MỤC LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mua bán Phụ nữ và trẻ em đã trở thành vấn nạn toàn cầu nói chung, đặc biệt
đối với Việt Nam, quốc gia nằm trong khu vực Nam Á.
Theo Báo cáo tổng kết chương trình hành động phòng chống tội phạm buôn
bán phụ nữ và trẻ em của Chính phủ Việt Nam giai đoạn 2004- 2009, trong 5 năm
thực hiện chương trình, cả nước đã xảy ra 1.586 vụ mua bán người, trong đó có
2.888 đối tượng, lừa bán 4.008 nạn nhân. Con số này đã tăng so với 5 năm trước là
1.090 vụ, 2.117 đối tượng và 2935 nạn nhân. Trong đó, trên 60% số vụ là mua bán
sang Trung Quốc. Các địa phương xảy ra tình trạng này nhiều nhất là: Hà Giang,
Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Nội, Nghệ An, Lai Châu, Bắc Giang. Tuy
nhiên đây chỉ là số vụ bị phát hiện còn số lượng thực tế có thể lớn hơn nhiều[3].
Nạn nhân của mua bán người chủ yếu là phụ nữ tập trung trong độ tuổi từ 15
đến 35. Đa phần họ xuất thân từ các vùng nông thôn, trong các gia đình nghèo, trình
độ học vấn thấp hay trong các gia đình có những vấn đề xã hội như rượu chè, bạo
lực gia đình, gia đình khiếm khuyết hoặc không hạnh phúc… [14]. Trong hàng
nghìn nạn nhân của nạn buôn bán người, một số ít may mắn trốn thoát trở về.
Nhưng cuộc sống của họ sẽ ra sao khi những khó khăn về vật chất, những hậu quả
nặng nề về tâm lý, sức khỏe và định kiến xã hội cứ bám riết họ trong quá trình tái
hòa nhập cộng đồng? Liệu trong số họ, bao nhiêu người sẽ ổn định cuộc sống? Bao
nhiêu nạn nhân phải chấp nhận cuộc sống bấp bênh? Những ai trong số này rơi vào
các tệ nạn xã hội?
Hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về là một công tác toàn diện, phức tạp, liên
quan tới các vấn đề tâm lý, giáo dục và giáo dục lại, hỗ trợ hồi phục và tái hòa nhập
cộng đồng…Một số chính sách cụ thể để hỗ trợ các nạn nhân bị mua bán trở về đã
được áp dụng và có kết quả tích cực. Mặt khác, công tác hỗ trợ nạn nhân hồi phục
2
và tái hòa nhập cộng đồng vẫn đang tiếp tục đặt ra nhiều vấn đề về mặt thực tế và
chính sách.
túy và tội phạm của Liên hiệp quốc), cung cấp hỗ trợ thực tiễn cho các chính phủ,
những nhà hoạch định chính sách, công an, các tổ chức phi chính phủ và những
thành phần liên quan khác trong việc đấu tranh chống lại nạn mua bán người một
cách có hiệu quả. Công trình đã đưa ra những phương pháp và cách thức thực hành
đang được sử dụng hiện nay trên thế giới như cách để xác định nạn nhân bị mua
bán, cách phỏng vấn và bảo vệ nạn nhân [42].
Một báo cáo khác mang tính chất toàn cầu về vấn đề buôn bán người, Global
report on trafficking in persons được thực hiện bởi UNODC tháng 2/2009 lại đưa ra
một cái nhìn mới mẻ về cách thế giới phản ứng với vấn đề mua bán người trong đó
chứa đựng các thông tin tương đối toàn diện về hệ thống luật pháp và việc thực thi
ở nhiều quốc gia trên thế giới [43].
Tác giả Louise Shelley với công trình toàn diện về nạn buôn bán người,
Human trafficking: A global perspective (Mua bán người: cái nhìn toàn cầu) đã
nhấn mạnh những nội dung như sự bùng nổ và hậu quả của nạn mua bán người; vấn
đề tài chính trong hệ thống buôn người; và tình trạng mua bán người tại nhiều khu
vực trên thế giới trong đó có châu Á, châu Âu, châu Mỹ và châu Phi. Tuy nhiên,
công trình này chỉ tập trung vào thực trạng mua bán người, những hậu quả của nó
chứ không nói nhiều về các phương pháp cụ thể nhằm hỗ trợ nạn nhân bị mua bán
trở về [39].
