Công tác xã hội đối với người nghèo từ thực tiễn các khu tái định cư trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định - Pdf 34

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ XXI, đánh dấu sự tiến bộ vượt bậc của xã hội loài người về sự phát triển
kinh tế, chính trị, văn hóa-xã hội và khoa học công nghệ. Với những thành tựu đó, thế giới
đang hy vọng hướng đến một cuộc sống ấm no, hòa bình và phát triển cho tất cả mọi
người, ở các quốc gia khác nhau. Song con đường để đến với mục tiêu này thực sự khó
khăn và có nhiều yếu tố cản trở, một trong những cản trở lớn nhất có lẽ là vấn đề nghèo
đói. Nghèo đói vẫn còn, thậm chí quy mô và mức độ của nó ngày càng lớn, phạm vi ngày
càng mở rộng, kể cả những quốc gia có nền kinh tế phát triển cao. Theo số liệu thống kê
của Ngân hàng Thế giới (WB), năm 1981, trên thế giới có 1,5 tỉ người nghèo tương ứng
với 40% dân số thế giới, năm 1993, số người nghèo là 1,314 tỉ người tương ứng với 29%
dân số thế giới, đến 2001 có 1,1 tỷ người (tương ứng với 21% dân số thế giới) có thu
nhập ít hơn 1 đô la Mỹ tính theo sức mua địa phương và vì thế được xem là rất nghèo.
Phần lớn những người nghèo này sống tại Châu Phi, Châu Á. Trong khi nhờ vào tăng
trưởng kinh tế tại nhiều vùng của Châu Á, tỷ lệ người nghèo giảm xuống rõ rệt (từ 58%
xuống còn 16% tại Đông á) thì con số những người nghèo nhất lại tăng lên ở Châu Phi
(gần gấp đôi từ 1981 đến 2001 phía Nam sa mạc Sahara). Tại Đông Âu và Trung Á con
số những người nghèo nhất đã tăng lên đến 6% dân số năm 2004. Nếu như đặt ranh giới
nghèo là 2 đô la Mỹ mỗi ngày thì có tổng cộng là 2,7 tỉ người nghèo, gần một nửa dân số
thế giới [Theo thống kê của ngân hàng thế giới, 04/2004]. Nghèo đói gia tăng đã cản trở
đến mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, những bất ổn về quan hệ xã hội trong phạm vi từng
quốc gia nói riêng và thế giới nói chung. Do đó, giải quyết đói nghèo là yêu cầu mang tính
quyết định, là thước đo đánh giá sự tiến bộ của các quốc gia.
Việt Nam thuộc khu vực Châu Á với dân số hiện nay hơn 90 triệu người, trong
đó có 80% sống ở vùng nông thôn và các vùng hẻo lánh. Dân số đông đúc, chủ yếu
sống bằng nghề nông nghiệp, cùng với những tác động từ yếu tố lịch sử dân tộc và trên
thế giới mà hiện nay chúng ta vẫn là quốc gia nghèo. Theo thống kê của Bộ Lao độngThương binh và Xã hội năm 2012, tổng số hộ nghèo cả nước 2.149.110 hộ nghèo,
chiếm 9,60%, 1.469.727 hộ cận nghèo chiếm 6,57% [23, tr. 15]. Nghèo đói ở Việt
Nam tập trung ở nhiều khu vực khác nhau trong cả nước, trong đó tập trung chủ yếu ở
các vùng nông thôn, đặc biệt là ở các vùng miền núi. Nghèo đói kéo theo nhiều hệ quả
tiêu cực khác nhau, là nhân tố chính cản trở sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

khác, công tác xóa đói giảm nghèo (XĐGN) đã đạt được những thành tựu đáng kể,
theo số liệu điều tra của Cục thống kê Bình Định năm 2012, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn
quốc gia giảm từ 4,87% (năm 2010) xuống còn 2,74% vào năm 2012. Có được những
kết quả trên, trước hết do cấp ủy, chính quyền các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo và triển
khai thực hiện có hiệu quả các chương trình XĐGN của Chính phủ; tính đồng thuận
cao của các chủ doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức và cá nhân đối với chính sách XĐGN;
2


