VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ VÂN ANH
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH
TỪ THỰC TIỄN XÃ PƠNG DRANG,
HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS. TS. VÕ KHÁNH VINH
HÀ NỘI, 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
Thạc sĩ Công tác xã hội về “Công tác xã hội đối với thương binh, từ thực
tiễn xã Powng Drang, huyện Kr ông Busk, tỉnh Đắk Lắk” là hoàn toàn trung
thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
Vũ Thị Vân Anh
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp, bản thân tôi
cũng gặp một số khó khăn nhất định về thời gian, xử lý số liệu mẫu thống kê, kỹ
thuật phân tích số liệu, chọn mẫu nghiên cứu, Tuy nhiên, tôi đã được sự hướng
dẫn, giúp đỡ tận tình, cũng như sự khuyến khích và tao điều kiện thuận lợi của thầy
cô, gia đình và bạn bè trong suốt quá trình nghiên cứu. Với tấm lòng biết ơn sâu
sắc, tôi xin bày tỏ lòng cám ơn chân thành đến thầy cô, bạn bè và gia đình đã hỗ
trợ tôi hoàn thành luận văn này.
- Tôi xin chân thành cảm ơn GS.TS. Võ Khánh Vinh đã hướng dẫn nghiên
cứu đề tài luận văn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Chính vì thế mà Tổ quốc và nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn to lớn của
những người con anh dũng ấy. Và việc quan tâm chăm lo đời sống vật chất,
tinh thần cho những người có công với nước và gia đình họ là làm theo truyền
thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc ta, là trách
nhiệm của Đảng, của Nhà nước và cả xã hội. Bởi vậy, ngay sau khi giành
được chính quyền, từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp, Bác Hồ đã ký sắc lệnh số 20/SL ngày 16/02/1947 về “Ưu đãi người có
công” để đền đáp những công lao, cống hiến của họ.
Theo thống kê, cả nước hiện có trên 8,8 triệu người có công, chiếm gần
10% dân số, trong đó có 1.146.250 liệt sĩ, 49.609 Mẹ Việt Nam anh hùng,
781.021 thương binh và người hưởng chính sách như thương binh, 185.00
bệnh binh, 1.253 Anh hùng Lực lượng Vũ trang, Anh hùng Lao động trong
kháng chiến, 101.138 người có công giúp đỡ cách mạng… Trên 1,47 triệu đối
tượng người có công đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng của Nhà nước.
Tuy nhiên, do hậu quả của chiến tranh, vẫn còn một số trường hợp chưa được
xác nhận và giải quyết chế độ. Khoảng 4% người có công với cách mạng và
gia đình vẫn còn khó khăn trong cuộc sống.
3
Pơng Drang là một vùng đất nằm trên Tây Nguyên hùng vĩ, nơi có
những con người giàu truyền thống cách mạng và trong sự nghiệp đấu tranh
giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã có biết bao nhiêu người
con Pơng Drang đã hy sinh xương máu, cống hiến cuộc đời mình cho sự
nghiệp cách mạng, họ đã phải bỏ lại gia đình, vợ con, quê hương để đi theo
tiếng gọi của Tổ quốc. Họ đã không ngại ngùng gian khổ, mất mát để đòi lại
độc lập tự do cho nhân dân, như nhà thơ Tố Hữu đã từng ca ngợi những con
người đó “ yêu người sống nên nhiều người đã chết”, những người anh dũng
còn sống lại thì họ đã kiệt quệ, không còn đủ sức lực do bị thương tật, bệnh
tật, do thiếu những hiểu biết cần thiết để làm ăn trong cơ chế mới, nên phần
lớn lâm vào hoàn cảnh khó khăn thậm chí rất khó khăn. Chính vì vậy, trong
những năm gần đây chính quyền, đảng bộ các cấp và nhân dân trên địa bàn đã
thực tiễn.
Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học cũng đã có một số đề tài khoa học
liên quan đến một vài khía cạnh của lĩnh vực đời sống người có công với cách
mạng như :
Ở cấp nhà nước có đề tài nghiên cứu : ‘‘Chính sách đối với người có
công (Thực trạng và một số kiến nghị)’’ của chuyên viên Ban Nội Chính
Trung Ương Bùi Thu Huyền, đề tài đã làm rõ được công tác quản lý nhà nước
của chính quyền cơ sở trong việc thực hiện chính sách đối với người có công
còn nhiều bất cập, hạn chế; một số văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn
thực hiện “Pháp lệnh ưu đãi người có công” chưa đầy đủ, thiếu thống nhất;
quy định hướng dẫn về điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình, trách nhiệm xác nhận
người có công chưa đồng bộ, thiếu hợp lý; có nội dung quá “khắt khe”, gây
khó khăn cho đối tượng; có nội dung quá “thông thoáng”, tạo kẽ hở cho phần
tử xấu lợi dụng, dẫn đến tiêu cực.
5
Ngoài ra còn một số đề tài nghiên cứu của các học viên cao học hay sinh
viên như đề tài ‘‘An sinh xã hội đối với gia đình người có công với cách
mạng và nạn nhân chiến tranh huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên’’ của học viên
cao học Nguyễn Thị Thu Hương thuộc trường Đại học Khoa học Xã hội Và
Nhân văn. Đề tài phân tích và chỉ ra thực trạng đời sống cũng như khó khăn
trong việc tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội của gia đình người có công và
nạn nhân chiến tranh. Từ đó đưa ra giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao
hiệu quả của các chính sách an sinh xã hội đối với gia đình người có công với
cách mạng và nạn nhân chiến tranh tại địa bàn nghiên cứu.
Đề tài ‘‘Chăm sóc sức khỏe người có công với cách mạng: thực trạng và
giải pháp (điển cứu tại huyện Hoài Ân tỉnh Bình Định)’’ của sinh viên
Nguyễn Đình Cơ và Phạm Viết Nhựt. Đề tài cũng chỉ ra được thưc trạng
chăm sóc sức khỏe và nâng cao đời sống cho người có công cách mạng vẫn
còn gặp rất nhiều khó khan, vẫn còn thiếu các nguồn lực để có thể thực hiện
một cách tốt nhất công việc này. Từ đó đề tài đã đưa ra được một số giải pháp
binh, thực trạng công tác xã hội đối với thương binh cũng như các yếu tố ảnh
hưởng đến hiệu quả công tác xã hội đối với thương binh trên địa bàn xã Pơng
Drang.
- Dựa trên cơ sở phân tích đánh giá, tìm hiểu các thực trạng, các yếu tố
ảnh hưởng nói trên để đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả hơn nữa
công tác xã hội đối với thương binh trên địa bàn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng hoạt động công tác xã hội đối với thương binh tại
xã Pơng Drang.
7
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về đối tượng: đề tài tập trung nghiên cứu 3 hoạt
động của công tác xã hội là: hoạt động hỗ trợ kết nối nguồn lực, hoạt động
truyền thông và hoạt động hỗ trợ xã hội.
- Phạm vi nghiên cứu về khách thể: đề tài nghiên cứu trên 70 thương
binh và 8 cán bộ làm việc trên địa bàn.
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: ở xã Pơng Drang, huyện Krông
Búk, tỉnh Đắk Lắk.
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: từ tháng 3 đến tháng 07 năm 2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
- Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: từ những đánh giá thực
trạng về đời sống của thương binh, thực trạng của công tác xã hội đối với
thương binh trên địa bàn rút ra được những lý luận và đưa ra được những đề
xuất về biện pháp để nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với thương binh
trên địa bàn.
- Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những
lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan
như: dịch vụ hỗ trợ của công tác xã hội đối với thương binh, hệ thống chính
tại xã Pơng Drang để tìm hiểu, thu thập thông tin chung về thực trạng đời
sống của thương binh như điều kiện về nhà ở, kinh tế gia đình, các nhu cầu
của thương binh…, tìm hiểu về thực trạng hoạt động công tác xã hội đối với
thương binh trên địa bàn như các hoạt động hỗ trợ xã hội, liên kết các nguồn
lực, hoạt động giáo dục, tuyên truyền… của nhân viên công tác xã hội đối với
thương binh.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: là một phương pháp thu thập thông tin
xã hội học thông qua việc tác động tâm lý học xã hội trực tiếp giữa người đi
phỏng vấn và người được phỏng vấn trên cơ sở mục tiêu của đề tà nghiên cứu.
