VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI THANH HÀ
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NGƯỜI
TÂM THẦN TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM
ĐIỀU DƯỠNG VÀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
TÂM THẦN KINH TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐINH ĐỨC HỢI
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Tất cả số
liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kì một công trình nào khác.
Tác giả
Bùi Thanh Hà
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong dòng chảy phát triển không ngừng của xã hội cùng với mục tiêu:
“Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”, bên cạnh những thành
tựu mang tính tích cực làm cho xã hội thịnh vượng hơn thì song hành cùng
với nó là tiềm ẩn những nguy cơ, rủi ro. Ở Việt Nam qua hơn 30 năm đổi mới
cùng với sự tài trợ của các tổ chức quốc tế và sự thay đổi tư duy của các cấp
lãnh đạo trong lĩnh vực Bảo trợ xã hội mà những đối tượng yếu thế ngày càng
được quan tâm và thụ hướng nhiều các dịch vụ thông qua các hoạt động của
nghề công tác xã hội.
Công tác xã hội đã góp phần vào lĩnh vực Chăm sóc sức khỏe tâm thần
giúp cho những bệnh nhân tâm thần phục hồi và được sống trong môi trường
chăm sóc phù hợp, Công tác xã hội đã góp nhiều nỗ lực nhằm đem lại những
thay đổi nhận thức của xã hội trong việc chăm sóc những người bị bệnh tâm
thần. Việc thực hành Công tác xã hội với người tâm thần rất đa dạng và
phong phú. Đi từ các hoạt động như phòng ngừa, như giáo dục cộng đồng về
bệnh tâm thần, cách hỗ trợ và tránh kỳ thị, phân biệt, đối xử, các hoạt động hỗ
trợ trực tiếp về mặt tinh thần, xã hội, kết nối các nguồn trợ giúp, hỗ trợ, huấn
luyện cho thân nhân người bệnh cách quản lý, chăm sóc đến các hoạt động
phục hồi chức năng , tái hòa nhập cộng đồng và quá trình tham gia vào các
chính sách, chương trình hỗ trợ người tâm thần và gia đình họ.
Thực tiễn công tác tại Trung tâm Điều dưỡng và Phục hồi chức năng Tâm
thần kinh tinh Thái Nguyên là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Lao động
Thương binh và Xã hội Tỉnh Thái Nguyên với chức năng nhiệm vụ: Tiếp
nhận, quản lý, nuôi dưỡng, điều trị và Phục hồi chức năng cho đối tượng là
bệnh nhân tâm thần mãn tính đã được điều trị tại các bệnh viện chuyên khoa
tâm thần các tuyến từ địa phương đến Trung ương nhưng chưa thuyên giảm.
1
2
chế của nước Anh cuối thập kỷ 80 với việc cắt giảm chi phí cho lính vực
chăm sóc công mà chuyển hẳn vai trò cho nhóm tư nhân và dựa vào cộng
đồng, từ đây dẫn tới số bệnh nhân trong các bệnh viện giảm xuống rõ rệt. Tuy
nhiên lại dẫn đến tình trạng tăng đột biến số lượng bệnh nhân ở lĩnh vực tư
và các cơ sở cộng đồng, trong khi yếu tố nguồn lực chưa được chuẩn bị kỹ
dẫn tới những khó khăn và cách thực thi chính sách kiểu nửa vời [14].
Jonathan Kenneth Burns (2008) cho rằng khuyết tật tâm thần và chăm sóc
sức khỏe tâm thần đang bị bỏ qua đáng ngạc nhiên trong tranh luận toàn cầu
về bình đẳng y tế. Điều này đồng nghĩa với các vấn đề bất bình đẳng trong
chăm sóc sức khỏe cho người bệnh tâm thần, các biến đổi ảnh hưởng đến bất
bình đẳng bao gồm chủng tộc, dân tộc, giới tính, vùng miền, nghề nghiệp, thu
nhập...[18]
Từ những tài liệu đã tiếp cận có thể thấy vấn đề An sinh xã hội của người
tâm thần là một chủ đề có lịch sử khá mới, nhưng đã tạo ra những diễn biến
khá sôi nổi trong các cuộc tranh luận. Công tác xã hội nhóm với Người tâm
thần là chủ đề hứa hẹn sẽ mở ra những sự quan tâm tiếp theo của những người
có liên quan đến lĩnh vực này.
