ KỶ
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI
TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
2.4. Dịch vụ công tác xã hội cá nhân qua việc điển cứu một ca trẻ tự kỷ................. 36
Chương 3: BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ
HỘI ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ TẠI TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH
THÁI NGUYÊN ...................................................................................................... 55
3.1. Cơ sở đề xuất biện pháp ..................................................................................... 55
3.2. Các biện pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ
tự kỷ........................................................................................................................... 56
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 68
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
STT
Tên đầy đủ
1
CTXH
Công tác xã hội
2
NVCTXH
Nhân viên công tác xã hội
Bảng 2.11: Đánh giá lợi ích của hoạt động tham vấn, tư vấn cho cha mẹ trẻ tự kỷ 31
Bảng 2.12: Các phương pháp trị liệu trẻ tự kỷ tại Trung tâm Công tác xã hội ........ 32
Bảng 2.13. Đánh giá mức độ tiến triển của TTK sau khi được trị liệu tại Trung tâm ....... 32
Bảng 2.14: Kết quả hoạt động truyền thông trực tiếp .............................................. 33
Bảng 2.15: Kết quả hoạt động truyền thông gián tiếp.............................................. 33
Bảng 2.16: Đánh giá lợi ích của hoạt động truyền thông, giáo dục nâng cao nhận
thức cho cha mẹ trẻ tự kỷ....................................................................... 34
Bảng 2.17: Mức độ thực hiện vận động, kết nối, giới thiệu nguồn lực dịch vụ trợ
giúp ........................................................................................................ 35
Bảng 2.18: Mức độ thực hiện các hoạt động biện hộ chính sách đối với việc đảm
bảo quyền lợi của trẻ tự kỷ .................................................................... 36
Bảng 2.19: Bảng phân tích điểm mạnh - điểm yếu của thân chủ.............................. 44
Bảng 2.20. Ma trận SWOT về thân chủ .................................................................... 45
Bảng 2.21: Kế hoạch giải quyết vấn đề .................................................................... 46
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của Trung tâm CTXH tỉnh Thái Nguyên ........... 20
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ sinh thái ......................................................................................... 39
Sơ đồ 2.3: Sơ đồ phả hệ ............................................................................................ 40
Sơ đồ 2.4: Tiến trình Công tác xã hội cá nhân .......................................................... 41
Sơ đồ 2.5: Vấn đề của thân chủ ................................................................................. 43
Sơ đồ 2.6: Mục tiêu can thiệp ................................................................................... 47
Sơ đồ 2.7: Các cấp độ can thiệp ................................................................................ 47
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, tự kỷ được xem là “căn bệnh” của thời đại, số lượng trẻ tự kỷ đang
gia tăng một cách đáng báo động ở mọi quốc gia trên thế giới, ở mọi chủng tộc,
cạnh đó, gánh nặng về kinh tế, thời gian chăm sóc trẻ tự kỷ cùng với những mâu
thuẫn, những khó khăn tâm lý đã trở thành nguy cơ đe dọa hạnh phúc gia đình nếu
gia đình không biết cách vượt qua vấn đề tự kỷ ở trẻ.
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên vẫn chưa thực sự có một cuộc khảo
sát hay nghiên cứu cụ thể nào đi sâu vào đề tài TTK. Trong khi số trẻ em đến khám
và điều trị tự kỷ tại Bệnh viện Chỉnh hình & phục hồi chức năng lại tương đối đông,
có xu hướng gia tăng. Tỉnh cũng chưa có một Trung tâm chuyên trách nào về vấn
đề trẻ tự kỷ, các dịch vụ CTXH cho nhóm đối tượng này mới được triển khai thực
hiện ở Trung tâm Công tác xã hội tỉnh từ năm 2013 đến nay với số lượng trẻ được
can thiệp vẫn còn hạn chế vì thiếu nhân lực và cơ sở vật chất. Vì vậy nhiều gia đình
còn phải vất vả đưa con lên các thành phố lớn để điều trị. Đây là bệnh không thể
chữa trị dứt điểm, hơn nữa phải điều trị trong một thời gian dài và liên tục nên gây
ra nhiều khó khăn cả về thời gian, kinh tế lẫn sức khỏe của trẻ tự kỷ và gia đình trẻ.