9
Tác giả sử dụng phương pháp này với mục đích nhằm tìm hiểu, thu thập
thông tin chuyên sâu về thực trạng đời sống của thương binh, thực trạng hoạt
động công tác xã hội đối với thương binh trên địa bàn cũng như việc triển
khai thực hiện chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với thương binh của cán bộ địa
phương các cấp, đề tài tiến hành phỏng vấn sâu 10 thương binh tại xã Pơng
Drang, một số vị lãnh đạo tai địa phương, người đảm nhiệm công tác chính
sách người có công cách mạng tại xã và các ban nghành có liên quan như cán
bộ phòng LĐTB và XH huyện Krông Búk…
- Phương pháp quan sát: là phương pháp thu thập thông tin của nghiên
cứu xã hội học thực nghiệm thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập
các thông tin từ thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Trong đề tài này tác giả sử dụng phương pháp này nhằm thu thập, bổ
sung thông tin còn thiếu và kiểm tra đối chiếu, so sánh các thông tin từ việc
quan sát để đánh giá độ tin cậy của các thông tin thông qua việc quan sát bối
cảnh sống, thái độ, thể trạng của người được điều tra. Cũng thông qua đó
hình thành được câu trả lời đầy đủ và có được những thông tin chính xác cho
bảng hỏi cũng như bảng phỏng vấn sâu. Cụ thể đề tài tập trung quan sát: quan
sát các hoạt động công tác xã hội hoặc các hoạt động mang tính chất công tác
xã hội. Quan sát về môi trường, không gian sống của người thương binh.
Quan sát về thể chất, thái độ giao tiếp và trạng thái tâm lý của đối tượng khảo
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội đối với thương binh từ thực tiễn
xã Pơng Drang, huyện Krông Búk, Tỉnh Đắk Lắk
Chương 3: Các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác xã
hội đối với thương binh
11
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH
1.1. Những vấn đề lý luận về thương binh
1.1.1. Một số khái niệm
* Khái niệm người có công
Mặc dù chính sách ưu đãi NCC đã được thực hiện gần 6 thập kỉ qua,
nhưng cho đến ngày nay cũng chưa có một văn bản nào nêu rõ khái niệm
NCC.
Theo tập bài giảng Ưu đãi xã hội, NCC với nước “ là người có cống hiến
đặc biệt hoặc hy sinh cao cả cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước bảo vệ
hạnh phúc, cuộc sống bình yên của nhân dân”.
Cũng theo tài liệu này, NCC với cách mạng là “ người có đóng góp công
lao hoặc hy sinh tính mạng, hy sinh một phần thân thể trong thời kì trước cách
mạng tháng 8/1945, trong các cuộc giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và
nghĩa vụ quốc tế được cơ quan tổ chức có thẩm quyền công nhận”.
- Ở nước ta trong Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm
2005 (sửa đổi năm 2012) có quy định: Người có công với cách mạng bao
gồm:
a) Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;
b) Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày
khởi nghĩa tháng Tám năm 1945;
c) Liệt sĩ;
d) Bà mẹ Việt Nam anh hùng;
đ) Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân;
2. Người hưởng chính sách như TB là người không phải là quân nhân,
công an nhân dân, bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên
thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này được cơ quan
có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như TB".
3. TB loại B là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả
năng lao động từ 21% trở lên trong khi tập luyện, công tác đã được cơ quan,
đơn vị có thẩm quyền công nhận trước ngày 31 tháng 12 năm 1993.
4. TB, người hưởng chính sách như TB và TB loại B quy định tại Điều
này được gọi chung là TB.
5. TB có vết thương đặc biệt tái phát được khám và giám định lại tỷ lệ
suy giảm khả năng lao động theo quy định của Chính phủ.” [23,tr6]
1.1.2. Tâm lý và nhu cầu của thương binh
* Đặc điểm tâm lý
TB là những người luôn có ý thức tự hào về quá khứ cống hiến của mình
cho cách mạng, có tinh thần trách nhiệm giữ gìn những phẩm chất và truyền
thống cách mạng. Đại bộ phận những người TB luôn gương mẫu trong đời
sống và công tác, thể hiện thái độ trung thành với chế độ mà mình đã đem
xương máu, sức lực ra chiến đấu, bảo vệ. Khi hoà bình lập lại cho đến nay
nhiều trong số họ dù mang trong mình những thương tích, thương tật, bệnh tật
nhưng vẫn nỗ lực cố gắng vươn lên tìm cho mình một công việc phù hợp để
vượt qua cái đói nghèo, góp phần xây dựng tổ quốc. Nhiều người trở thành tấm
gương lao động giỏi, chiến sỹ thi đua, nhà khoa học, nhà quản lý có uy tín.