2.2. Một số nghiên cứu tại Việt nam
Đối với chủ đề về Người tâm thần các bài viết tác giả tiếp cận đa số là các
bài báo, tham luận, hội thảo, đề án 1215 do Bộ Lao động Thương binh và Xã
hội trình và được Thủ tướng Chính phủ duyệt ngày 22/7/2011. Đề án này đề
cập đến Trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho bệnh tâm thần và người
rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng, đây chính là sự đổi mới trong tư duy
người làm trong lĩnh vực về Sức khỏe tâm thần và người làm nghề Công tác
xã hội.
Tại Việt Nam theo số liệu điều tra của Bộ Lao động Thương binh và Xã
hội và ước tính của tổ chức y tế thế giới (WHO) số người mắc bệnh về tâm
4
- Nghiên cứu thực trạng Công tác xã hội nhóm đối với người tâm thần từ
thực tiễn Trung tâm Điều dưỡng và Phục hồi chức năng Tâm thần kinh tinh
Thái Nguyên.
- Đề xuất một số biện pháp giúp cho công tác xã hội nhóm đối với người
tâm thần đạt kết quả tốt.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Công tác xã hội nhóm đối với người tâm thần.
- Khách thể: Bệnh nhân, các cá nhân, tổ chức có liên quan đến người tâm
thần.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu Công tác xã hội nhóm đối với người tâm thần từ
thực tiễn Trung tâm Điều dưỡng và Phục hồi chức năng Tâm thần kinh tỉnh
Thái Nguyên.
Địa điểm: Khảo sát, và thực tiễn tổ chức thực hiện tại Trung tâm (Xóm
Ao Sen- Xã Thịnh Đức - Thành phố Thái Nguyên).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Với nền tảng là Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Vận
dụng các học thuyết về nhu cầu, thuyết lãnh đạo, thuyết hệ thống tổng quát,
thuyết động năng tâm lý, thuyết thực nghiệm của Lê Nin. Phân tích quá trình
tương tác (Balen), đo lường xã hội học (Jacob Moreno) Thuyết học tập xã hội
(Tarle)..... Vận dụng và kết hợp các lý thuyết trong thực hành công tác xã hội
nhóm với người tâm thần.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp định lượng (bảng hỏi): Là phương pháp thường được dùng
trong điều tra xã hội học thực nghiệm. phương pháp có thể thu thập được một
6
+ Và tác giả còn sử dụng hoặc kết hợp một số phương pháp khác như:
Phương pháp thống kê toán học, Phương pháp so sánh, Phương pháp thảo
luận nhóm ....
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
* Ý nghĩa lý luận: Những kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ trở thành
tài liệu hữu ích đối với nghiên cứu và đào tạo nghề công tác xã hội, trong đó
công tác xã hội nhóm đối với người tâm thần thực tiễn đang được quản lý,
chăm sóc tại các cơ sở Bảo trợ xã hội ở Việt Nam và các mô hình chăm sóc
sức khỏe tâm thần khác tại cộng đồng.
* Ý nghĩa thực tiễn: Là tài liệu nghiên cứu và áp dụng thực tiễn tại đơn vị
trong thời gian tới. Kỳ vọng là mô hình điển hình để các tổ chức có hoạt động
tương đương học tập, trao đổi kinh nghiệm, đưa vào áp dụng thực tiễn.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và một số phụ lục. Đề tài
có phần nội dung chính gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội nhóm đối với người
tâm thần.
