VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỮU ĐIỆP
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO TRONG
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÀ GIANG
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60. 90. 01. 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN NGỌC TOẢN
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn cao học về đề tài “Công tác xã hội đối với
người nghèo trong giảm nghèo bền vững từ thực tiễn tỉnh Hà Giang” là
công trình do chính tôi thực hiện. Mọi số liệu, kết quả nêu trong luận văn là
trung thực và được trích dẫn tài liệu đã công bố và cập nhật chính xác. Nếu
sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 14 tháng 8 năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Hữu Điệp
TT
1
2
3
Từ viết tắt
Từ đầy đủ
4
ABCD
5
6
MTQG
MTTQ
Mục tiêu quốc gia
Mặt trân tổ quốc
Participatory Rural Appraisal (Là phương
7
PRA
pháp đánh giá nhanh nông thôn có người dân
tham gia trong phát triển cộng đồng)
dân cư, là một trong những nội dung quan trọng để thực hiện định hướng xã
hội chủ nghĩa. Hệ thống chính sách giảm nghèo đã và đang được hoàn thiện,
mang tính hệ thống, hỗ trợ hiệu quả và toàn diện đối với người nghèo.
Thông qua thực hiện đồng bộ hệ thống chính sách giảm nghèo, Việt
Nam đã đạt được một bước tiến ấn tượng trong công tác giảm nghèo những
năm vừa qua. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 58% (năm 1993) xuống còn
14,2% (năm 2010) và dưới 4,5% (năm 2015)... Cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các
huyện nghèo, xã nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tăng cường, đời
sống người dân không ngừng được cải thiện cả về sinh kế và tiếp cận các
dịch vụ xã hội. Thành tựu giảm nghèo của Việt Nam đã được cộng đồng
quốc tế vinh danh, được Liên Hiệp Quốc đánh giá là một trong các nước có
thành tích giảm nghèo ấn tượng nhất trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ.
Trong quá trình triển khai thực hiện chính sách, chương trình giảm
nghèo giai đoạn 2011-2015, công tác xã hội đã trở thành một trong những
công cụ giúp người nghèo giảm nghèo bền vững. Công tác giảm nghèo trên
cả nước nói chung, trên địa bàn tỉnh Hà Giang nói riêng đã đạt được những
kết quả đáng khích lệ, tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo giảm khá nhanh, đạt được
mục tiêu đã đề ra. Tuy nhiên, giảm nghèo còn chưa bền vững, tái nghèo cao;
một số chính sách hỗ trợ người nghèo còn thực hiện chưa hiệu quả; một bộ
phận người nghèo còn có thái độ trông chờ, ỷ lại; cơ chế phân cấp, trao quyền
cho người dân chưa được thực hiện tốt; nguồn lực cho giảm nghèo còn thấp,
chủ yếu dựa vào ngân sách… Điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau
1
nhưng một nguyên nhân quan trọng là chúng ta chưa có một đội ngũ nhân
viên công tác xã hội (CTXH) chuyên nghiệp, những cán bộ làm công tác giảm
nghèo đa phần lại kiêm nhiệm và thiếu các kiến thức, phương pháp và kỹ
năng CTXH trong việc hỗ trợ cho người nghèo.
Trong thời gian tới, việc thay đổi cách tiếp cận giải quyết vấn đề nghèo
“Nghiên cứu mô hình giảm nghèo của các đối tác quốc tế ở Việt Nam”, Báo
cáo trong khuôn khổ dự án “Hỗ trợ thực hiện Nghị quyết 80/NQ-CP về định
hướng giảm nghèo bền vững (2011-2020) và Chương trình mục tiêu quốc gia
về Giảm nghèo bền vững (2012-2015)”, do Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội, Tổ chức UNDP, Tổ chức Iris Aid đã tài trợ. Kết quả nghiên cứu đã khẳng
định: tình trạng đói nghèo ở mỗi vùng miền có đặc tính khác nhau và cần các
phương pháp tiếp cận khác nhau; trong thực thi cần chú trọng tính tự chủ của
địa phương, sự tham gia của người dân và lựa chọn đối tác triển khai phù hợp.
Quá trình phân tích chỉ ra rằng, mô hình của các tổ chức quốc tế thành công
hơn bởi họ tuân thủ các nguyên tắc của lý thuyết kinh tế, xây dựng động lực
tham gia của các bên và trao quyền tự quyết cho người dân. Các mô hình
quốc tế cũng triển khai theo hướng nhỏ, chậm chắc và chú trọng về nâng cao
năng lực so với các chương trình đại trà nhanh và thiếu kiểm tra đánh giá của
nhà nước.