đặc biệt sự nỗ lực vươn lên của hộ nghèo, hộ cận nghèo;…Từ chính sách hỗ trợ tín
dụng, Quỹ giải quyết việc làm; hỗ trợ giáo dục, chăm sóc y tế, đào tạo nghề; hỗ trợ
xây dựng nhà ở, trợ cấp khó khăn;…đã giúp hộ nghèo có nguồn vốn đầu tư ban đầu để
sản xuất, kinh doanh; giảm bớt gánh nặng trong chi tiêu khám, chữa bệnh, đóng tiền
học, cải thiện nhà ở;…góp phần nâng cao mức sống của hộ, vươn lên thoát nghèo.
Tuy nhiên, thành phố Quy Nhơn vẫn là một trong những đô thị nghèo so với các
thành phố khác trong cả nước. Tình trạng nghèo vẫn còn và tập trung ở nhiều phường,
xã khác nhau, trong đó có các khu tái định cư - đây là những hộ gia đình phải di dời tập
trung nhằm phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau, trong đó có công tác quy hoạch và
phát triển thành phố trong những năm sắp tới. Việc hình thành các khu tái định cư ở
thành phố Quy Nhơn là một chính sách đúng đắn, bởi qua đó sẽ tạo ra một diện mạo
mới cho khu đô thị Quy Nhơn, góp phần đẩy mạnh quá trình đô thị hóa đang diễn ra
khắp cả nước. Với nơi định cư mới, cuộc sống của nhiều gia đình đã có sự thay đổi, khả
quan hơn rất nhiều so với trước đây. Song vẫn còn nhiều vấn đề phức tạp như: điều kiện
sinh hoạt của nhiều gia đình còn thiếu thốn, cuộc sống chưa đi vào ổn định; tình trạng
thất nghiệp, thiếu việc làm vẫn còn nhiều, nguy cơ tái nghèo vẫn còn tiềm ẩn cao; các
loại tệ nạn xã hội và ô nhiễm môi trường đang trong tình trạng báo động ... mặc dù
chính quyền thành phố đã có nhiều giải pháp như cho vay vốn, đào tạo nghề và giới
thiệu việc làm ... nhưng chưa đem lại hiệu quả. Chính vì thế, việc đưa ra các chủ trương,
chính sách và các giải pháp nhằm giúp đỡ người dân tại các khu tái định cư trên địa bàn
thành phố ổn định cuộc sống, phát triển và thoát nghèo là vô cùng cần thiết.

nguyên nhân. Trong đó, một số chính sách XĐGN như: chính sách đất đai, chính sách
tín dụng ưu đãi, chính sách xây dựng CSHT cũng được đánh giá khá chi tiết. Có thể
nói, trong giai đoạn này các nghiên cứu trên đều có một điểm chung là đã đề cập đến
một số chính sách liên quan trực tiếp đến XĐGN và các kết quả nghiên cứu đó đã góp
phần quan trọng cho chính phủ Việt Nam trong xây dựng chương trình XĐGN giai
đoạn 1998- 2000. Sau khi triển khai chương trình XĐGN (giai đoạn 1998-2000), với
hệ thống các chính sách trực tiếp tác động đến người nghèo, một loạt các nghiên cứu
của các tổ chức phi chính phủ được thực hiện với mục tiêu tiếp tục hỗ trợ chính phủ
Việt Nam xây dựng chương trình XĐGN giai đoạn tiếp theo.
- Nghiên cứu: “Về phương pháp đánh giá tác động của chính sách XĐGN và xây
dựng chiến lược XĐGN đến năm 2010” của tác giả Trần Thị Vân Anh thực hiện năm
2003. Theo tác giả, việc đánh giá kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo đã được
dựa trên các nguồn dữ liệu phong phú, đa dạng do các nhà khoa học, điều tra nghiên
cứu được, kết hợp với các nguồn thông tin thu thập trực tiếp từ người nghèo và cộng
đồng nghèo. Bên cạnh đó, tác giả cũng phát hiện có những trường hợp chính sách đã
4