Vì những lý do trên tôi cho rằng việc thực hiện nghiên cứu đề tài "Dịch vụ Công
tác xã hội đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm công tác xã hội tỉnh Thái
Nguyên" vào thời điểm này là thực sự cần thiết. Từ kết quả nghiên cứu, tôi xin
được đưa ra cái nhìn tổng quan về hội chứng tự kỷ, những hành vi bất thường được
nhận diện ở trẻ tự kỷ, đồng thời chỉ ra tính cần thiết của dịch vụ CTXH trong việc
hỗ trợ trẻ tự kỷ cũng như gia đình trẻ và đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ tại tỉnh Thái
Nguyên, góp phần thúc đẩy nghề CTXH phát triển, đảm bảo an sinh xã hội.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, số lượng trẻ tự kỷ ngày một
gia tăng. Do những ảnh hưởng sâu sắc của hội chứng tự kỷ đối với sự phát triển lâu
dài của trẻ, gia đình trẻ và xã hội nên hội chứng này đang ngày càng thu hút được
sự quan tâm chú ý của các nhà giáo dục học, tâm lý học, xã hội học... và gần đây là
CTXH.
2
3
kỷ. Nghiên cứu này được thực hiện tại một trường đại học ở Washington, nằm trong
chuỗi chương trình chuyên biệt nhằm tìm hiểu về các phương pháp cải thiện nhận
thức và phản ứng của bộ não trẻ tự kỷ. Đứng đầu nhóm nghiên cứu, bà Geraldine
Dawson cho biết: “Quá trình lớn lên và tiếp thu của một đứa trẻ đang tập đi ảnh
hưởng rất nhiều đến khả năng tương tác xã hội hàng ngày của các em. Riêng đối với
những đứa trẻ mắc chứng tự kỷ thì sự can thiệp sớm của cộng đồng sẽ giúp các bé
nhận được sự tương tác, quan tâm của cộng đồng" [19, tr.6].
Ngày 11/4 được Liên Hợp Quốc chọn làm ngày tự kỷ (Autism Awareness
Day). Theo báo cáo của Bộ Y tế Trung Quốc, nước này có khoảng 1,6 triệu trẻ tự kỷ
(2006). Với đặc trưng là để lại hậu quả lâu dài trong suốt cuộc đời. Về mặt nhân văn
đây là vấn đề xã hội cần hỗ trợ, can thiệp; về mặt kinh tế xã hội, việc can thiệp sớm
sẽ giúp giảm bớt gánh nặng kinh tế xã hội. Nghiên cứu của Mỹ cho biết con số đánh
giá đối với những trẻ sinh vào năm 2000, toàn bộ chi phí chi suốt cuộc đời một đứa
trẻ tự kỷ là 3,74 triệu đô la Mỹ, trong đó cho phí lớn nhất là mất sức lao động chiếm
60% tổng chi phí. Như vậy, với số lượng lớn trẻ tự kỷ, tổn hại do không có khả
năng lao động là một con số rất lớn [12, tr.15].
Sự tham gia của công tác xã hội trong việc nghiên cứu, hỗ trợ trẻ tự kỷ cũng
như gia đình có trẻ tự kỷ trên thế giới đã và đang dành được nhiều sự quan tâm của
các nhà hoạt động công tác xã hội cũng như các tổ chức xã hội khác. Điều này
khẳng định tầm quan trọng của chuyên ngành CTXH trong lĩnh vực tự kỷ.