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội nhóm đối với người tâm thần từ
thực tiễn Trung tâm Điều dưỡng và Phục hồi chức năng Tâm thần kinh tinh
Thái Nguyên.
Chương 3: Các biện pháp bảo đảm thực hiện công tác xã hội nhóm đối
với người tâm thần từ thực tiễn Trung tâm Điều dưỡng và Phục hồi chức năng
Tâm thần kinh tinh Thái Nguyên.
7
8
đề chung họp mặt thường xuyên và tham gia vào các hoạt động được đưa ra
nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể. Đối lập với trị liệu tâm lý nhóm, mục
tiêu công tác xã hội nhóm không chỉ là trị liệu những vấn đề về tâm lý, tình
cảm mà còn là trao đổi thông tin, phát triển kỹ năng xã hội và lao động, thay
đổi các định hướng giá trị và làm chuyển biến các hành vi chống lại xã hội
thành các nguồn lực hiệu quả. Các kỹ thuật can thiệp đều được đưa vào quá
trình công tác xã hội nhóm nhưng không hạn chế kiểm soát những trao đổi về
trị liệu”. [8 tr.85]
Khái niệm trên có đưa ra sự khác biệt giữa công tác xã hội nhóm và trị
liệu tâm lý nhóm ở việc “ phát triển các kỹ năng xã hội vào lao động , thay
đổi định hướng giá trị và làm chuyển biến hành vi chống lại xã hội”. Để kiểm
chứng cho những khác biệt trên, chúng ta tìm hiểu khái niệm về trị liệu tâm
lý, trong đó bao gồm cả trị liệu tâm lý nhóm. Từ điển công tác xã hội của
Barker (1995) nêu: “Trị liệu tâm lý là một hoạt động tương tác đặc biệt và
chính thức giữa một nhân viên xã hội hay các chuyên môn về sức khỏe tâm
thần khác với thân chủ cá nhân, hai người, gia đình hay nhóm) ở đó hệ trị liệu
được thiết lập để giải quyết những biều hiện của rối nhiễu tâm thần căng
thẳng tâm lý xã hội, các vấn đề quan hệ và những khó khăn gặp phải trong
môi trường xã hội”. Như vậy có thể thấy sự khác biệt lớn trong trị liệu tâm lý
nhóm và công tác xã hội nhóm là ở những hoạt động mang tính chuyên sâu
hơn và thường được các nhà tâm lý hay tâm thần học sử dụng trong quá trình
hỗ trợ, trị liệu thân chủ có những tổn thương sức khỏe tâm thần và rối nhiễu
tâm trí nghiêm trọng hơn.
Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh (1998) đưa ra khái niệm trị liệu nhóm mô
tả rõ nét hơn thân chủ và yêu cầu của cán bộ chuyên môn trong trị liệu nhóm.
Theo bà “ Trị liệu nhóm nhằm trị liệu cá nhân, các bệnh nhân tâm thần, những
người bị rối loạn, ức chế tâm lý khá sâu. Mối tương tác giữa bệnh nhân được
* Rối loạn trầm cảm
Trầm cảm là một rối loạn tâm thần thường gặp bao gồm nhiều triệu chứng
nhưng hay gặp nhất là sự buồn bã một cách sâu sắc. Ngưòi bệnh luôn cảm
thấy mệt mỏi , mất hy vọng. Không có gì có thể làm cho người bệnh thích thú
được. Ngưòi bệnh cảm thấy thế giới chung quanh dường như lúc nào cũng u
ám. Các triệu chứng khác bao gồm sụt cân, khó ngủ, bồn chồn, dễ tức giận,
cảm thấy bản thân vô giá trị hoặc bị một tội lỗi gì ghê gớm, gặp khó khăn khi
muốn suy nghĩ, muốn tập trung chú ý hay khi phải ra một quyết định nào đó
và thường xuyên nghĩ đến cái chết hay có hành động chuẩn bị tự tử.