không được đánh giá đầy đủ do những người thực hiện thường thiên về trình bày thành
tích mà thiếu sự phân tích các vấn đề tồn tại; quan tâm nhiều hơn đến các hoạt động cụ
thể mà thiếu chú ý đến các vấn đề có tính cơ chế, chính sách; quan tâm nhiều đến các
ngành, các lĩnh vực chuyên biệt mà ít coi trọng các vấn đề ở tầm vĩ mô chung.
- Luận án tiến sĩ: “Tài chính vi mô hỗ trợ xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Đồng Nai đến
năm 2020” của tác giả Lê Kiên Cương thực hiện năm 2013. Tác giả cho rằng: tài chính vi
mô là một hướng quan trọng trong công cuộc XĐGN của Tỉnh; Phát triển tài chính vi mô
hỗ trợ XĐGN là trách nhiệm của các cấp, các ngành, đoàn thể và toàn dân tỉnh Đồng Nai;
Phát triển tài chính vi mô cần phải có trọng điểm, phát triển dần từ nhỏ đến lớn, phù hợp
với điều kiện mỗi vùng; Phát triển tài chính vi mô tập trung trước tiên tại những cộng
đồng còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế. Phát triển tài chính vi mô hỗ trợ XĐGN hướng
tới mục tiêu kinh tế và xã hội; Góp phần vào tăng trưởng kinh tế; Tạo thêm công ăn việc

- Đề tài nghiên cứu khoa học “Tìm hiểu thực trang việc làm của người dân sau
tái định cư ở phường Quang Trung TP. Quy Nhơn” của tác giả Nguyễn Đình Ngọc
năm 2009. Trong đề tài này, tác giả đã nêu bật thực trạng thay đổi việc làm của người
dân tái định cư khu vực Xóm Tiêu so với nơi định cư trước; Nguyên nhân của sự thay
đổi này xuất phát từ: bản thân người dân; từ cơ chế chính sách và từ chính quyền địa
phương. Đồng thời nghiên cứu còn đưa ra một số giải pháp cụ thể như: Xây dựng các
chương trình đào tạo nghề gắn với doanh nghiệp; xây dựng một nguồn quỹ để sử dụng
vào công tác hỗ trợ người dân tại khu tái định cư; Tạo điều kiện để người dân tiếp cận
hơn nữa các nguồn vốn, nguồn tín dụng.v.v.
- Luận văn “Thực trạng đói nghèo và giải pháp xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Bình
Định” của tác giả Trần Thị Kim Chung, trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn. Trong
nghiên cứu này, tác giả nêu bật thực trạng nghèo đói ở tỉnh Bình Định và chỉ ra một số
nguyên nhân chính dẫn đến nghèo đói như: thiếu vốn sản xuất; neo đơn, mất sức lao
động; rủi ro, đau ốm; thiếu kinh nghiệm làm ăn, thiếu đất canh tác... Trên cơ sở đó,
nghiên cứu đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm xóa đói giảm nghèo: giải pháp về
kinh tế; giải pháp về vốn; giải pháp về chính sách: như hỗ trợ người dân khi gặp hoạn
nạn khó khăn, chính sách miễn giảm học phí cho học sinh nghèo, chính sách đào tạo
nghề cho lao động nghèo.v.v.
Như vậy, các nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào vấn đề đói nghèo, các chính
sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Định nói riêng. Chỉ có
một số công trình nghiên cứu về vấn đề đời sống và vấn đề việc làm của người dân sau
tái định cư. Ngoài ra, chưa có công trình nào nghiên cứu về công tác xã hội đối với
người nghèo từ thực tiễn các khu tái định cư trên địa bàn thành phố Quy Nhơn cũng

6


như ở Việt Nam hiện nay. Vì thế để bổ sung vào những hạn chế đó, đề tài nghiên cứu
này sẽ trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu:
- Thực trạng nghèo tại các khu tái định cư trên địa bàn thành phố Quy Nhơn hiện