2.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về tự kỷ và dịch vụ công
tác xã hội đối với trẻ tự kỷ
Ở Việt Nam nghiên cứu về trẻ tự kỷ chỉ mới được bắt đầu nghiên cứu vào
khoảng thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Từ năm 2015 trở lại đây, vấn đề trẻ tự kỷ đã
được nhiều ngành quan tâm nghiên cứu như tâm lý học, giáo dục học, y học... Một
loạt các Trung tâm nuôi dạy trẻ tự kỷ ra đời, các Bệnh viện mở ra các khoa để can
khai thác dưới góc độ hành vi văn hóa sơ đẳng nhưng là cơ bản, phổ biến, đặc trưng
cho lứa tuổi mẫu giáo lớn. Đó là những kỹ năng mang tính nền tảng làm cơ sở để
giáo dục và phát triển sau này cho trẻ ở cấp tiểu học [11, tr.8].
Năm 2014, Nguyễn Thị Thanh đã hoàn thành luận án tiến sĩ với đề tài “ Biện
pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỉ từ 3 – 4 tuổi”, luận án đi sâu nghiên
5
cứu việc phát triển các kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ nói chung và trẻ từ 3 – 4 tuổi
nói riêng [11, tr.9].
Tóm lại, từ kết quả các nghiên cứu được dẫn ra trên đây, đã giúp khẳng định
được một số vấn đề sau: Các đề tài nghiên cứu này đều chưa đề cập đến khía cạnh
kết hợp sự tham gia của các nguồn lực gia đình, xã hội vào hỗ trợ trẻ tự kỷ; chưa
nói đến vai trò, quy trình nghiệp vụ mà NVCTXH sử dụng để hỗ trợ trẻ tự kỷ giảm
thiểu những hành vi bất thường trong giao tiếp, hay chưa kết nối được các dịch vụ
xã hội trong CTXH để hỗ trợ trẻ tự kỷ cũng như gia đình trẻ.
Mặc dù vậy những tài liệu, nghiên cứu đã được công bố nói trên luôn là những
tài liệu tham khảo quan trọng và bổ ích để tôi đi sâu nghiên cứu và thực hiện nghiên
cứu đề tài "Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm
Công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên".
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng dịch vụ công tác xã hội
đối với trẻ tự kỷ, đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã
hội đối với trẻ tự kỷ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lý luận về trẻ tự kỷ và dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ.
Phân tích thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ tại Trung tâm
Công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên.
các yếu tố khách quan và chủ quan.
- Thuyết nhu cầu: Tiếp cận theo nhu cầu của TTK là cách tiếp cận dựa trên
việc đáp ứng tốt nhất các dịch vụ CTXH đối với các nhu cầu của TTK. Đây là
những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của trẻ em khuyết tật nói chung và TTK
nói riêng. Vận dụng thuyết nhu cầu của A.Maslow trong nghiên cứu chúng tôi tìm
hiểu các nhu cầu của TTK tại Trung tâm CTXH tỉnh Thái Nguyên và xem xét việc
bảo đảm các nhu cầu đó như thế nào qua việc cung cấp dịch vụ công tác xã đối với
nhóm trẻ này tốt hay chưa, vì sao.
- Thuyết vai trò: Đối với cán bộ, NVCTXH cung cấp dịch vụ CTXH cho TTK,
vai trò thể hiện ở việc tổ chức, thực hiện, quản lý, điều phối dịch vụ CTXH đối với
TTK: Sàng lọc, chẩn đoán, đánh giá nhu cầu, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện; tham
7
vấn; trị liệu; tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức; vận động, kết nối, giới thiệu
nguồn lực dịch vụ trợ giúp; biện hộ, bảo vệ chính sách.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu, văn bản
Sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, văn bản là tiến hành phân loại, lựa
chọn, khái quát, so sánh thông tin từ các tài liệu, văn bản như: Nghị định, Thông tư,
Quyết định, chính sách, sách, báo, thông tin trên Internet, các kết quả nghiên cứu có
liên quan đến đề tài nhằm tìm ra những nội dung, những vấn đề có liên quan đến
dịch vụ CTXH đối với trẻ tự kỷ, trên cơ sở đó xác định xem những vấn đề gì được
giải quyết và những vấn đề gì chưa được giải quyết.