Phạm Thái Hưng và cộng sự (2010) có bài “Nghèo của đồng bào dân
tộc thiểu số ở Việt Nam Thực trạng và thách thức tại các xã đặc biệt khó khăn
thuộc Chương trình 135-II”, Hà Nội. Nghiên cứu này đã khai thác các khía
cạnh quan trọng về mức sống của đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS); mô
tả một cách toàn diện về tình trạng nghèo và vấn đề mức sống của nhóm
DTTS ở các xã đặc biệt khó khăn. Mô tả này tập trung ở khía cạnh nghèo về
thu nhập và các khía cạnh phi tiền tệ của vấn đề mức sống kinh tế (như: tiếp
cận giáo dục, dịch vụ y tế và phát huy tính chủ động,...). Đồng thời nghiên
cứu về các yếu tố quyết định chênh lệch thu nhập giữa nhóm đa số và nhóm
DTTS khác bằng cách phân tích chênh lệch thu nhập: một là khác biệt về các
3
đặc điểm và nguồn lực giữa các nhóm dân tộc, hai là sự khác biệt về thu nhập
từ các đặc điểm và nguồn lực, ba là đã tìm hiểu đồng bào các DTTS nghèo
Viện Khoa học xã hội Việt Nam - VASS: “Giảm nghèo tại Việt Nam:
Thành tựu và Thách thức”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội - 2011. Báo cáo đã
chỉ ra những thành tựu trong giảm nghèo của Việt Nam trong giai đoạn qua là
rất tốt, nhưng không đồng đều và chưa bền vững; Công tác giảm nghèo trong
bối cảnh kinh tế mới trong giai đoạn sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức
Thương mại Thế giới và những thách thức đi kèm trong giai đoạn tới. Báo cáo
cũng đã bước đầu chỉ ra phương pháp đo lường nghèo ở Việt nam trong giai
đoạn tới cần có sự thay đổi theo hướng người nghèo cần tiếp cận được với các
dịch vụ xã hội cơ bản.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2015), “Đề án tổng thể chuyển
đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều dựa và thu nhập
sang đa chiều áp dụng trong giai đoạn 2016 - 2020”. Đề án đã chỉ ra rằng,
nghèo đói thường được xác định bằng thu nhập hoặc chi tiêu và chuẩn nghèo
được xác định bằng tiền. Cách xác định này đã bộc lộ những hạn chế như:
một số nhu cầu cơ bản của con người không thể quy ra tiền (như tham gia xã
hội, an ninh, vị thế xã hội, v.v...) hoặc không thể mua được bằng tiền (tiếp
cận giao thông, thị trường và các loại cơ sở hạ tầng khác, an ninh, môi
trường, một số dịch vụ y tế, giáo dục công v.v...); có những trường hợp hộ
gia đình có tiền nhưng không chi tiêu vào việc đáp ứng những nhu cầu tối
thiểu. Điều này cho thấy việc áp dụng duy nhất tiêu chí thu nhập để xác định
hộ nghèo đã dẫn đến sự phân loại đối tượng, đánh giá mức độ và nguyên
nhân nghèo chưa chính xác vì chưa phản ánh đầy đủ nhu cầu cơ bản, cũng
như mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Chính sách giảm nghèo được
xây dựng dựa trên cơ sở sự thiếu hụt thu nhập của hộ để chi trả dịch vụ. Như
vậy chưa tính đến các yếu tố không tiếp cận được là do dịch vụ không có sẵn
hoặc không phù hợp hoặc do chính người dân từ chối sử dụng. Từ đó chỉ ra
cần thay đổi và áp dụng phương pháp xác định nghèo đa chiều.
5
- Tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động công tác xã hội
trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững.
- Đề xuất giải pháp tăng cường và phát triển công tác xã hội trong giảm
nghèo bền vững tại tỉnh Hà Giang trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động công tác xã hội đối với người nghèo trong giảm nghèo bền
vững ở tỉnh Hà Giang.
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Người nghèo trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
- Cán bộ làm công tác giảm nghèo, công tác xã hội tại Hà Giang.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các hoạt động
CTXH đối với người nghèo, cụ thể là các hoạt động về: hoạt động tuyên
truyền vận động; hoạt động kết nối nguồn lực; hỗ trợ về tư vấn, tham vấn; hỗ
trợ tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản; hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm;
các yếu tố ảnh hưởng đến CTXH đối với người nghèo.