Khách thể nghiên cứu:
- Các hộ gia đình được xác định là hộ nghèo tại các khu tái định cư trên địa bàn
thành phố Quy Nhơn.
- Vai trò và nhiệm vụ của nghề công tác xã hội chung và nhân viên công tác xã hội
trong việc trợ giúp các hộ nghèo tại các khu tái định cư trên địa bàn thành phố Quy Nhơn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu nghèo đói, công tác xã hội với người nghèo có
rất nhiều khía cạnh, yếu tố khác nhau. Nhưng do hạn chế về thời gian và kiến thức,
cho nên luận văn chỉ tập trung đi sâu vào nghiên cứu một số nội dung: lý luận về công
tác xã hội; lý luận nghèo đói; công tác xã hội với người nghèo; thực trạng nghèo tại
các khu tái định cư và hoạt động cụ thể của công tác xã hội đối với người nghèo tại các
khu tái định trên địa bàn thành phố Quy Nhơn.
- Phạm vi không gian nghiên cứu: Đề tài chủ yếu nghiên cứu trên các đối tượng
là các hộ nghèo tại 4 khu tái định cư trên địa bàn thành phố Quy Nhơn.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 10 năm 2013 đến
tháng 04 năm 2014
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu luận văn
5.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng nghèo, nguyên nhân cản trở việc thoát
nghèo của các hộ nghèo tại các khu tái định cư trên địa bàn thành phố Quy Nhơn.
Đồng thời đề xuất vai trò và các nhiệm vụ cụ thể của Công tác xã hội đối với người
nghèo tại địa bàn nghiên cứu, nhằm giúp cộng đồng giải quyết khó khăn đang gặp
phải, biết cách vươn lên thoát nghèo và hướng đến sự phát triển bền vững.
5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nhiệm vụ thứ nhất: Hệ thống hoá cơ sở lý luận liên quan đến công tác xã hội,
nghèo, công tác xã hội với đối với người nghèo và những vấn đề liên quan đến tái định
cư.
- Nhiệm vụ thứ hai: Nghiên cứu và tìm hiểu một số lý thuyết về công tác xã hội
và các chuyên ngành thuộc khoa học xã hội khác nhằm làm công cụ đánh giá, phân

lên cuộc sống khá giả hơn; giúp các hộ nghèo phòng ngừa tái phát nghèo đói.v.v.
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài áp dụng các phương pháp nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và
phương pháp nghiên cứu liên ngành, với các phương pháp cụ thể như sau:
7.1. Phương pháp luận
Nghèo là vấn đề xã hội đa dạng và phức tạp liên quan đến nhiều yếu tố, thành
phần xã hội, điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội và bối cảnh lịch sử khác nhau. Vì vậy,
để nghiên cứu vấn đề này có hiệu quả, tác giả đã vận dụng một số quan điểm của triết
9


học Mác-LêNin làm cơ sở phương pháp luận khoa học cho đề tài, đó là phương pháp
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Phương pháp duy vật biện chứng coi một sự vật hay một hiện tượng trong trạng thái
luôn phát triển và xem xét nó trong mối quan hệ với các sự vật và hiện tượng khác.
Nghiên cứu nghèo tại các khu tái định cư trên địa bàn thành phố Quy Nhơn cần đặt trong
bối cảnh phát triển chung của thành phố Quy Nhơn và tỉnh Bình Định. Các yếu tố như
điều kiện tự nhiên, dân số, trình độ học vấn, kinh tế-văn hóa-xã hội khác … được đặt
trong mối quan hệ thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, được nghiên cứu qua
nhiều năm, trong một thời gian dài để có cái nhìn toàn diện và mang tính khoa học để đưa
ra những giải pháp cụ thể, phù hợp với đặc trưng của cộng đồng.
Phương pháp duy vật lịch sử đòi hỏi khi nghiên cứu vấn đề nghèo, phải đặt
chúng trong những bối cảnh lịch sử cụ thể và trên những địa bàn, vùng lãnh thổ cụ thể.
Nghèo chỉ được xem xét một cách toàn diện, đầy đủ khi chúng được đặt trong một
hoàn cảnh lịch sử cụ thể với những địa phương nhất định. Việc tiếp cận đánh giá về
thực trạng nghèo tại các khu tái định cư trên địa bàn thành phố Quy Nhơn cần được
xem xét từ những tiền đề trong quá khứ, đứng trên quan điểm lịch sử để kiểm chứng
và dự báo về sự phát triển trong tương lai.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu

đình (04)
Thông qua việc phỏng vấn các cán bộ khu vực, phường và người dân nhằm
mục đích thu thập các thông tin chuyên sâu về tình hình nghèo đói tại khu tái định cư,
khả năng tiếp cận các nguồn lực của hộ nghèo đói và mức độ quan tâm, hỗ trợ của
chính quyền địa phương, các tổ chức, ban ngành trong và ngoài tỉnh.
7.2.4. Phương pháp quan sát
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp quan sát nhằm thu thập, bổ
sung thông tin còn thiếu và kiểm tra độ tin cậy của các thông tin thông qua việc quan
sát bối cảnh sống, thái độ, thể trạng ... của người được điều tra.
8. Nội dung và Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần: mục lục, danh mục các bảng, hình vẽ, mở đầu, kết luận, và
danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nghèo và công tác xã hội đối với người nghèo
Chương 2: Thực trạng nghèo và các yếu tố cản trở đến việc thoát nghèo đối với hộ
nghèo tại các khu tái định cư trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác xã
hội trong việc trợ giúp các hộ nghèo tại các khu tái định cư trên địa bàn thành phố Quy
Nhơn, tỉnh Bình Định thoát nghèo
11


12


Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHÈO VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI NGHÈO
1.1. Một số lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu
1.1.1. Lý thuyết phát triển cộng đồng
Lý thuyết phát triển cộng đồng bắt đầu hình thành vào thập kỷ 50 ở những vùng
nông thôn còn mang tính truyền thống và gần như tự cung tự cấp. Các đặc điểm văn

Lý thuyết phát triển cộng đồng còn đưa ra một số mục tiêu, nguyên lý và quy
tắc thực hành cụ thể như sau:
- Các nguyên lý trong phát triển cộng đồng
1. Phát triển cộng đồng dựa trên phương pháp luận từ dưới lên (Bottom up) xuất
phát từ nhu cầu của chính người dân.
2. Phát triển phải đồng bộ trên mọi khía cạnh của đời sống xã hội: kinh tế, xã hội,
văn hoá phải cùng được nâng lên.
3. Tham gia của quần chúng là quan điểm cơ bản của đường lối phát triển cộng đồng.
4. Tạo được chuyển biến xã hội mới là quan trọng.
5. Phát triển năng lực trên cơ sở không “làm thay”, “làm cho” người dân. 6. Các
nghiên cứu làm nền tảng cho việc triển khai các dự án phải được đặt ngang tầm với vị
trí cần có của nó trong công tác phát triển cộng đồng.
- Mục tiêu của phát triển cộng đồng
Mục tiêu bao trùm của phát triển cộng đồng là tạo ra những chuyển biến xã hội
trong cộng đồng để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, mang lại sự bền vững về môi
trường. Phát triển cộng đồng còn góp phần mở rộng và phát triển các nhận thức và hành
động có tính chất hợp tác trong cộng đồng, phát triển năng lực tự quản cộng đồng.
Vận dụng lý thuyết phát triển cộng đồng trong nghiên cứu, giúp tác giả đưa ra
một số định hướng sau: Thứ nhất, việc tái định cư nhằm phục vụ cho công tác phát
triển cộng đồng tại thành phố Quy Nhơn là chính sách hoàn toàn đúng đắn, phù hợp
với thực tiễn phát triển chung của quốc gia. Tuy nhiên, thực hiện tái định cư cần phải
quan tâm một cách đồng bộ và toàn diện, nghĩa là bên cạnh chú trọng phát triển cơ sở
hạ tầng đô thị, phát triển kinh tế, phát triển chính sách ... cần quan tâm đến công tác
xóa đói giảm nghèo. Bởi nghèo đói là nhân tố chính cản trở đến sự phát triển của một
cộng đồng, quốc gia dân tộc. Thứ hai, quá trình trợ giúp người nghèo tại các khu tái
định không chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế, cải thiện đời sống vật chất mà phải chú
trọng cả đời sống tinh thần của họ. Hay nói cách khác cần đảm bảo sự cân đối, hài hòa
14