* Rối loạn lưỡng cực
Rối loạn cảm xúc lưỡng cực là một rối loạn trong đó cảm xúc của bệnh
nhân thường thay đổi từ giai đoạn trầm cảm sang hưng cảm hoặc ngược lại.
Tuy nhiên cũng có những giai đoạn khí sắc bình thường nhưng nếu cứ để tiếp
tục không điều trị thì chẳng bao lâu tình trạng cảm xúc này sẽ chuyển từ cực
này sang cực đối nghịch.
Các triệu chứng của giai đoạn trầm cảm giống như đã mô tả trong phần
rối loạn trầm cảm. Các triệu chứng của giai đoạn hưng cảm bao gồm vui vẻ
quá mức, hoang tưởng tự cao, cảm giác mình là vô địch, tăng hoạt động, có
những hành vi bao hàm nguy cơ cao (thí dụ như lái xe không cẩn thận, tiêu
xài hoang phí…), không kiểm soát được nhịp độ suy nghĩ hay nói chuyện,
ngủ ít và dễ nổi cơn giận dữ bất ngờ.
* Bệnh Alzheimer
Bệnh Alzheimer là một loại bệnh tiến triển ngày càng nặng dần với đặc
điểm là sự hủy diệt từ từ các tế bào thần kinh trong não.
Bệnh thường khởi phát rất chậm và dần dần theo thời gian sẽ trở nên nặng
hơn. Các triệu chứng xuất hiện đầu tiên thường là thay đổi tính tình và giảm
trí nhớ. Người bệnh trở nên dễ mệt mỏi, tức giận hoặc lo âu. Đi đến những
11
lớp mỡ duới da, dễ bị lạnh ), tim mạch ( nhịp tim chậm, huyết áp thấp) , tiêu
hoá (cảm giác đầy bụng, táo bón, đau bụng), nội tiết (mất kinh nguyệt), hệ
xương (loãng xương), tóc khô và dễ gãy, da khô và màu vàng, thiếu máu…
* Rối loạn ám ảnh cưỡng chế
Đây là một loại rối loạn lo âu có thể xuất hiện ở bất kỳ tuổi nào nhưng
thường bắt đầu trong thời kỳ thơ ấu. Bệnh ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc
sống gia đình, xã hội và công việc hay vấn đề học tập của bệnh nhân.
Ám ảnh là các ý nghĩ xuất hiện ngoài ý muốn, lập đi lập lại và xâm chiếm
toàn bộ suy nghĩ của bệnh nhân và điều này làm cho họ luôn cảm thấy lo âu
hoặc bực bội. Thí dụ như bệnh nhân có thể có ý nghĩ là tất cả các vi sinh vật,
bụi trong không khí có thể gây bệnh cho họ do đó họ rất sợ hãi và lo lắng khi
phải đi ra khỏi nhà hoặc là bệnh nhân luôn nghi ngờ không biết mình đã đóng
các cửa sổ và khoá các cửa cái chưa khi đi ra ngoài dù trước đó đã kiểm tra rất
cẩn thận.
Xung động là nhu cầu thúc giục cần phải làm một điều gì đó, thường
nhằm mục đích giảm sự lo âu do ám ảnh gây ra. Hành vi xung động thường
có tính chất lập đi lập lại, luôn tuân theo một thứ tự nào đó và thường là hành
vi có ý thức. Sau đây là một số thí dụ về các hành vi xung động thường gặp
như: Rửa tay, tắm hay giặt đồ liên tục do sợ dơ hay nhiễm vi trùng. Dần dần
toàn bộ thời gian của họ chỉ dành cho việc rửa tay, tắm, giặt đồ, thậm chí tay
họ có thể có biểu hiện bong da do tiếp xúc với nước quá lâu và thường
xuyên. Lập đi lập lại tên người thân nhiều lần trong ngày để giúp người thân
họ tránh được tai hoạ. Đã ra khỏi nhà nhưng vẫn phải quay về nhiều lần
để kiểm tra xem có đóng và khoá cửa kỹ hay chưa hoặc khi đi bộ trên đường
luôn chú ý tránh né không dẫm lên các vết nứt trên đường...
