Dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng từ thực tiễn trung tâm phụng dưỡng người có công với cách mạng thành phố đà nẵng - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN VĂN NAM

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG
VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤNG
DƯỠNG NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60. 90. 01. 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. PHẠM HỮU NGHỊ

HÀ NỘI - 2016


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt luận văn này, lời đầu tiên cho phép tôi được gửi lời cảm
ơn chân thành đến Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Cục Bảo trợ xã hội, Học
viện Khoa học Xã hội, Học viện Xã hội Châu Á, cơ sở học viện tại thành phố Hồ
Chí Minh, các thầy, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn, truyền đạt kiến thức
lý thuyết và kỹ năng chuyên môn trong suốt khóa học. Đặc biệt tôi xin cảm ơn là
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hữu Nghị đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành
luận văn trong thời gian qua.
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Trung tâm phụng dưỡng
người có công với cách mạng thành phố Đà Nẵng đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu

cách mạng ..............................................................................................................24
1.5. Thể chế dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng ........27
Chương 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI
CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TẠI TRUNG TÂM PHỤNG DƯỠNG
NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .................33
2.1. Giới thiệu về Trung tâm phụng dưỡng người có công với cách mạng thành
phố Đà Nẵng ..........................................................................................................33
2.2. Thực trạng và nhu cầu của người có công với cách mạng tại Trung tâm
phụng dưỡng người có công với cách mạng thành phố Đà Nẵng .........................37
2.3. Tình hình thực hiện dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách
mạng từ thực tiễn Trung tâm phụng dưỡng người có công với cách mạng thành
phố Đà Nẵng. .........................................................................................................45
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN DỊCH
VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤNG DƯỠNG NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI
CÁCH MẠNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ............................................................62
3.1. Các định hướng bảo đảm thực hiện dịch vụ công tác xã hội đối với người có
công với cách mạng ...............................................................................................62
3.2. Các giải pháp bảo đảm thực hiện dịch vụ công tác xã hội đối với người có
công với cách mạng từ thực tiễn Trung tâm phụng dưỡng người có công với cách
mạng thành phố Đà Nẵng ......................................................................................65
KẾT LUẬN ..............................................................................................................72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................74
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CTXH


Bảng 2.2. Phân loại giới tính NCCVCM ...........................................................37
Bảng 2.3. Phân loại theo độ tuổi NCCVCM .....................................................38
Bảng 2.4. Phân loại về sức khỏe NCCVCM .....................................................39
Bảng 2.5. Phân loại về bệnh tật NCCVCM .......................................................39
Bảng 2.6. Số lượng NCCVCM hưởng trợ cấp ..................................................41
Bảng 2.7. Mức độ hài lòng về cuộc sống ..........................................................45


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau những năm tháng tham gia chiến đấu, công tác ở những nơi gian khổ trở
về với cuộc sống đời thường những NCCVCM họ gặp nhiều khó khăn hơn để theo
kịp nhịp sống thay đổi từng ngày. Bởi hầu hết họ tuổi đã cao, sức khỏe suy giảm
nhiều thương tật, bệnh tật, thiếu thốn kinh nghiệm trong làm ăn, không có nguồn
vốn để đầu tư, trình độ tay nghề thấp hoặc không có. Chính vì vậy đời sống của
NCC và gia đình của họ hầu hết còn gặp nhiều khó khăn, mức sống của họ chưa thể
bằng so với mức sống người dân nơi cư trú.
CTXH với NCCVCM là một trong những chính sách được Đảng và Nhà
nước ta rất chú trọng. Những chính sách cho NCCVCM như: chính sách bảo hiểm y
tế, chính sách chăm sóc sức khỏe, chính sách ưu đãi về kính tế, chính sách trợ cấp
đã được ban hành và thực hiện. Hơn nữa, được sự chung tay góp sức của toàn cộng
đồng, những chính sách này trong nhiều năm qua đã đạt được một số thành tựu
đáng khích lệ. Tuy nhiên, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, chăm sóc sức khỏe và
nâng cao đời sống, tinh thần cho NCCVCM vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. Chúng
ta vẫn thiếu các nguồn lực để có thể thực hiện một cách tốt nhất công việc này.
Thêm vào đó, những năm qua do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, của thiên tai
hạn hán, lũ lụt thường xuyên nên điều kiện phát triển kinh tế- xã hội của đất nước
càng gặp nhiều khó khăn. Vì thế, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, đặt biệt là hoạt
động CTXH đối với NCCVCM vẫn chưa có điều kiện quan tâm, đầu tư đúng mức,
nhiều chương trình, hoạt động còn mang tính hình thức, phòng trào “Đền ơn đáp