15


Các hệ thống luôn có sự tác động lên các cá nhân. Có thể đó là sự tác động tích
cực hoặc tiêu cực. Tuy nhiên sự phân biệt trên chỉ mang tính tương đối vì với cá nhân
này hệ thống trợ giúp có thể là hệ thống chính thức nhưng với cá nhân khác lại là hệ
thống xã hội. Vì thế cách phân chia trên chỉ mang tính tương đối. Hoặc có thể đối với cá
nhân một là hệ thống chính thức, nhưng đối với cá nhân khác đó lại là hệ thống Xã hội.
Lý thuyết hệ thống sinh thái
Thuyết hệ thống sinh thái dựa trên quan điểm của Germain & Gitterman và
Germain (1980) cho rằng con người ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng tới môi trường.
Ngược lại môi trường cũng ảnh hưởng đến con người.
Nguyên tắc cơ bản của sinh thái là mỗi cơ thể sống có quan hệ qua lại liên túc
với các thành phần khác tạo nên môi trường của chúng (những hệ thống sinh thái là
một khoa học khác với khoa học môi trường).
Lý thuyết hệ thống sinh thái được coi như là mô hình về cuộc sống. Mô hình này
chủ yếu được xây dựng trên lý thuyết sinh thái. Mô hình này còn có tên gọi là “con
người trong môi trường” (Person In Environment PIE), trong đó người ta tác động lẫn
nhau và tác động vào môi trường sống. Mục tiêu của CTXH là làm thế nào để con
người phù hợp với môi trường sống của họ.
Vận dụng lý thuyết hệ thống và sinh thái trong nghiên cứu, giúp tác giả đưa ra
một số định hướng sau: Thứ nhất, người nghèo ở các khu tái định cư trên địa bàn
thành phố Quy Nhơn là một hệ thống nằm trong những hệ thống khác lớn hơn như: Hệ
thống các phường, xã; hệ thống các phòng ban, các cơ quan đoàn thể, hội; hệ thống
các chính sách có liên quan đến người nghèo ... và chịu sự tác động của những hệ
thống đó. Vì vây, khi trợ giúp người nghèo nhân viên công tác xã hội cần tác động và
huy động sự trợ giúp từ nhiều hệ thống để tạo sức mạnh cho người nghèo có tiềm lực
vươn lên thoát nghèo, chẳng hạn: huy động sự trợ giúp từ hệ thống chính sách liên
quan đến vốn tín dụng, chính sách liên quan đến bảo hiểm y tế, sự hỗ trợ từ hội phụ
nữ, hội thanh niên. Tuy nhiên, tùy vào khả năng của từng hộ gia đình và năng lực của

toàn, không bị đe đọa, an ninh, chuẩn mực, luật lệ... (3) Nhu cầu xã hội hay nhu cầu
liên kết và chấp nhận: là các nhu cầu về tình yêu được chấp nhận, bạn bè, xã hội... (4)
Nhu cầu được tôn trọng: là các nhu cầu về tự trọng, tôn trọng người khác, được người
khác tôn trọng, địa vị ... (5) Nhu cầu tự thể hiện hay tự thân vận động: là các nhu cầu
như chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài hước...
Vận dụng lý thuyết nhu cầu của A.Maslow trong nghiên cứu chúng tôi tìm hiểu
nhu cầu của những hộ nghèo tại các khu tái định cư trên địa bàn thành phố Quy Nhơn
17