Công trình nhan đề Trafficking in women and children – current issues and
developments (Mua bán phụ nữ và trẻ em – các vấn đề hiện tại và xu hướng phát
triển) do Anna M. Troubnikoff chủ biên đã thảo luận về hậu quả của nạn mua bán
phụ nữ và trẻ em, trong đó chỉ ra các nạn nhân cụ thể cần được hỗ trợ và các chiến
lược cho những kế hoạch phòng chống tệ nạn này một cách hiệu quả [35].
4
Bài viết Human trafficking: Improving victim identification and service
provision (Mua bán người: Cải thiện vấn đề xác định nạn nhân và cung cấp dịch vụ)
năm 2011, đã đưa ra đánh giá Đạo luật bảo vệ nạn nhân của Mỹ (TVPA). Từ đó, bài
viết cho thấy cần phải cải thiện vấn đề xác định nạn nhân và tăng cường cung cấp
dịch vụ. Xu thế toàn cầu, những nỗ lực và nhược điểm trong việc hạn chế nạn buôn
hình cho lĩnh vực Công tác xã hội trợ giúp nạn nhân bị buôn bán [36].
2.2. Tại Việt Nam
Nghiên cứu khảo sát “Tình hình buôn bán phụ nữ - trẻ em nhằm đề xuất các
hoạt động can thiệp phù hợp tại một số vùng phát triển” do Tổ chức Action Aid
Việt Nam được thực hiện tháng 10/2008 [1].
Nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh của thực trạng buôn bán phụ nữ-
trẻ em tại 4 tỉnh như đối tượng nạn nhân bị buôn bán, thủ phạm buôn bán, điểm bị
buôn bán, nhận thức của cộng đồng về vấn đề buôn bán, các hoạt động phòng chống
buôn bán người và tìm hiểu cuộc sống của các nạn nhân sau khi trở về tái hòa nhập
cộng đồng. Từ đó, tác giả đưa ra những giải pháp hữu ích như truyền thông, nâng
cao nhận thức cho cộng đồng, đồng thời hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng và trao
quyền cho người trở về, phòng ngừa tội phạm, thúc đẩy sự phát triển xã hội để
cùng với Chính phủ Việt Nam thực hiện tốt hoạt động phòng chống mua bán phụ nữ
trẻ em, giảm thiểu số lượng phụ nữ và trẻ em bị mua bán cả ở trong nước và nước
ngoài. Nghiên cứu cũng đưa ra những khuyến nghị liên quan đến việc nâng cao
hiệu quả truyền thông, hoạt động tái hòa nhập cộng đồng và công tác phòng chống
tội phạm buôn bán người.
Nghiên cứu “Mua bán trẻ em trai tại Việt Nam” là một phần trong Chương
trình chung về Bình đẳng giới do chính phủ Việt Nam và các cơ quan Liên hợp
quốc tại Việt Nam cùng phối hợp thực hiện [6].
Nghiên cứu đã đưa ra những bằng chứng ban đầu khẳng định rằng tình trạng
mua bán trẻ em trai có xảy ra ở Việt Nam, cả trong nước và nước ngoài. Trẻ em trai
bị mua bán phải làm các công việc khác nhau: làm ăn xin và bán rong trên đường
6
phố, trong không ít trường hợp các em bị bóc lột tình dục. Một điều đáng lưu ý là
dù báo cáo này đã phát hiện các trường hợp trẻ em trai bị mua bán nhưng trong hệ
thống báo cáo chính thức của chính quyền địa phương lại không có trường hợp mua
bán trẻ em trai nào hoặc không có số liệu thống kê chính thức về tình hình này.