Mặt khác họ cũng thích được mọi người quan tâm chăm sóc hơn so với
người bình thường. Do có tâm trạng mặc cảm thấy thua thiệt những người có
điều kiện thuận lợi hơn trong công tác, học tập, cuộc sống vì vậy họ cảm thấy
mất mát quá lớn, nhất là các thương nặng.
Ngoài những đặc điểm tâm lý chung nói trên TB trong mỗi thời kỳ kháng
chiến có những đặc điểm tâm lý riêng.
14
Đối với TB nặng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp: hiện nay số còn
1.2.1. Một số khái niệm
* Khái niệm công tác xã hội
Có nhiều khái niệm về CTXH được đưa ra ở các góc độ khác nhau:
Theo từ điển Bách khoa ngành CTXH (1995) có ghi “CTXH là một khoa
học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra
những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội”.
[16,tr.12]
CTXH ở Việt Nam cũng được các tác giả xem xét từ những khía cạnh
khác nhau điển hình có tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng: CTXH là hoạt
động thực tiễn, mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các
nguyên tắc, phương pháp hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn
đề. CTXH theo đuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã
hội’’. [17,tr.26]
CTXH tại Việt Nam cũng được xem như là sự vận dụng các lý thuyết
khoa học về hành vi con người, về hệ thống xã hội nhằm khôi phục lại các
chức năng xã hội và thúc đẩy sự thay đổi vai trò của cá nhân, nhóm, cộng
đồng người yếu thế hướng tới bình đẳng và tiến bộ xã hội. Đây là lĩnh vực
cung cấp các dịch vụ chuyên môn góp phần giải quyết những vấn đề xã hội
liên quan tới con người để thỏa mãn những nhu cầu căn bản, mặt khác góp
phần giúp cá nhân tự nhận thức về vị trí, vai trò xã hội của mình. [16, tr.17]
Và như vậy ta có thể hiểu một cách chung nhất theo như định nghĩa của
PGS.TS. Bùi Thị Xuân Mai: “CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên
nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực
đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi
16
trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia
đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần
đảm bảo an sinh xã hội”. [16,tr.19]
* Công tác xã hội đối với thương binh
Hiện nay, CTXH trên thế giới chủ yếu hướng đến các đối tượng như
về quyền con người.
* Lý thuyết nhu cầu
Là con người xã hội, mỗi người cần có những nhu cầu, nhu cầu về vật
chất và nhu cầu về tinh thần. Các nhu cầu của con người thường rất đa dạng,
phong phú và phát triển. Nhu cầu con người phản ánh mong muốn chủ quan
hoặc khách quan tùy theo hoàn cảnh sống, yếu tố văn hóa, nhân thức và vị trí
xã hội của họ.
Để tồn tại, con người cần phải được đáp ứng các nhu cầu thiết yếu cơ
bản cần cho sự sống như ăn mặc, nhà ở, chăm sóc y tế… để phát triển con
người cần được đáp ứng các nhu cầu cao hơn, như: nhu cầu được an toàn,
được học hành, được yêu thương, được tôn trọng và khẳng định. Xét cho
cùng sự vận động và phát triển của xã hội loài người nhằm mục đích đáp ứng
ngày càng cao nhu cầu của con người. Việc đáp ứng các nhu cầu con người
chính là động cơ thúc đẩy con người tham gia hoạt động sản xuất, hoạt động
xã hội.
Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow được xem là cha đẻ của lý
thuyết nhu cầu. Theo Maslow, nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ
tự bậc thang từ thấp tới cao - từ các nhu cầu thiết yếu nhất tới các nhu cầu thứ
18
yếu, cao hơn. Khi con người thoả mãn được nhu cầu cấp thấp rồi thì sẽ tiến
tới thoả mãn các nhu cầu cấp cao hơn. [1,tr.17]
Theo đó, ông chia nhu cầu của con người thành 5 thang bặc từ thấp đến
cao đó là: nhu cầu sống, nhu cầu an toàn, nhu cầu thuộc về một nhóm nào đó,
nhu cầu được tôn trọng và cuối cùng là nhu cầu hoàn thiện.