theo năm bậc thang về nhu cầu. Từ đó xem xét các nhu cầu nào đã được đảm bảo, nhu
cầu nào chưa được đảm bảo, đảm bảo ở mức độ nào, có ưu tiên đáp ứng nhu cầu nào
trước, nhu cầu nào sau hay theo trình tự các bậc nhu cầu của nhà tâm lý học
A.Maslow.
1.2. Các khái niệm công cụ
1.2.1. Công tác xã hội
1.2.1.1. Khái niệm
Công tác xã hội là một nghề chuyên môn, một khoa học đã xuất hiện trên thế
giới hàng trăm năm. Tùy vào những điều kiện cụ thể về kinh tế, xã hội, văn hóa cũng
như nền tảng tư tưởng mà công tác xã hội tại mỗi khu vực, mỗi quốc gia trên thế giới
lại có những đặc điểm riêng biệt. Do đó có rất nhiều định nghĩa về công tác xã hội:
Định nghĩa của Hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội Mỹ (NASW - 1970): "Công
tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường
hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích
hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó” [15,tr.8]
Định nghĩa của Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Quốc tế thông qua tháng 7
năm 2000 tại Montréal, Canada (IFSW): "Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi
xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải
phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu.
Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, Công tác xã hội

hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ đặc biệt trong những trường hợp
họ bị từ chối những dịch vụ, chính sách lẽ ra họ được hưởng.
- Vai trò là người vận động/hoạt động xã hội: là nhà vận động xã hội tổ chức
các hoạt động xã hội để biện hộ, bảo vệ quyền lợi cho đối tượng, cổ vũ tuyên truyền.
Ví dụ như sự vận động cho quyền lợi của những người khuyết tật được hưởng chính
sách hoà nhập.
- Vai trò là người giáo dục: là người cung cấp kiến thức kỹ năng liên quan tới vấn
đề họ cần giải quyết, nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình, nhóm hay cộng đồng qua
tập huấn, giáo dục cộng đồng để họ có hiểu biết, tự tin và tự mình nhìn nhận vấn đề đánh
giá vấn đề phân tích và tìm kiếm nguồn lực cho vấn đề cần giải quyết.
- Vai trò người tạo sự thay đổi: người nhân viên xã hội được xem như người tạo
ra sự thay đổi cho cá nhân, giúp họ thay đổi suy nghĩ, thay đổi hành vi tiêu cực hướng
tới những suy nghĩ và hành vi tốt đẹp hơn.
- Vai trò là người tham vấn: nhân viên xã hội trợ giúp gia đình và cá nhân tự
mình xem xét vấn đề, và tự thay đổi. Ví dụ như nhân viên xã hội tham gia tham vấn
giúp trẻ em bị xâm hại tình dục hay phụ nữ bị bạo hành vượt qua khủng hoảng.

20


- Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng: trên cơ
sở nhu cầu của cộng đồng đã được cộng đồng xác định, nhân viên xã hội giúp cộng
đồng xây dựng chương trình hành động phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, tiềm năng
của cộng đồng để giải quyết vấn đề của cộng đồng.
- Vai trò là người chăm sóc, người trợ giúp: nhân viên xã hội còn được xem
như người cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho những cá nhân, gia đình không có khả
năng tự đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của mình và giải quyết vấn đề.
1.2.2. Nghèo
1.2.2.1. Khái niệm
 Quan niệm về nghèo của quốc tế

bệnh cũng như các nhu cầu xã hội khác.
- Hộ nghèo: là hộ có thu nhập bình quân trên đầu người trên tháng nhỏ hơn
hoặc bằng chuẩn nghèo.
- Hộ cận nghèo: là hộ có mức thu nhập bình quân trên đầu người trên tháng từ
trên chuẩn nghèo đến tối đa bằng 130% chuẩn nghèo.
- Hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn: là hộ dân tộc thiểu số phải là hộ
nghèo, trình độ sản xuất lạc hậu chủ yếu mang tính tự cung, tự cấp, thiếu đất sản xuất
và không có tài sản hoặc có nhưng giá trị rất thấp.
- Người nghèo: là người có tên trong sổ chứng nhận hộ nghèo/sổ theo dõi quản
lý hộ nghèo.
- Xã nghèo: là xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên, được xác định theo chuẩn
nghèo hiện hành.
1.2.2.2. Tiêu chí xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo ở Việt Nam
Tiêu chí xác định hộ nghèo và cận nghèo được xác định theo từng giai đoạn
khác nhau.
Chuẩn nghèo mới nhất được áp dụng theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg về
chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015:
- Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000
đồng/người/tháng (từ 4,8 triệu đồng/người/năm) trở xuống.
- Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000
đồng/người/tháng (từ 6 triệu đồng/người/năm) trở xuống.
- Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng
đến 520.000 đồng/người/tháng.
- Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng
đến 650.000 đồng/người/tháng.
22