Liên quan đến hoạt động tái hòa nhập cộng đồng, các nạn nhân được giải
cứu đề cập trong nghiên cứu đều được hỗ trợ tiền để trở về nhà như tiền đi lại và
bệnh lây qua đường tình dục một cách trầm trọng, trong đó có chị em bị nhiễm
HIV/AIDS, phải tự bỏ tiền chữa khám bệnh đã phải vay mượn do đó điều kiện kinh
tế ngày càng kiệt quệ. Việc tiếp cận cơ sở dịch vụ y tế chính thức của những nhóm
xã hội này gặp nhiều khó khăn do bản thân họ muốn che dấu tình trạng bệnh tật của
mình vì liên quan đến "định kiến" của cộng đồng, đồng thời do các cơ sở phi chính
thức phục vụ tiện lợi hơn, "bí mật" hơn tuy giá thành đắt đỏ. Kết quả nghiên cứu
cho thấy giải pháp cơ bản để giúp những nhóm xã hội phụ nữ này thoát khỏi những
điều kiện sống bất lợi hiện nay là xoá đói giảm nghèo trên cơ sở tạo việc làm, cho
vay vốn, nâng cao trình độ học vấn, trang bị khoa học kỹ thuật và hỗ trợ các vấn đề
xã hội khác [34].
Dự án Phòng chống buôn người khu vực châu Á (ARTIP) là sáng kiến của
Chính phủ Úc nhằm tăng cường việc đáp ứng tư pháp hình sự đối với việc buôn bán
người ở khu vực châu Á. Dự án này được bắt đầu từ tháng 8 năm 2006 và hoạt động
trong 5 năm, ARTIP chú trọng vào việc chấm dứt sự trốn tránh bị trừng phạt của tội
phạm và bảo đảm công lý cho các nạn nhân. Các nội dung chính của dự án là tăng
cường đáp ứng hành pháp chuyên sâu và bao quát chung đối với tệ buôn bán người;
Tăng cường đáp ứng về truy tố và xét xử đối với tệ buôn người và dự án cũng cung
cấp tư vấn và hỗ trợ cho các chính phủ trong việc phát triển hoặc chỉnh sửa khung
pháp lý quốc gia về nạn buôn người [2].
Trong báo cáo Thúc đẩy bình đẳng giới để chống buôn bán phụ nữ và trẻ em,
tác giả đã nêu rõ các khái niệm cơ bản về giới và bình đẳng giới; những khác biệt
giới cơ bản trong lao động trẻ em và buôn bán lao động trẻ em; những chiến lược và
8
kỹ thuật chính trong việc lồng ghép giới vào các chương trình, dự án phòng chống
buôn bán phụ nữ và trẻ em [27].
Cuốn sách Kết quả và kinh nghiệm thực hiện các chương trình ngăn ngừa
nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em giai đoạn 2002-2007 của Quỹ Châu Á tóm tắt các
hoạt động và dự án mà Quỹ châu Á hỗ trợ các cơ quan đối tác Việt Nam trong giai
đoạn 2002 – 2007. Nội dung chủ yếu bao gồm các chương trình tuyên truyền giáo
dục phòng ngừa; các chương trình nâng cao năng lực kinh tế và nâng cao địa vị xã
quả của nó đang là vấn đề cần được quan tâm tìm hiểu kỹ hơn. Qua nghiên cứu
“Công tác xã hội đối với nạn nhân bị mua bán trở về từ thực tiễn Ngôi nhà Bình
yên”, tác giả muốn đi sâu vào tìm hiểu các dịch vụ được cung cấp tại Ngôi nhà Bình
yên đối với phụ nữ và trẻ em bị mua bán trở về, phản hồi của thân chủ và những kết
quả đạt được.
3. Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng công tác hỗ trợ phụ nữ và trẻ em bị mua bán trở về tại Ngôi nhà
Bình Yên như thế nào?
- Mô hình hỗ trợ này đáp ứng được nhu cầu của nạn nhân và ảnh hưởng và tới
cộng đồng như thế nào?
- Làm thế nào để nâng cao hiệu quả của các hoạt động hỗ trợ cho nạn nhân bị
buôn bán trở về tại Ngôi nhà Bình Yên.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Công tác hỗ trợ nạn nhân bị mua bán tại Ngôi nhà Bình Yên là chuyên nghiệp.
Mô hình Dự án ngôi nhà Bình yên đã đáp ứng đúng nhu cầu của các nạn nhân bị
mua bán trở về. Đồng thời các hoạt động của dự án đã góp phần đẩy mạnh công tác
phòng chống hoạt động mua bán phụ nữ, trẻ em và hoạt động hỗ trợ nạn nhân.
Mô hình vẫn còn những hạn chế nhất định về quy mô nhà hỗ trợ cũng như
trong lĩnh vực chuyên môn, kỹ thuật.
5. Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu
5.1. Mục đích nghiên cứu
10
Cung cấp thông tin, giới thiệu cho các tổ chức, cá nhân có liên quan về một
mô hình hoạt động hiệu quả trong việc hỗ trợ nạn nhân bị mua bán. Đồng thời, đề
xuất một số kiến nghị giúp mô hình trở nên hoàn thiện hơn.
- Mục tiêu nghiên cứu:
Tìm hiểu thực trạng công tác hỗ trợ phụ nữ và trẻ em bị mua bán trở về, đồng
thời góp phần phát hiện vấn đề trong công tác hỗ trợ bền vững cho nạn nhân.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Thực trạng công tác hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về tại Ngôi nhà Bình Yên.
+ Nhân viên công tác xã hội tại Ngôi nhà Bình yên.
8. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: 05 tháng, từ tháng 1/2014 đến tháng 05/2014.
- Không gian nghiên cứu: Ngôi nhà Bình Yên, Trung tâm Phụ nữ và Phát triển,
Hội LHPNVN.
- Giới hạn nghiên cứu: Các hoạt động hỗ trợ phụ nữ và trẻ em bị mua bán trở
về tại Ngôi nhà Bình Yên.
9. Ý nghĩa của nghiên cứu
9.1. Về khoa học
Thông qua thực tiễn hoạt động hỗ trợ nạn nhân tại Ngôi nhà Bình yên, đề tài
sẽ đóng góp vào việc làm rõ một số luận điểm lý luận công tác xã hội liên quan tới
quá trình tái hòa nhập cộng đồng của các nạn nhân tệ mua bán người.
9.2. Về mặt thực tiễn
Kết quả của đề tài sẽ:
- Góp phần làm rõ thực trạng công tác hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về.
- Đề xuất kiến nghị để điều chỉnh các hoạt động hỗ trợ nạn nhân bị mua bán
trở về, hướng tới xây dựng mô hình hỗ trợ toàn diện và bền vững.
10. Cơ cấu luận văn
Ngoài phần phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,
luận văn còn có 3 chương sau:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu
Chương II: Thực trạng hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về
Chương III: Hiệu quả mô hình công tác xã hội trong trợ giúp nạn nhân bị
mua bán trở về tại Dự án Ngôi nhà Bình Yên
12
NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU
1.1. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.1.1. Thuyết nhân quyền
2. Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết nhu cầu của trẻ em.
3. Đào tạo nghề và việc làm để đảm bảo sau chương trình tái hòa nhập các nạn
nhân có thể có việc làm tốt hơn.
4. Hỗ trợ pháp lý. Theo đó công an và cộng đồng địa phương nên làm việc cùng
nhau chống lại nạn buôn người.
5. Hoạt động chăm sóc sức khỏe, y tế cần được cung cấp cho các nạn nhân trong
quá trình hội nhập.
6. Dịch vụ xã hội để bảo vệ nạn nhân, những người thường lo lắng bị trả thù bởi
những kẻ buôn người, và họ có lý do để cảm thấy không an toàn.
7. Dịch vụ hỗ trợ tâm lý cho các nạn nhân bị lạm dụng, căng thẳng, trầm cảm và
chịu hậu quả của sang chấn. Hỗ trợ tâm lý cần được cung cấp trong suốt quá
trình tái hòa nhập.
“Hỗ trợ tái hòa nhập cần được làm sẵn để ngăn chặn tình trạng kỳ thị, đào
tạo nghề, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ giáo dục, ngay cả thực phẩm và tạo thu nhập để
hỗ trợ họ đảm bảo tái hòa nhập thành công.” [39]
Trong luận văn này, tái hòa nhập được xem xét như một quá trình hoạt động
hỗ trợ thân chủ phục hồi vị thế trở về với cuộc sống, gia đình và cộng đồng của
mình với điều kiện tốt hơn, an toàn hơn.