Dù là ám ảnh hay xung động cũng đều có nét chung là bệnh nhân hiểu rất
rõ những điều đó là vô lý và thái quá, họ cũng rất muốn chống lại nhưng cuối
13
hoặc ngưòi thân sắp bị bệnh, bị tai nạn hay gặp chuyện không may mặc dù
không có dấu hiệu gì đáng để lo lắng về việc đó. Họ luôn cảm thấy bồn chồn,
bất an, căng thẳng, run, nhức đầu, dễ mệt mỏi, khó tập trung chú ý, khó ngủ…
* Rối loạn tâm thần do rượu hay ma túy
Là hậu quả của việc lạm dụng rượu hay chất gây nghiện và ngày nay đang
là vấn đề nổi bậc và khó giải quyết của hầu hết các nước trên thế giới bất kể
giàu nghèo. Những người nghiện rượu hay chất gây nghiện là những người
không thể kiểm soát việc sử dụng các chất này, họ cần phải dùng liện tục mỗi
ngày với liều lượng ngày càng tăng. Họ cũng cố gắng tự bỏ nhiều lần nhưng ít
khi thành công. Nếu không có các chất này thì họ sẽ không thể làm việc bình
thường và sẽ xuất hiện các triệu chứng rất khó chịu như là đổ mồ hôi, mạch
nhanh, run tay, mất ngủ, ói mửa, kích động, lo âu, co giật …
Từ những khái niệm về các loại bệnh tâm thần thường gặp trên. Tác giả
đưa ra khái niệm về người tâm thần như sau:
- Người tâm thần là người bị mất hoặc suy giảm về thần kinh tâm thần,
trí tuệ, rối loạn các hành vi và các kỹ năng sống.
Người tâm thần (Đang quản lý, nuôi dưỡng, điều trị và phục hồi chức
năng tại trung tâm) là đối tượng bệnh nhân tâm thần mãn tính, đã được chữa
trị tại các cơ sở y tế chuyên khoa tâm thần, các tuyến bệnh viện từ Trung
ương đến địa phương từ 3-5 năm nhưng chưa khỏi bệnh .
1.2. Công tác xã hội nhóm đối với người tâm thần
* Khái niệm
Công tác xã hội nhóm đối với người tâm thần là các hoạt động của nhóm
đánh giá về nhu cầu xã hội, dùng các phương pháp, kỹ năng trợ giúp người
tâm thần phục hồi về sức khỏe tâm thần, giảm thiểu các rối loạn hành vi và
phục hồi các kỹ năng sống để họ có điều kiện ổn định bệnh tật tái hòa nhập
cộng đồng.
15
năng về giao tiếp sau đó xem mức độ chú ý của bệnh nhân, biệu hiện cảm xúc
của họ thông qua hoạt động giao tiếp thể hiện như thế nào.
Về cơ bản là ở người bình thường cũng rất cần đến phát triển kỹ năng giao
tiếp nhóm. Ở người tâm thần có sự trở ngại về chức năng này, họ thu mình,
sống cô đơn, thờ ơ và lạnh nhạt với môi trường xung quanh nên phải phát triển
kỹ năng giao tiếp nhóm để đánh thức tiềm thức của họ. Phát triển kỹ năng giao
tiếp nhóm là dùng các biện pháp và phương pháp luyện tập để giúp người bệnh
hồi phục các năng lực hoạt động nên rất cần năng lực chú ý tốt.
- Cộng đồng nhận thức đúng đắn về bệnh tâm thần, hiểu rõ tác dụng của
lao động với người bệnh tâm thần sẽ tích cực rủ họ tham gia, hướng dẫn họ
các hoạt động phục hồi chức năng từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.
- Gia đình và bệnh nhân được tham vấn (cùng đưa ra các vấn đề và cùng
thảo luận để tìm cách thực hiện) cặn kẽ về các vấn đề).