5.2.2. Phương pháp quan sát
Là phương pháp thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu bằng cách quan sát,
theo dõi và ghi chép các biểu hiện, hành vi bất thường của trẻ tự kỷ để đánh giá mức độ
đốivới trẻ tự kỷ như: Các khái niệm, các loại dịch vụ CTXH đối với trẻ tự kỷ.
Nghiên cứu làm rõ thêm về phương pháp trợ giúp trẻ em bị rối nhiễu tâm trí,
tự kỷ dưới cách tiếp cận của dịch vụ công tác xã hội.
6.2. Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp nâng cao nhận thức của xã hội, cộng đồng về vai
trò của NVCTXH và hệ thống dịch vụ CTXH trong hoạt động trợ giúp TTK. Những
phát hiện của nghiên cứu sẽ làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chương
trình, kế hoạch cung cấp dịch vụ CTXH chuyên nghiệp cho TTK tại tỉnh Thái
Nguyên; đồng thời xây dựng hệ thống cung cấp dịch vụ CTXH chuyên nghiệp trợ
giúp TTK tại Trung tâm CTXH tỉnh Thái Nguyên.
Góp phần giúp những người quản lý, những nhà lãnh đạo, có thêm cái nhìn
toàn diện, sâu sắc tích cực trong hoạt động cung cấp dịch vụ CTXH đối với TTK.
Giúp cho cha mẹ TTK nhận ra vấn đề và tiềm năng giải quyết vấn đề của mình. Bên
cạnh đó, hiểu rõ các dịch vụ trợ giúp của công tác xã hội trong lĩnh vực này.
Giúp cho nhân viên công tác xã hội nói riêng và các ngành có liên quan hiểu
biết thêm về trẻ tự kỷ, các dịch vụ hỗ trợ của công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ và
9
những yêu cầu cần thiết để trở thành nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp trong
lĩnh vực chăm sóc, trợ giúp trẻ tự kỷ.
Bên cạnh đó, đề tài nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo
dành cho người làm nghề CTXH, giáo viên dạy TTK cũng như phụ huynh có trẻ
mắc hội chứng tự kỷ.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mục lục, Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Danh mục tài liệu
tham khảo; nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ
Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ từ thực tiễn
chí của DSM-IV-TR để chẩn đoán hội chứng Asperger, 85% trẻ có bệnh sẽ được
chẩn đoán là không có bệnh. Như vậy, các tiêu chí dành cho hội chứng Asperger
trong DSM-IV-TR chưa phù hợp. Thực tế, các bác sĩ thường chẩn đoán hội chứng
Asperger nếu trẻ có các dấu hiệu của bệnh tự kỷ nhưng không bị chậm nói.
11
Bảng 1.1: Các tiêu chí dùng trong DSM-IV-TR
Nhóm triệu
Tiêu chí chẩn
Hành vi
chứng
đoán bệnh tự kỷ
1. Khi giao tiếp với người khác, trẻ ít dùng cử Có ít nhât 2 hành vi
Nhóm 1:
Hạn chế khả chỉ, dáng điệu, biểu hiện khuôn mặt hay giao thuộc nhóm này
năng tương tiếp bằng mắt.
tác xã hội
2. Không có bạn cùng trang lứa.
3. Không chủ động chia sẻ sở thích và niềm
vui với người khác.
thích
chế
hạn cứng nhắc.
3. Có hành vi vận động lặp đi lặp lại và thường
thấy ở trẻ tự kỷ (như vỗ tay, xoay vòng tròn,
v.v.).