dịch vụ CTXH đối với NCCVCM đáp ứng nhu cầu và đạt hiệu quả hơn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
ANN MCDONALD (2010) trong cuốn sách “Social Work with Older
People”, First published by polity presss. Tác giả trình bày các khung lý thuyết có
thể ứng dụng trong thực hành CTXH với người cao tuổi và một số cách tiếp cận
trong thực hành CTXH với người cao tuổi. Những khó khăn, những vấn đề phát
sinh trong làm việc với người cao tuổi.
Chính sách NCCVCM đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu và công
bố các kết quả nghiên cứu. Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã có điều kiện

2


tiếp cận các công trình như sau:
- Nguyễn Đình Liêu (1996), Luận án Phó tiến sĩ khoa học luật học: “Hoàn
thiện pháp luật ưu đãi NCCVCM ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn”.
- Nguyễn Thị Tuyết Mai (2009), Luận văn thạc sĩ luật học: “Hoàn thiện pháp
luật ưu đãi xã hội ở Việt Nam”.
Bên cạnh đó có những nghiên cứu, bài viết có nội dung liên quan đến đề tài
luận văn này, như:
- Nguyễn Văn Thành (1994), Luận án tiến sĩ kinh tế: “Đổi mới chính sách
kinh tế - xã hội đối với NCC ở Việt Nam”.
- Đỗ Thị Dung (2010), “Đối tượng hưởng ưu đãi xã hội và một số kiến nghị”,
Tạp chí Luật học, (số 8), tr. 10-17.
- Hoàng Công Thái (2005), “Thực hiện chính sách ưu đãi xã hội đối với
NCC”, Tạp chí Quản lý nhà nước, (số 7), tr. 28-31.
- Nguyễn Hiền Phương (2008), “Quan niệm về ASXH trên thế giới và ở Việt
Nam”, Tạp chí Luật học, (số 1), tr. 45-54.
- Lê Thị Hoài Thu (2006), Đề cương bài giảng Pháp luật ASXH Việt Nam chương trình đào tạo sau đại học.
- Vũ Thị Vân Anh (2015), Công tác xã hội đối với thương binh từ thực tiễn

- Tìm hiểu và đánh giá thực trạng NCCVCM.
- Tìm hiểu và đánh giá thực trạng dịch vụ CTXH đối với NCCVCM tại
Trung tâm phụng dưỡng NCCVCM thành phố Đà Nẵng.
- Từ thực trạng đưa ra định hướng và giải pháp bảo đảm thực hiện dịch vụ
CTXH đối với NCCVCM từ thực tiễn Trung tâm phụng dưỡng NCCVCM thành
phố Đà Nẵng.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loại hình dịch vụ CTXH đối với
NCCVCM.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu các dịch vụ
CTXH đối với NCCVCM đó là dịch vụ hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ tâm lý, kết
nối nguồn lực, hỗ trợ vật chất, tinh thần và vui chơi, giải trí, nơi ăn, chốn ở.
Thời gian thực hiện nghiên cứu: từ tháng 02/2016 đến 6/2016
- Về khách thể nghiên cứu:

4


+ NCCVCM tại Trung tâm phụng dưỡng NCCVCM thành phố Đà Nẵng
+ Nhân viên CTXH trong hỗ trợ dịch vụ CTXH đối với NCCVCM
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Thông qua nghiên cứu, thu thập, xử lý, khái quát hóa những thông tin, những
nghiên cứu thuộc các vấn đề liên quan từ quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử,
chủ nghĩa duy vật biện chứng, từ đó phân tích, tổng hợp nhằm xây dựng cơ sở lý
luận cho vấn đề nghiên cứu: “Dịch vụ CTXH đối với NCCVCM từ thực tiễn Trung
tâm phụng dưỡng NCCVCM thành phố Đà Nẵng”.
5.2. Phương pháp nghiên cứu