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 12 năm 2015 đến tháng 6 năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản
Việt Nam về công tác giảm nghèo bền vững.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác - xít như:
7
đó, đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Hà
Giang trong việc tổ chức thực hiện chính sách, chương trình giảm nghèo bền
vững giai đoạn 2016- 2020.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, nội dung của luận văn còn được
chia thành 3 chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với người
nghèo trong giảm nghèo bền vững
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội đối với người nghèo trong giảm
nghèo bền vững ở tỉnh Hà Giang
Chương 3: Giải pháp nâng tăng cường và phát triển công tác xã hội đối
người nghèo trong giảm nghèo bền vững từ thực tiễn tỉnh Hà Giang
9
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI NGHÈO TRONG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
1.1. Lý luận về người nghèo
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm nghèo
Nghèo là một hiện tượng kinh tế xã hội không chỉ tồn tại ở các quốc gia
có nền kinh tế kém phát triển, mà nó còn tồn tại ngay tại các quốc gia có nền
kinh tế phát triển. Tuỳ thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia mà tính chất,
mức độ nghèo của từng quốc gia có khác nhau. Các quốc gia thường xác định
nghèo bằng mức thu nhập tối thiểu, đó là mức thu nhập mà hộ gia đình có thể
mua sắm vật dụng cơ bản phục vụ nhu cầu thiết yếu theo mức giá hiện hành.
Mặc dù vậy, vẫn còn các khái niệm khác nhau. Cụ thể như: Năm 1995, Hội
sức khỏe và các mức sống xã hội khác, ngay cả các chỉ báo phi vật chất. Nói
cách khác, nghèo được phản ánh bằng sự thiếu hụt phúc lợi xã hội ở các khía
cạnh khác nhau và có thể được một bộ các chỉ báo đại diện. Tổng hòa các chỉ
báo này phản ánh chất lượng cuộc sống. Hiện nay, các tổ chức quốc tế đã áp
dụng khái niệm nghèo đa chiều và xây dựng các chỉ số đo lường nghèo đa
chiều. Các chỉ số đa chiều phổ biến nhất là Chỉ số nghèo con người (Human
Poverty Index - HPI) do Anand và Sen đề xuất (1997), Chỉ số phát triển con
người (Human Development Index - HDI) được Liên Hiệp Quốc sử dụng, và
Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index - MPI) do Đại học
Oxford và UNDP áp dụng dựa trên phương pháp luận của Alkire và Foster (2007).
Ở Việt Nam, nghèo được hiểu thống nhất là tình trạng một bộ phận dân
cư chưa bảo đảm các điều kiện thoả mãn những nhu cầu tối thiểu. Cụ thể là có
mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng.
1.1.1.2. Khái nhiệm chuẩn nghèo
Để đo lường nghèo hay xác định được người nghèo, phải đo lường
được tất cả các khía cạnh thiếu hụt hay sự không thỏa mãn tất cả các nhu cầu
11
cơ bản. Ví dụ, nhu cầu ăn (dinh dưỡng, lương thực, thực phẩm,…), nhu cầu
về mặc (đẹp, ấm,…), nhu cầu về ở (diện tích, chất lượng nhà ở),..
Trên thực tế, do có sự tương quan khá chặt chẽ giữa mức thu nhập với
mức độ tiêu dùng hay thỏa mãn những nhu cầu của con người; xu hướng
chung là thu nhập càng cao thì tiêu dùng càng cao. Tiêu dùng này được hiểu
là mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản càng cao. Vì vậy, chuẩn nghèo (tuyệt
đối) thường được xác định trên cơ sở một mức thu nhập hay chi tiêu, mà với
mức thu nhập hay chi tiêu đó có thể đảm bảo thoả mãn được những nhu cầu
cơ bản phù hợp trình độ phát triển kinh tế xã hội của quốc gia và được gọi là
chuẩn nghèo quốc gia.
Chuẩn nghèo quốc gia quy định và áp dụng thống nhất trên phạm vi
hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.
1.1.1.3. Khái niệm hộ nghèo, người nghèo
- Người nghèo là những người thuộc hộ nghèo.