4. Chú ý đến một số bộ phận nhất định của đồ
vật
(Nguồn: [25, tr.163 - 167])
12
* Hệ thống phân lo i bệnh tật thế giới (International Classification of
Diseases, ICD).
Theo Hệ thống phân loại bệnh tật thế giới (ICD-10) của Tổ chức Y tế thế giới,
bệnh tự kỷ là bệnh rối loạn phát triển lan tỏa với các triệu chứng như hạn chế khả
năng tương tác xã hội, hạn chế khả năng giao tiếp và có hành vi kém đa dạng, lặp đi
lặp lại (WHO, 1992) [28, tr. 412]. Bệnh phát hiện trước 3 tuổi và tỉ lệ mắc bệnh ở
nam cao gấp 3 - 4 lần ở nữ. Những tiêu chí để chẩn đoán bệnh là:
Một là, trẻ không có khả năng tương tác xã hội như các trẻ cùng tuổi.
Hai là, hành vi và sở thích của trẻ kém đa dạng, trẻ thường lặp đi lặp lại một số
hành vi nhất định.
1.1.3. Trẻ tự kỷ
1.1.3.1. Khái niệm trẻ tự kỷ
Qua lược khảo khái niệm TTK của một số công trình đã công bố, khái niệm TTK
trong luận văn này được tôi đưa ra như sau:“Trẻ tự kỉ là trẻ bị mắc một d ng rối lo n
trong nhóm rối lo n phát triển lan tỏa, trẻ bị tự kỷ có những rối lo n về nhiều mặt,
nhưng biểu hiện rõ nhất là rối lo n về giao tiếp, quan hệ x hội và hành vi .
với hội chứng phân rã tuổi ấu thơ là tự kỷ nặng có thoái lùi phát triển.
Đặc điểm về giao tiếp: Trẻ bị suy giảm nhiều trong tương tác qua lại với
mọi người, hầu hết TTK biểu hiện sự cô lập, thích chơi một mình, tránh giao
tiếp với các bạn. Trong giao tiếp hàng ngày TTK không quan tâm đến lời nói
của đối tượng giao tiếp.
1.2. Lý luận về dịch vụ công tác xã hội
1.2.1. Khái niệm công tác xã hội
Từ thực tiễn hoạt động công tác xã hội ở Việt Nam, Bùi Thị Xuân Mai đưa ra
khái niệm công tác xã hội như sau:
“Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các
các nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường
chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và
dịch vụ nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các
vấn đề xã hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội” [7, tr. 19].
Trong luận văn này, chúng tôi đồng ý với khái niệm của tác giả Bùi
Thị Xuân Mai và sử dụng khái niệm này làm khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài
luận văn này.
14
1.2.2. Khái niệm dịch vụ công tác xã hội
Dịch vụ công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực công tác xã
hội mà ở đó Nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) sử dụng những kiến thức, kỹ
năng, phương pháp chuyên môn nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng
cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường thực hiện chức năng xã hội, đồng thời
thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ trợ giúp cá nhân,
gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần bảo
đảm an sinh xã hội.
1.3. Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ
vì vậy cần phải có kiến thức và kỹ năng tốt, có trình độ chuyên môn sâu, biết đánh
giá các nhu cầu mong muốn đích thực của cha mẹ TTK, xác định được những
nguồn lực phù hợp với nhu cầu của cha mẹ có con bị tự kỷ để từ đó cung cấp, kết
nối một cách có hiệu quả những nhu cầu và nguồn lực đó.
1.3.2.2. Tham vấn/tư vấn cho gia đình trẻ tự kỷ
Trong các dịch vụ CTXH trợ giúp trẻ bị tự kỷ thì tham vấn, tư vấn luôn là hoạt
động chủ đạo vì nó hướng tới mục đích nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề cho
cha mẹ có con bị tự kỷ. Các hoạt động tham vấn/tư vấn được thực hiện theo quy
trình: 1/Thiết lập mối quan hệ; 2/Thu thập thông tin, xác định vấn đề, phân tích
điểm mạnh, điểm yếu; 3/Hệ thống hoá các thông tin; 4/Tìm kiếm các giải pháp hỗ
trợ; 5/Khái quát và truyền tải nội dung cho phụ huynh TTK; 6/Kết thúc.