làm phong phú thêm nguồn tham khảo cho việc tìm hiểu lý luận về NCCVCM ở
khía cạnh dịch vụ CTXH. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu có thể là nguồn tư liệu tham
khảo ý nghĩa cho các nghiên cứu sau trong lĩnh vực này.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Là cơ sở để các cơ quan, ban ngành, đoàn thể trong quá trình hoạch định, xây
dựng chính sách có những chính sách phù hợp để hoàn thiện và nâng cao chất lượng
dịch vụ CTXH đối với NCCVCM tại Việt Nam nói chung, tại thành phố Đà Nẵng
nói riêng; đồng thời có thể mở rộng mức độ nghiên cứu dịch vụ CTXH đối với
NCCVCM trên phạm vi lớn hơn.
Từ vấn đề này, mọi người thấy được thực trạng của dịch vụ CTXH đối với
NCCVCM đang ở mức như thế nào, đã tương xứng với nhu cầu thực tế hay chưa
qua đó có cái nhìn tích cực hơn khi xem xét thực trạng này.
Nghiên cứu góp phần cung cấp thông tin với địa phương và các tổ chức xã
hội, đề xuất các phương án cũng như khuyến nghị để có các chính sách hỗ trợ giúp
NCCVCM có cuộc sống tốt hơn và hòa nhập cộng đồng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
luận văn chia làm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với
NCCVCM.
Chương 2. Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với NCCVCM từ thực tiễn
Trung tâm phụng dưỡng NCCVCM thành phố Đà Nẵng.
Chương 3. Định hướng và giải pháp bảo đảm thực hiện dịch vụ công tác xã
hội đối với NCCVCM từ thực tiễn Trung tâm phụng dưỡng NCCVCM thành phố
Đà Nẵng.

6


Chương 1



Theo nghĩa hẹp: “NCC là những người không phân biệt tôn giáo, tín
ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc
trong thời kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến
giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
công nhận theo qui định của pháp luật”. Ở khái niệm này, NCC bao gồm người
tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời mình hoặc một phần
thân thể hoặc có thành tích đóng góp cho sự nghiệp cách mạng [18, tr.19].
Từ khái niệm trên, có thể rút ra một số đặc điểm của NCC như sau:
Thứ nhất, NCC bao gồm người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy
sinh cả cuộc đời mình hoặc một phần thân thể hoặc có thành tích đóng góp cho sự
nghiệp cách mạng.
Thứ hai, NCC là người có thành tích đóng góp hoặc cống hiến xuất sắc và vì
lợi ích của dân tộc, những đóng góp, cống hiến của họ có thể là trong các cuộc
kháng chiến chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc và cũng có thể là trong công
cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Thứ ba, phạm trù NCC rất rộng, trong phạm vi hẹp, đối tượng NCC là những
NCC trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở
thời kỳ cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Hơn nữa, chính
sách NCCVCM chủ yếu điều chỉnh đối tượng này.
Ở nước ta trong Pháp lệnh Ưu đãi NCCVCM có quy định: NCCVCM bao gồm:
- Là những NCCVCM được quy định tại Pháp lệnh ưu đãi NCCVCM, cụ
thể:
+ Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 là người
được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng
trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 [33, tr.3].
+ Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi
nghĩa tháng 8 năm 1945 là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đứng
đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly hoạt động cách mạng kể từ

+ Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả
năng lao động từ 61% trở lên khi xuất ngũ về gia đình được cơ quan, đơn vị có thẩm
quyền cấp “Giấy chứng nhận bệnh binh” thuộc một trong các trường hợp theo quy

9


định tại mục 15, khoản 1, Điều 23 được sửa đổi bổ sung của Pháp lệnh số
04/2012/UBTVQH13 [33, tr.10].
+ Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học là người được cơ
quan có thẩm quyền công nhận đã tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu
từ tháng 8 năm 1961 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 tại các vùng mà quân đội Mỹ
sử dụng chất độc hoá học và do nhiễm chất độc hoá học dẫn đến một trong các
trường hợp: mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên; vô sinh; sinh
con dị dạng, dị tật [33, tr.11-12].
+ Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù,
đày là người được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền công nhận trong thời
gian bị tù, đày không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng chiến, không làm
tay sai cho địch [31, tr.12].
+ Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm
nghĩa vụ quốc tế là người tham gia kháng chiến được tặng Huân chương kháng
chiến, Huy chương kháng chiến [31, tr.12].
+ NCC giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng
trong lúc khó khăn, nguy hiểm, bao gồm: Người được tặng Kỷ niệm chương “Tổ
quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước”; người trong gia đình được tặng Kỷ
niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước” trước cách mạng
tháng Tám năm 1945; người được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương
kháng chiến; người trong gia đình được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy
chương kháng chiến [31, tr.13].
- Một số đặc điểm của NCCVCM:

người. Việc đáp ứng các nhu cầu con người chính là động cơ thúc đẩy con người
tham gia hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội.
Theo quan điểm của A.Maslow thì nhu cầu của con người được chia thành
năm nhu cầu theo thứ tự nấc thang đó là: nhu cầu sống, nhu cầu an toàn, nhu cầu
thuộc về một nhóm nào đó, nhu cầu được tôn trọng và cuối cùng là nhu cầu hoàn
thiện.
Vận dụng lý thuyết nhu cầu của A.Maslow trong nghiên cứu tác giả tìm hiểu
nhu cầu của những NCCVCM theo năm bậc thang về nhu cầu. Từ đó xem xét các
nhu cầu nào đã được đảm bảo, nhu cầu nào chưa được đảm bảo, đảm bảo ở mức độ

11


nào, có ưu tiên đáp ứng nhu cầu nào trước, nhu cầu nào sau hay theo trình tự các
bậc nhu cầu của nhà tâm lý học A.Maslow.
Dựa theo thang nhu cầu của Maslow thì theo tác giả Vũ Thị Vân Anh nhận
thấy hiện nay NCCVCM đang có những nhu cầu như sau:
- Đầu tiên là về nhu cầu sống thì sau những năm tháng tham gia chiến đấu,
công tác ở những nơi gian khổ trở về với cuộc sống đời thường những NCCVCM
họ gặp nhiều khó khăn hơn để theo kịp nhịp sống thay đổi từng ngày. Bởi hầu hết
họ tuổi đã cao, sức khỏe suy giảm nhiều vì thương tật, thiếu thốn kinh nghiệm trong
làm ăn, không có nguồn vốn để đầu tư, trình độ tay nghề thấp hoặc không có, chính
vì vậy đời sống của họ hầu hết còn gặp nhiều khó khăn, mức sống của họ đa phần
chưa thể bằng so với mức sống người dân nơi cư trú. Cuộc sống của bản thân và gia
đình chỉ có thể trông chờ vào khoản trợ cấp hàng tháng ít ỏi so với những khoản chi
tiêu hàng ngày. Hơn thế nữa một số NCC đang còn phải sống trong những căn nhà
tạm bợ, dột nát… [2, tr.18-19].
- Nhu cầu an toàn: hơn ai hết, những NCCVCM luôn là người hiểu được sự tàn
khốc, mất mát do chiến tranh gây ra, vậy nên bây giờ họ luôn mong muốn được sống
trong khung cảnh hòa bình, được gia đình, người thân và cộng đồng đùm bọc, yêu

vinh, ưu đãi đối với NCC, bảo đảm cho gia đình NCC có mức sống bằng hoặc cao
hơn mức sống trung bình ở địa phương, không để NCC lâm vào nghèo đói.
Cũng như mọi người, những NCC rất cần có một cuộc sống vật chất và tinh
thần đầy đủ, no ấm và hạnh phúc, họ có nhu cầu được cải thiện chỗ ở, được tạo
công ăn việc làm và được tiếp cận các nguồn vốn, tiếp cận quyền sử dụng đất. Mặt
khác họ đã có nhiều cống hiến hy sinh, chịu nhiều thiệt thòi mất mát vì sự nghiệp
chung của dân tộc, do đó họ cần được mọi người tôn vinh, kính trọng, quan tâm
chăm sóc, chia sẻ, được lắng nghe, thấu hiểu, động viên; được nghỉ ngơi, chăm sóc
sức khỏe; được học tập, cung cấp thông tin nhiều hơn để họ vơi đi nỗi đau mất mát,
quên đi bệnh tật và mất người thân.
Để đảm bảo sự sinh tồn phát triển mỗi con người đều có những nhu cầu cần
được đáp ứng với những cách thức khác nhau, mỗi cá nhân tự đáp ứng các nhu cầu
đó. Tuy nhiên với NCCVCM họ không thể tự mình đáp ứng những nhu cầu ấy ngay
cả những nhu cầu tối thiểu nhất mà cần phải có sự chung tay, góp sức, giúp đỡ của