Mức chuẩn nghèo quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách an
sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác. Hiện nay, tỉnh Bình Định và thành phố



Song cơ chế mới, nhiều chính sách về kinh tế xã hội còn thiếu, chưa đồng bộ, trong đó
chính sách đầu tư phát triển đặc biệt là đầu tư phát triển nông nghiệp – nông thôn; Các
chính sách ưu đãi, khuyến khích, sản xuất, tạo việc làm, y tế, văn hoá, giáo dục; Chính
sách đầu tư cơ sở hạ tầng chưa thỏa đáng, nhất là ở các vùng núi, vùng cao, vùng sâu…
 Do bản thân người nghèo:
Ngoài những tác động trên vấn đề nghèo đói còn do yếu tố chủ quan của người
nghèo như:
Thiếu vốn; thiếu kiến thức; thiếu thông tin về thị trường; thiếu đất; đông con,
thiếu lao động; thất nghiệp; rủi ro, ốm đau, tai nạn; vướng vào tệ nạn xã hội.
Một bộ phận không nhỏ người nghèo, xã nghèo vẫn còn tư tưởng ỷ lại, trông
chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động vươn lên thoát nghèo.
Các nguyên nhân trên tác động qua lại lẫn nhau làm cho tình trạng nghèo đói
trong từng vùng thêm trầm trọng, gay gắt…
1.2.3. Công tác xã hội đối với người nghèo
1.2.3.1. Khái niệm
Hiện nay, có một số khái niệm đề cập đến Công tác xã hội với người nghèo như sau:
- “Công tác xã hội đối với người nghèo là tiến trình tổ chức, hoạt động của tác
viên công tác xã hội với người nghèo và cộng đồng của họ bằng việc thúc đẩy nhận
thức, nâng cao năng lực, khả năng tự vươn lên của người nghèo trong việc tìm ra
nguyên nhân của sự nghèo đói, xác định ý thức, trách nhiệm, khả năng và tự lựa chọn
giải pháp của bản thân và khai thác các yếu tố sẵn sàng giúp đỡ của cộng đồng để
thoát nghèo. Mặt khác tác viên phải huy động tài nguyên, tính sẵn sàng của cộng đồng
giúp đỡ người nghèo thoát nghèo, tạo ra sự hài hòa của quan hệ giữa người nghèo với
cộng đồng” [26,tr.43].
- “Công tác xã hội với gia đình nghèo (người nghèo) là cách tiếp cận giúp đỡ gia
đình gặp khó khăn về kinh tế, khó khăn trong việc duy trì cuộc sống sinh hoạt bình
thường hoặc có nguy cơ rơi vào tình trạng khó có thể duy trì trạng thái cân bằng trong
gia đình” [27,tr.13].

những người bị thu hồi đất để xây dựng các dự án. Tái định cư còn bao gồm các hoạt
động nhằm hỗ trợ cho những người bị ảnh hưởng do việc thực hiện các dự án gây ra,
khôi phục và cải thiện mức sống, tạo điều kiện phát triển các cơ sở sản xuất kinh tế,
văn hóa, xã hội và cộng đồng”.
- Theo nghĩa hẹp, Tái định cư được dùng chỉ sự di chuyển của các hộ gia đình
tới định cư ở nơi ở mới.
- Theo Từ điển Tiếng Việt: Tái định cư được hiểu là: Đến một nơi nhất định để
sinh sống lần thứ hai (lại một lần nữa) [28,tr.57].
- Theo Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thì tái định cư được giải thích
là: “Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Nghị định này mà
phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau: 1.
Bồi thường bằng nhà ở. 2. Bồi thường bằng giao đất ở mới. 3. Bồi thường bằng tiền để
tự lo chỗ ở mới.”
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status