Vận dụng lý thuyết nhu cầu của A.Maslow trong nghiên cứu tác giả tìm
hiểu nhu cầu của những TB theo năm bậc thang về nhu cầu. Từ đó xem xét
các nhu cầu nào đã được đảm bảo, nhu cầu nào chưa được đảm bảo, đảm bảo
ở mức độ nào, có ưu tiên đáp ứng nhu cầu nào trước, nhu cầu nào sau hay
theo trình tự các bậc nhu cầu của nhà tâm lý học A.Maslow.
Dựa theo thang nhu cầu của Maslow thì tác giả nhận thấy hiện nay TB
muốn tự khẳng định mình và được xã hội tạo điều kiện để hoàn thiện và phát
triển cá nhân. Cụ thể họ muốn được nói lên tiếng nói của họ, được tham gia
vào xây dựng Đảng, Nhà nước, tham gia vào các hoạt động xã hội…
* Lý thuyết về quyền con người
Tiếp cận dựa trên quyền con người là một khung lý thuyết có chứa đựng
các nguyên tắc, tiêu chuẩn và mục tiêu của hệ thống quyền con người trong
quá trình lập kế hoạch và tiến trình thực hiện hoạt động CTXH. [16,tr.167]
Cách tiếp cận này lấy nền tảng cơ bản chính là hệ thống quyền con người
đã được pháp luật quốc tế bảo vệ. Nhân viên xã hội cần dựa trên hệ thống
quyền con người để xây dựng các phương pháp và hoạt động của những mô
hình phát triển xã hội. Cách tiếp cận này luôn đưa ra đối tượng tác động cụ
thể, đó chính là con người với quyền cơ bản của mình.
Trên phương diện vĩ mô, cách tiếp cận dựa trên quyền con người có bàn
đến tầm quan trọng của nhà nước và chính phủ trong mối quan hệ tương quan
20
với công dân của họ về mặt quyền và nghĩa vụ. Cách tiếp cận theo quyền lôi
kéo sự chú ý của nhà nước về mặt chăm lo đồ sống của những người dân dễ
bị tổn thương kể cả những người dân không thể tự mình đứng lên đòi quyền
lợi cho mình.
Cũng giống như cách tiếp cận khác, tiếp cận quyền con người nhằm
hướng đến việc cải thiện hoàn cảnh của con người, tập trung vào nhu cầu, vấn
đề và tiềm năng của họ. Theo cách này, cách tiếp cận dựa trên quyền có đề
cập đến những vấn đề luôn được coi là trọng yếu đối với sự phát triển, như là
thực phẩm, nước, nhà ở, y tế. Vì vậy, quyền con người vượt lên trên ý niệm
về nhu cầu cơ bản mà chứa đựng một cái nhìn nhân đạo hơn về con người, về
khía cạnh công dân, chính trị, xã hội, kinh tế và vai trò văn hóa. Đồng thời,
nhắc đến quyền con người là nói đến nghĩa vụ và trách nhiệm, trong khi đó
cách tiếp cận theo nhu cầu sẽ không đề cập đến.
Tiếp cận quyền con người là cách tiếp cận mang tính nhân văn. Coi trọng
con người với những quyền mà họ được hưởng, đó là quan điểm hướng tới
huy nguồn lực trong xã hội. Bằng các kiến thức kỹ năng chuyên môn,
NVCTXH trợ giúp đối tượng giải quyết vấn đề thông qua các hoạt động kết
nối nguồn lực, giới thiệu dịch vụ, phát huy tiềm năng, nội lực và ngoại lực
của các nhóm đối tượng để giúp họ tự giải quyết vấn đề của mình. Như vậy
trong hoạt động trợ giúp cụ thể, NVCTXH có thể là người tham vấn giúp TB
thay đổi cảm xúc, suy nghĩ và thay đổi hành vi. NVCTXH còn có thể là người
tập huấn với vai trò định hướng, cung cấp cho TB kiến thức, kỹ năng để tự
phân tích, xác định vấn đề và có khả năng đưa ra quyết định đúng đắn.
- Nối kết TB với hệ thống nguồn lực, dịch vụ và những cơ hội trong xã
hội. Người NVCTXH giới thiệu cho TB những nguồn lực mà họ không biết
22