1.1.3. Quan niệm sức mạnh thân chủ
Lối tiếp cận này được đề cập từ giữa thập niên 1990 và được sử dụng dựa trên
các nguyên tắc sau:
Mọi cá nhân, nhóm, cộng đồng đều có sức mạnh nội tại của họ. Nhân viên
xã hội phải giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng đó phát hiện ra sức mạnh của họ,
tạo nên khả năng thích ứng, đối phó với những khó khăn, thách thức trong mọi hoàn
cảnh. Thân chủ lâm vào những tình huống khó khăn: bị lạm dụng tình dục, bệnh tật,
14
nghèo đói v.v… Vấn đề là ở chỗ cần phải đánh giá những khó khăn này một cách
chính xác, tìm ra được các cơ hội và đường hướng để giải quyết nó theo cách tích
cực nhất. Một trong những biện pháp làm việc từ phía nhân viên xã hội là cần xác
định rõ những khả năng của thân chủ, khám phá thân chủ muốn gì và nhìn ra các
(c) Việc tuyển dụng, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay nhận một đứa
trẻ nhằm mục đích bóc lột sẽ bị coi là “buôn bán người” ngay cả khi việc
này được thực hiện không cần dùng tới bất cứ hình thức nào được nói
đến trong khoản (a) điều này;
(d) “Trẻ em” có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi.
Trong luật pháp Việt Nam hiện chưa có một khái niệm chính thức về mua
bán người. Tuy nhiên trong Nghị định số 62/2012/NĐ-CP về căn cứ xác định nạn
nhân bị mua bán và bảo vệ an toàn cho nạn nhân và người thân thích của họ, mua
bán người được hiểu là viêc “coi người như một loại hàng hóa để trao đổi bằng
tiền và lợi ích vật chất khác”
Như vậy, các yếu tố cấu thành trong việc mua bán người lớn hay trẻ em đều
giống nhau, bao gồm:
• Đối tượng bị mua bán: bao gồm cả người lớn và trẻ em, cả nam và nữ
• Hành vi: thực hiện hành vi mua bán (dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác
để đổi lấy người)
• Phương thức: không tính tới
• Mục đích: không phải yếu tố bắt buộc
Độ tuổi của nạn nhân chỉ có ý nghĩa xác định mức độ nghiêm trọng của tội
phạm. Nếu nạn nhân chưa đủ 16 tuổi, thì kẻ phạm tội sẽ bị xử với khung hình phạt
nặng hơn theo khung hình phạt Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em.
1.2.2. Công tác xã hội
Theo Hiệp hội Quốc gia Nhân viên CTXH của Mỹ (NASW): “CTXH là hoạt
động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao
hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra
các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ.”
16
Cũng với cách tiếp cận trên, TS Bùi Thị Xuân Mai trong giáo trình “Nhập
môn công tác xã hội”, đã đưa ra khái niệm “CTXH là một nghề, một hoạt động
chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng
lực, đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi
Bình yên đồng thời cũng cung cấp hàng loạt các dịch vụ hỗ trợ để các thân chủ
phục hồi và nâng cao năng lực bản thân phục vụ cho quá trình tái hòa nhập.
1.2.4. Trao quyền
“Trao quyền là tiến trình trợ giúp cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng
hướng đến gia tăng những điểm mạnh cá nhân, liên cá nhân, kinh tế, chính trị và tạo
những ảnh hưởng để thay đổi bối cảnh sống” [26].
Như vậy, trao quyền hướng đến giúp các thân chủ đạt được quyền ra quyết
định và hành động thông qua cuộc sống của họ bằng việc làm giảm đi những tác
động về những giới hạn/hạn chế của cá nhân hoặc xã hội trong việc thực hiện quyền
lực hiện hữu, qua việc gia tăng khả năng và sự tự tin nhằm sử dụng quyền lực và
chuyển đổi quyền lực từ môi trường đến với thân chủ.
Việc trao quyền cho phụ nữ và trẻ em bị mua bán trở về là hết sức cần thiết.
Thông qua trao quyền, thân chủ sẽ trở nên tự tin hơn, trân trọng giá trị bản thân
mình hơn và kiểm soát cuộc sống của họ tốt hơn. Trao quyền tại Ngôi nhà Bình yên
được thực hiện thông qua việc đào tạo kĩ năng và các giá trị cuộc sống như học cách
giải quyết các yêu cầu công việc hàng ngày, công việc gia đình như đi chợ, nấu
nướng, dọn dẹp, kỹ năng quản lý tài chính… Qua đó, thân chủ có khả năng tự làm
chủ cuộc sống của mình.