Kỹ năng giao tiếp nhóm phải thực hiện thường xuyên, liên tục hàng ngày,
ở các hoạt động của người tâm thần.
Thứ hai, về giáo dục nhóm(Trong quản lý,chăm sóc nuôi dưỡng; Chăm
sóc y tế và hỗ trợ tiếp cận dịch vụ y tế): Để giúp người tâm thần tự vươn lên
trong cuộc sống, tham gia và hòa nhập một cách đầy đủ và bình đẳng vào xã
hội thì việc xã hội tạo điều kiện tối đa để họ có cơ hội tiếp cận các hoạt động
giáo dục là rất quan trọng. Tuy nhiên, mỗi một bệnh nhân có những nhu cầu
mong muốn, mức độ nhận thức và biểu hiện bệnh khác nhau nên làm thế nào
để tiếp cận các hoạt động giáo dục một cách phù hợp nhất với họ. Vai trò là
người trợ giúp và cung cấp dịch vụ cho bệnh nhân tâm thần thì nhân viên
công tác xã hội cần phải nắm được các phương thức hoạt động giáo dục cho
người bệnh tâm thần.
Hoạt động giáo dục nhóm đối với bệnh nhân tâm thần là cung cấp các
kiến thức, kỹ năng chăm sóc, bảo vệ bản thân, các kỹ năng xã hội… để giúp
17
18
- Tùy theo môi trường sống mà lựa chọn hình thức lao động phù hợp với
người tâm thần: Trồng trọt chăn nuôi, thủ công, lao động phổ thông.
- Đối với người tâm thần mạn tính, cần hồi phục dần dần từng ít một, từ
công việc đơn giản nhẹ nhàng không phức tạp như vệ sinh cá nhân, dọn dẹp
giường chiếu, chăm sóc sân vườn, tham gia một số công việc trong nhà đến
lao động sản xuất.
- Tiến hành lao động trị liệu cần lưu ý một số điều sau đây: Lao động phải
có người giám sát, hướng dẫn, kèm cặp để đảm bảo sự trợ giúp và sự an toàn
cho người bệnh; Lao động phải bắt đầu từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức
tạp, hướng vào những công việc trước đây người bệnh đã từng làm hay có sở
thích sở trường; Lao động tập thể là hình thức tốt nhất; Lao động cần được
đánh giá và động viên khen thưởng thích hợp; Thời gian lao động tùy theo
năng lực của người bệnh nhưng phải luôn động viên khuyến khích người bệnh
cố gắng.
Thứ tư, về tâm lý trị liệu(Trong Phục hồi chức năng và dạy nghề): Chúng ta
có thể hiểu trị liệu tâm lý là sự điều trị các rối loạn cảm xúc, hành vi, nhân cách
và tâm thần thông qua giao tiếp dùng ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ với người
bệnh. Trong thực hành trị liệu tâm lý có thể bao gồm cả việc chữa trị các rối loạn
và giúp người bệnh cách thức giải quyết các vấn đề trong cuộc sống.
Khi bàn đến trị liệu tâm lý có một vấn đề chúng ta cần quan tâm là trị liệu
tâm lý thường bị nhầm với tư vấn. Điều này gây khó khăn trong việc lựa chọn
phương pháp can thiệp. Tư vấn khác với trị liệu tâm lý ở chỗ tư vấn là mối
quan hệ và hoạt động mang tính chuyên môn mà trong đó nhà tư vấn giúp đối
tượng hiểu và giải quyết việc điều chỉnh vấn đề, đưa ra lời khuyên, sự đánh
giá, hay chỉ dẫn đối tượng cách đánh giá và kiểm soát bản thân. Trong công
tác tư vấn nhà tư vấn thường đưa ra các phương án để đối tượng lựa chọn
phương án hợp lý cho việc quyết định, đánh giá một vấn đề gì đó.
20