- Hộ nghèo là hộ gia đình có mức thu nhập bình quân đầu người thấp
hơn chuẩn nghèo. Các nghiên cứu chỉ ra hộ nghèo thường thiếu đất canh tác,
thiếu vốn, rơi vào hoàn cảnh nợ nần, nhà cửa và đồ dùng tạm bợ, thiếu kinh
nghiệm làm việc, thiếu kiến thức, con cái bỏ học sớm, mù chữ, đau ốm…
1.1.1.4. Khái niệm giảm nghèo và giảm nghèo bền vững
- Giảm nghèo được hiểu là giảm tỷ lệ hộ nghèo hay giảm số hộ nghèo
trên một địa bàn, hay giảm mức độ nghèo của một cộng đồng, hoặc giảm
khoảng cách nghèo của cộng đồng dân cư. Bản chất giảm nghèo là cải thiện
hay nâng cao mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản và đích là hộ nghèo thoát
nghèo, có nghĩa là thỏa mãn các nhu cầu cơ bản ở mức độ cao.
- Giảm nghèo bền vững là sự bảo đảm hay duy trì kết quả giảm nghèo
một cách lâu dài, bền vững hay nói cách khác giảm nghèo bền vững là tình
trạng đạt được mức thỏa mãn những nhu cầu cơ bản mức thu nhập cao hơn
mức chuẩn và duy trì được mức thỏa mãn những nhu cầu cơ bản mức thu nhập
trên mức chuẩn đó ngay cả khi gặp phải các cú sốc hay rủi ro; giảm nghèo bền
13
vững có thể được hiểu với nghĩa đơn giản là thoát nghèo bền vững, hay không
bị tái nghèo.
1.1.2. Đặc điểm của người nghèo
1.1.2.1. Về đặc điểm kinh tế
Đại bộ phận người nghèo, hộ nghèo chủ yếu sống ở nông thôn và chủ
yếu tham gia vào hoạt động nông nghiệp; không có vốn hay rất ít vốn, thu
nhập mà họ nhận được là từ lao động tự tạo việc làm; nếu là những người ở
thành thị thì tập trung ở khu vực phi chính thức; thu nhập thấp, trình độ văn
hóa thấp; thiếu việc làm hoặc việc làm không ổn định, bấp bênh do trình độ
nhu cầu được đào tạo nghề, trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ thuật sản xuất nhất
là sản xuất nông nghiệp.
- Nhu cầu được tiếp cận thông tin: Do những hạn chế về thu nhập thấp,
thường sống ở vùng sâu, vùng xa nên người nghèo thường thiếu thông tin.
Chính vì vậy, họ cũng có nhu cầu được tiếp cận các thông tin về các loại hình
thiên tai, hiểm họa tự nhiên, thảm họa, biến đổi khí hậu; thông tin, kiến thức
và kỹ năng sản xuất, chăm sóc sức khỏe; thông tin về kinh tế, chính trị, xã
hội; thông tin về chính sách, pháp luật, thủ tục hành chính và các loại hồ sơ
giấy tờ cần thiết để được nhận hỗ trợ, bảo trợ từ Nhà nước và các tổ chức xã
hội…; nhu cầu hỗ trợ các phương tiện thông tin như sách, báo, đài radio…
- Nhu cầu được chăm sóc y tế: Đây là nhu cầu có thể nói là rất cần thiết
và được đa số người nghèo quan tâm. Bởi đa số họ, do sống trong điều kiện
thiếu thốn về vật chất nên dễ ốm đau, bệnh tật, hơn nữa lại thu nhập thấp nên
khi mắc bệnh lại không có tiền để chi trả chi phí khám chữa bệnh.
- Nhu cầu được sống trong môi trường an toàn, vệ sinh: phần lớn người
nghèo sống trong tình trạng thiếu thốn mọi mặt cơ sở vật chất thiết yếu cho
cuộc sống. Chính vì vậy, họ đều mong muốn được sống, sinh hoạt và sản xuất
trong một môi trường an toàn, đảm bảo những nhu cầu căn bản như nhà ở,
điện, nước sạch và thức ăn hợp vệ sinh để có thể đảm bảo cho sức khỏe, có
khả năng tái sản xuất sức lao động, tránh bị bệnh tật.
15
1.2. Lý luận về công tác xã hội đối với người nghèo
1.2.1. Một số khái niệm
1.2.1.1. Khái niệm về công tác xã hội
Theo Hiệp hội quốc gia nhân viên công tác xã hội Mỹ (NASW – 1970):
“Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm, hoặc cộng
đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và
tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó” [16, tr. 171].
cơ bản của CTXH một cách linh hoạt trong hoạt động hỗ trợ đối tượng tự giải
quyết vấn đề của chính họ.