1.3. Các văn bản pháp luật liên quan đến mua bán phụ nữ và trẻ em
1.3.1. Luật pháp quốc tế
Mua bán phụ nữ, trẻ em là vấn nạn tồn tại từ lâu trong đời sống xã hội mà
nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ sự bất bình đẳng giới. Cùng với sự lớn mạnh của
các phong trào nữ quyền, vấn đề mua bán phụ nữ lần đầu tiên được nhắc đến trong
một văn bản pháp luật quốc tế vào năm 1979, “Công ước về xóa bỏ các hình thức
phân biệt đối xử chống lại phụ nữ”. Công ước kêu gọi “các quốc gia thành viên phải
18
tiến hành tất cả các biện pháp thích hợp kể cả về pháp luật để xóa bỏ mọi hình thức
buôn bán và bóc lột mại dâm phụ nữ” [4;31]. Mặc dù chỉ được đề cập một cách sơ
sài như vậy trong điều 6, Phần I của Công ước, nhưng đây là tiếng nói phản đối đầu
tiên của cộng đồng quốc tế đối với vấn đề này.
phạm buôn bán người đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Đồng thời, chúng ta ký kết các
thỏa thuận đa phương, song phương (Văn kiện ghi nhớ và kế hoạch hành động 6
nước tiểu vùng sông Mekong; Hiệp định song phương với Campuchia (2005); Hiệp
định Việt Nam- Thái Lan (2008) và Hiệp định Việt Nam – Trung Quốc (2010)…),
nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm mua bán người và hỗ trợ nạn nhân
bị mua bán trở về.
Đảng và Nhà nước đã sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản pháp luật để tạo nên
một khung pháp lý tương đối toàn diện, bao gồm các qui định pháp luật mang tính
phòng ngừa và các qui định về bảo vệ nạn nhân, hỗ trợ nạn nhân tái hòa nhập cộng
đồng.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28
tháng 11 năm 2013. Trong đó, điều 20 của Hiến pháp đã quy định: “Mọi người có
quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự
và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức
đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”.
Như vậy, mọi công dân Việt Nam trong đó có phụ nữ và trẻ em được Nhà nước bảo
hộ về tính mạng, danh dự và nhân phẩm. Quy định này chính là nền tảng pháp lý
chống lại các hành vi xâm hại đến con người, danh dự, nhân phẩm phụ nữ nói
chung và mua bán phụ nữ, trẻ em nói riêng.
Thể chế các quy định của Hiến pháp, có nhiều văn bản luật như Luật Hôn
nhân và gia đình, Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Luật Bình đẳng giới, Bộ Luật
Hình sự v.v đã đưa ra các quy định và mức hình phạt cụ thể cho các hành vi liên
quan đến hoạt động mua bán phụ nữ, trẻ em.
20
Tại điều 6, Luật Hôn nhân và Gia đình (2000) có đề cập đến việc nhận con
nuôi, luật quy định “nghiêm cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao
động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác”. Các quy
định liên quan đến thủ tục cho, nhận con nuôi (từ Điều 68 đến 77) đều được Luật
quy định rất chặt chẽ nhằm bảo đảm cho việc nuôi con nuôi được thực hiện đúng
Bên cạnh các văn bản luật quy định trực tiếp những vấn đề liên quan đến
mua bán phụ nữ, Việt Nam cũng đã có các văn bản luật đưa ra những quy định gián
tiếp nhằm ngăn chặn, phòng ngừa tệ mua bán người. Luật Người lao động Việt Nam
đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định: “nghiêm cấm lợi dụng hoạt động
đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức đưa công dân Việt Nam ra
nước ngoài cũng như đưa người lao động đi làm việc ở khu vực, ngành, nghề và
công việc bị cấm theo quy định của Chính phủ hoặc không được nước tiếp nhận
cho phép”. Hiện nay, Nhà nước đang khuyến khích các hoạt động nhằm mở rộng
thị trường, tìm đối tác, hợp đồng để tạo điều kiện cho người lao động đi làm việc ở
nước ngoài. Tuy nhiên, hoạt động này cũng dễ bị lợi dụng để tổ chức đưa người
Việt Nam di cư bất hợp pháp, bóc lột sức lao động của người lao động, mua bán
phụ nữ trẻ em.