Trong hoạt động tham vấn, NVCTXH đóng vai trò là nhà tham vấn, cung cấp
thông tin kiến thức, kỹ năng, tạo sự thay đổi. Để hoạt động tham vấn, tư vấn đạt
hiệu quả, NVCTXH cần có kiến thức toàn diện, kỹ năng tốt và sẵn sàng giúp cha
mẹ trẻ tự kỷ xử lý mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống của trẻ và gia đình.
1.3.2.3. Trị liệu
Trên cơ sở kế hoạch can thiệp tổng thể của trẻ, NVCTXH xây dựng kế hoạch
trị liệu 3 tháng, từng tháng, từng tuần cho từng trẻ dựa trên kết quả đánh giá nhu cầu
toàn diện của từng trẻ, xác định mục tiêu, hoạt động, phương pháp, thời gian và
người thực hiện. Căn cứ kế hoạch tuần, NVCTXH xây dựng giáo án trị liệu hàng
ngày cho trẻ.
Các phương pháp trị liệu TTK bao gồm: Trị liệu cảm giác; Luyện tập hành vi
tích cực; Phương pháp chỉnh âm và trị liệu ngôn ngữ; Hoạt động thể chất; Trị liệu
thông qua các môn nghệ thuật; Máy vi tính.
16
1.3.2.4. Truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức
Nhân viên CTXH tổ chức các hoạt động truyền thông, giáo dục nâng cao nhận
thức, kỹ năng cho cha mẹ trẻ tự kỷ và cộng đồng:
Luật Người khuyết tật; Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/03/2010 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 20102020;…[16, tr.35]
Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước, trong giai đoạn vừa
qua, công tác chăm sóc và phục hồi chức năng cho người khuyết tật và TTK đã
phần nào đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của các gia đình trẻ, góp phần quan
trọng thực hiện chính sách an sinh xã hội và ổn định tình hình.
Năm 2006, Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy định về giáo dục hòa
nhập dành cho ngư i khuyết tật (23/2006/QĐ-BGD&ĐT). Theo quy định này,
người khuyết tật được định nghĩa là “Ngư i khuyết tật, không phân biệt nguồn gốc
gây ra khuyết tật, là ngư i bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy
giảm chức năng biểu hiện dưới những d ng tật khác nhau, làm giảm khả năng ho t
động, khiến cho việc sinh ho t, học tập, lao động gặp nhiều khó khăn.
Mục tiêu giáo dục hòa nhập cho người khuyết tật là: 1) Giúp người khuyết tật
được hưởng quyền học tập bình đẳng như những người học khác; 2) Tạo điều kiện
và cơ hội cho người khuyết tật học văn hóa, học nghề, phục hồi chức năng và phát
triển khả năng của bản thân để hòa nhập cộng đồng. Nguồn tài chính cho giáo
dục hòa nhập người khuyết tật bao gồm ngân sách nhà nước; tài trợ, viện trợ, quà
tặng của các tổ chức xã hội, cá nhân trong nước và ngoài nước; các nguồn thu
hợp pháp khác…
Năm 2013, Bộ Giáo dục Đào tạo và Bộ Lao động Thương binh Xã hội đã ban
hành Quy định về Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập. Trong quy định
nêu rõ điều kiện và thủ tục thành lập, hoạt động, đình chỉ hoạt động, tổ chức lại, giải
thể Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập. Với hai loại hình công lập và
ngoài công lập, Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập là cơ sở cung cấp nội
dung chương trình, thiết bị, tài liệu dạy và học, các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ giáo dục,
tổ chức giáo dục phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh của người khuyết tật.
18