Thứ tư, nó là một dịch vụ cung ứng các kiến thức, thông tin, kỹ năng,
hỗ trợ về tinh thần cho các cá nhân, nhóm, cộng đồng thông qua sự quan tâm
giữa người với người và giúp họ tăng thêm khả năng cải thiện điều kiện, hoàn
cảnh để tự vươn lên cải thiện cuộc sống của mình.
Có nhiều khái niệm CTXH khác nhau vì vậy trong khuôn khổ nghiên
cứu này, tác giả vận dụng, hiểu khái niệm CTXH theo bốn nội dung tóm lược
ở trên để phục vụ cho việc nghiên cứu của mình đối với hoạt động CTXH đối
với người nghèo trong giảm nghèo bền vững từ thực tiễn tỉnh Hà Giang.
1.2.1.2. Khái niệm về công tác xã hội đối với người nghèo
CTXH với người nghèo là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp
người nghèo nâng cao năng lực, đáp ứng những nhu cầu thiết yếu về sức
khỏe, tinh thần, vật chất và những nhu cầu xã hội cơ bản khác. Đồng thời,
CTXH cũng có vai trò thúc đẩy môi trường xã hội, kết nối nguồn lực nhằm
giúp người nghèo có khả năng tiếp cận các chính sách giảm nghèo và các dịch
vụ xã hội cần thiết từ đó thoát nghèo nhanh và bền vững góp phần đảm bảo an
sinh xã hội.
1.2.2. Vai trò công tác xã hội đối với người nghèo
- Vai trò là người tuyên truyền vận động: CTXH tuyên truyền và phổ
biến chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về giảm nghèo cho người
nghèo, đồng thời cũng đóng vai trò là người tuyên truyền, vận động nhằm
17
thay đổi hành vi, thái độ của người nghèo, cộng đồng nghèo để thực hiện tốt
việc hỗ trợ và trợ giúp cho họ.
- Vai trò thúc đẩy thực hiện chính sách, chương trình giảm nghèo: CTXH
nắm vững tình trạng nghèo của cộng đồng, tạo điều kiện và khuyến khích cho
mọi người dân, nhóm tích cực tham gia ý kiến, tăng cường khả năng, trách
nghèo, phát hiện những vấn đề nảy sinh trong quá trình tổ chức thực hiện để
kiến nghị các bên có liên quan có những điều chỉnh phù hợp.
Thông qua các phương pháp chuyên nghiệp, CTXH sẽ trực tiếp giải
quyết các vấn đề của người nghèo, hỗ trợ giải quyết các vấn đề về việc làm,
thu nhập, lao động, các vấn đề xã hội nảy sinh khác cho người nghèo, hộ
nghèo và cộng đồng nghèo.
1.2.3. Lý thuyết tiếp cận và phương pháp công tác xã hội đối với
người nghèo
1.2.3.1. Lý thuyết tiếp cận trong công tác xã hội đối với người nghèo
Ngành CTXH tiếp cận và sử dụng một số lý thuyết khoa học về xã hội
thuộc ngành tâm lý học như: Thuyết vai trò, thuyết nhận thức - hành vi,
thuyết nhu cầu, thuyết hệ thống…Trong phạm vi thực hiện đề tài này, tác giả
tiếp cận một số lý thuyết có thể áp dụng hiệu quả trong quá trình nghiên cứu,
ứng dụng vào thực tiễn trong làm việc với người nghèo và cộng đồng nghèo
như: Thuyết về quyền con người, thuyết về nhu cầu con người, thuyết trao
quyền, thuyết phát triển cộng đồng.
- Lý thuyết về quyền con người:
Tiếp cận dựa trên quyền con người là một khung lý thuyết có chứa
đựng các nguyên tắc, tiêu chuẩn và mục tiêu của hệ thống quyền con người
trong quá trình lập kế hoạch và tiến trình thực hiện các hoạt động CTXH.
Cách tiếp cận dựa trên quyền lấy nền tảng cơ bản chính là hệ thống
quyền con người đã được pháp luật quốc tế bảo vệ. Với cách tiếp cận theo
quyền, nhân viên xã hội cần dựa trên hệ thống quyền con người để xây dựng
19
các phương pháp và hoạt động của những mô hình phát triển xã hội. Theo
cách tiếp cận dựa trên quyền con người, vấn đề phân biệt kỳ thị, yếu thế, thiệt
thòi và bóc lột sức lao động là nguyên nhân chủ yếu của đói nghèo. Cách tiếp
cận này luôn đưa ra đối tượng tác động cụ thể, đó chính là con người với