13


cộng động và xã hội. NCC cách mạng trước hết cũng như bao con người bình
thường khác, họ sống trong xã hội và đều có những nhu cầu cơ bản nhất bao gồm cả
vật chất, tình thần để có thể tồn tại và phát triển.
NCC cách mạng hầu hết tuổi đã cao, sức khỏe giảm sút do chiến tranh, tuổi
già do đó nhu cầu được thăm khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe thường xuyên là
điều tất yếu. Đối với thương binh, mất mát một phần trong cơ thể, nhiều người
không còn được lành lặn như trước đây, họ có nhu cầu được trang thiết bị chân tay
giả, mắt giả để trợ giúp trong sinh hoạt hằng ngày...
1.2.2. Khái niệm dịch vụ công tác xã hội đối với người có công cách mạng
Theo Mạng CTXH Việt Nam: Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp
ứng nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng
sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất

nhóm người nhất định nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội. Với nhóm
yếu thế, DVXH là các hoạt động có chủ đích của con người nhằm phòng ngừa, hạn
chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cơ bản và thúc đẩy khả
năng hoà nhập cộng đồng, xã hội cho nhóm đối tượng yếu thế.
Theo Liên đoàn CTXH chuyên nghiệp quốc tế (họp ở Canada vào năm 2004)
cho rằng “CTXH là hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi của xã hội
bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội (vấn đề nảy sinh trong
mối quan hệ xã hội) vào quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng
của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng. CTXH đã giúp cho con người phát triển
đầy đủ và hài hòa hơn và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân”.
- Theo Hiệp hội Quốc gia các nhân viên xã hội Mỹ – NAW (năm 1970)
thì CTXH là hoạt động mang tính chuyên môn nhằm giúp đỡ những cá nhân, các
nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã
hội của họ và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu ấy.
- Theo Hiệp hội cán bộ Xã hội quốc tế và Hiệp Hội các trường đào tạo CTXH
quốc tế định nghĩa:“Nghề CTXH thúc đẩy sự phát triển xã hội, giải quyết các vấn đề
trong các mối quan hệ, tạo khả năng và giải phóng con người nhằm thúc đẩy phúc
lợi. Sử dụng các học thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội, CTXH can
thiệp vào những thời điểm khi con người tương tác với các môi trường của mình.
Nhân quyền và công lý trong xã hội là những nguyên tắc nền tảng của CTXH”.

15


Dịch vụ CTXH được hiểu là các dịch vụ cụ thể hóa các luật pháp, chính sách
của Nhà nước về các lĩnh vực phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục, pháp lý nhằm trợ giúp
các cá nhân, nhóm, cộng đồng.
Từ những khái niệm, quan điểm về CTXH và DVXH, có thể hiểu dịch vụ
CTXH ở Việt Nam như sau: DVCTXH là hoạt động chuyên nghiệp CTXH cung cấp
các hoạt động hỗ trợ về tinh thần hay vật chất cho những người gặp hoàn cảnh khó