Không chỉ đưa ra những quy định chung về vấn đề này, hoạt động liên quan
đến phòng ngừa mua bán phụ nữ trẻ em cũng được các văn bản luật đưa ra các chế
tài cụ thể cho từng hành vi phạm tội. Mua bán phụ nữ trẻ em là loại tội phạm xâm
hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm con người. Vì vậy, các chế tài
hình sự đối với loại tội phạm này được quy định trong Bộ Luật Hình sự rất nghiêm
khắc. Có 2 điều luật quy định các chế tài cụ thể áp dụng đối với hành vi này là điều
119 (Tội mua bán phụ nữ) và điều 120 (Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ
em). Trong đó, hình phạt chính đối với tội mua bán phụ nữ tối thiểu 2 năm tù, tối đa
20 năm tù và hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5 triệu đến 50 triệu, phạt quản chế
hoặc cấm cư trú từ 1 đến 5 năm. Hình phạt chính đối với tội mua bán trẻ em tối
thiểu 3 năm tù, tối đa tù chung thân và hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5 triệu đến
50 triệu, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định hoặc
22
phạt quản chế từ 1 đến 5 năm. Về chế tài dân sự, hành chính, pháp luật dân sự
không có quy định riêng về trách nhiệm bồi thường thiệt hại liên quan đến hành vi
mua bán người, nhưng theo nguyên tắc chung về bồi thường thiệt hại, thì người nào
có lỗi trong việc xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài
sản, các quyền và lợi ích của nguời khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Theo
Việt Nam ở nước ngoài về việc tiếp nhận và xử lý thông tin, tài liệu về nạn nhân và
phối hợp với Bộ Công an trong việc xác minh nhân thân của nạn nhân, cấp giấy tờ
cần thiết, làm thủ tục đưa họ về nước; trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền của
Bộ Công an thực hiện việc tiếp nhận nạn nhân, nếu họ có nguyện vọng tự trở về nơi
cư trú, thì hỗ trợ tiền tàu xe, tiền ăn trong thời gian đi đường và hướng dẫn họ làm
thủ tục nhận các chế độ hỗ trợ quy định tại Điều 24 của Luật này. Trường hợp họ
không có nơi cư trú hoặc có nguyện vọng được lưu trú tại cơ sở bảo trợ xã hội hoặc
cơ sở hỗ trợ nạn nhân thì chuyển giao họ cho những cơ sở này. Công tác hỗ trợ nạn
nhân cũng được Luật đề cập đến (từ các điều 32 – 40 về hỗ trợ các nhu cầu thiết
yếu, hỗ trợ y tế, hỗ trợ tâm lý, trợ giúp pháp lý, hỗ trợ học văn hóa, học nghề, trợ
cấp khó khăn ban đầu và hỗ trợ vay vốn).
Như vậy, theo pháp luật hiện hành, việc tái hòa nhập cộng đồng của nạn
nhân bị buôn bán được quy định như sau:
- Tất cả phụ nữ, trẻ em bị buôn bán khi trở về địa phương cư trú đều dược
hưởng các chế độ hỗ trợ, giáo dục để ổn định cuộc sống và tái hòa nhập
cộng đồng.
- Trợ giúp đối tượng trong việc làm chứng minh thư nhân dân, nhập hộ khẩu,
xóa mù chữ, làm giấy khai sinh cho trẻ em đi học, tùy từng đối tượng và khả
năng mà hỗ trợ đất đai canh tác, làm nhà ở…
- Tùy hoàn cảnh địa phương mà tổ chức các lớp dạy nghề cho phụ nữ, trẻ em
bị buôn bán trở về.
- Tạo việc làm cho đối tượng phù hợp với hoàn cảnh, hỗ trợ phụ nữ tiếp cận
các nguồn vốn vay.
24
- Trợ cấp cho nạn nhân trở về, hỗ trợ kinh phí hòa nhập cộng đồng, tư vấn
pháp luật, y tế, giáo dục, xã hội… cho nạn nhân.
- Đa dạng hoá các mô hình hỗ trợ nạn nhân tại cộng đồng. Luật đã đề cập đến
việc thành lập các cơ sở hỗ trợ của tổ chức cá nhân Việt Nam, tạo điều kiện
xã hội hóa hoạt động hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về.
Đồng thời với việc ban hành các văn bản pháp luật, Thủ tướng chính phủ đã