người, tập trung vào nhu cầu, vấn đề và tiềm năng của họ, nói trên quyền con người
là nói đến nghĩa vụ và trách nhiệm.
Cũng giống như cách tiếp cận khác, tiếp cận quyền con người nhằm hướng
đến việc cải thiện hoàn cảnh của con người, tập trung vào nhu cầu, vấn đề và tiềm
năng của họ. Theo cách này, cách tiếp cận dựa trên quyền có đề cập đến những vấn
đề luôn được coi là trọng yếu đối với sự phát triển, như là thực phẩm, nước, nhà ở, y
tế. Vì vậy, quyền con người vượt lên trên ý niệm về nhu cầu cơ bản mà chứa đựng
một cái nhìn nhân đạo hơn về con người, về khía cạnh công dân, chính trị, xã hội,
kinh tế và vai trò văn hóa. Đồng thời, nhắc đến quyền con người là nói đến nghĩa vụ
và trách nhiệm, trong khi đó cách tiếp cận theo nhu cầu sẽ không đề cập đến.
Tiếp cận quyền con người là cách tiếp cận mang tính nhân văn. Coi trọng
con người với những quyền mà họ được hưởng, đó là quan điểm hướng tới giá trị
nhân văn cao đẹp về con người. Với cách tiếp cận này, đối tượng dù đang gặp phải
vấn đề khó khăn cũng được tôn trọng như là một con người với đầy đủ các giá trị.
Tiếp cận dựa trên quyền con người là trung tâm, tập trung vào nhu cầu và tiềm năng
của họ để đi tới giải quyết vấn đề. Tiếp cận dựa trên quyền con người giúp nhân
viên xã hội hướng đến các giải pháp mang tính bền vững.
Và như vậy theo cách tiếp cận này thì NCCVCM cần phải có quyền được
chăm sóc về thể chất, về tinh thần, có quyền được được phát triển, quyền được tham
gia xây dựng Đảng, Nhà nước; tham gia các hoạt động xã hội.
Vận dụng cách tiếp cận này, tác giả sẽ đóng vai trò là người biện hộ, người
tập huấn để trợ giúp NCCVCM nâng cao nhận thức, giúp họ tự nhận ra và quyết
định việc tham gia của họ với vai trò là chủ động vào quá trình tìm kiếm sự công
bằng cho bản thân và cho nhóm những người cùng hoàn cảnh với họ, để họ nhận
thức rõ được quyền và lợi ích hợp pháp mà họ lẽ ra phải được hưởng. Đồng thời
giúp họ nói lên tiếng nói của mình đối với những cấp chính quyền cao hơn.

17



18


1.2.3.3. Tiếp cận vì lợi ích tốt nhất cho người có công vơi cách mạng
Tiếp cận theo tôn chỉ đem lại lợi ích tốt nhất cho NCC là cách tiếp cận với
việc cung cấp các dịch vụ bảo đảm lợi ích tốt nhất cho NCCVCM. Tiếp cận theo
nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất có ý nghĩa ở việc dù ở bất cứ tình huống nào, lợi ích
của NCCVCM luôn được đặt lên hàng đầu, luôn hưởng những dịch vụ tốt nhất.
1.3. Nội dung dịch vụ công tác xã hội đối với người có công cách mạng
1.3.1. Hỗ trợ chăm sóc sức khỏe
Công tác chăm sóc sức khỏe cho NCCVCM là một tất yếu cần được quan tâm
hàng đầu. Họ mang trên mình những vết thương của chiến tranh, khi trái gió trở trời
vết thương lại bùng phát ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và làm ảnh hưởng
trực tiếp đến đời sống của họ. Đa số họ phải trải qua những gian khổ vì thế mà sức
khỏe của họ không còn đủ để đảm bảo phục vụ cho cuộc sống thường ngày của mình.
Công tác tổ chức thăm hỏi chăm sóc theo phương châm “đoàn kết, bình
đẳng, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển” đã tạo điều kiện cho gia đình
NCCVCM vươn lên phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống.
Sức khỏe thương binh, bệnh binh nhìn chung đã suy giảm nhiều do thương
tật, bệnh tật hay tuổi tác, những vết thương của chiến tranh đã và đang giày xéo về
thể xác lẫn tinh thần đối với mỗi thương binh, bệnh binh. Bộ phận những thương
binh, bệnh binh khác mặc dù thương tật, bệnh tật nhẹ hơn nhưng sức khỏe của họ
cũng bị giảm sút do tuổi cao, sức đã yếu lại còn tình trạng thương tật, bệnh tật do
hậu quả của chiến tranh để lại nên họ thường xuyên phải chịu những cơn đau mỗi
khi trái gió, trở trời. Bởi vậy, để chăm sóc tốt hơn đời sống cho thương binh, bệnh
binh cần phải chú ý đến công tác chăm sóc sức khỏe, tổ chức khám bệnh định kỳ để
họ ổn định sức khỏe, ổn định cuộc sống. Việc quan tâm chăm sóc đời sống, cũng
như tinh thần, đặc biệt là sức khỏe của thương binh, bệnh binh là việc làm đòi hỏi
sự chung tay, góp sức của Nhà nước và cả cộng đồng.
Việc cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí luôn được quan tâm thực hiện. Hiện nay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status