LUAN VAN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NẠN NHÂN BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TỪ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA NGÔI NHÀ BÌNH YÊN. - Pdf 37

MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Mục lục

1

Danh mục các chữ viết tắt

3

Danh mục các hình vẽ

4

MỞ ĐẦU

5

1. Tính cấp thiết của đề tài

5

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

6

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

10


1.2. Cơ sở pháp lý của hoạt động CTXH đối với nạn nhân bị BLGĐ

30

1.3. Các nguyên tắc cơ bản trong CTXH đối với nạn nhân bị BLGĐ

33

Chương 2: TÌNH HÌNH BẠO LỰC GIA ĐÌNH VÀ CÁC HOẠT

1


ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH Ở NƯỚC TA THỜI
GIAN QUA
2.1. Tình hình BLGĐ ở nước ta thời gian qua

38

2.2. Thực trạng hoạt động phòng, chống BLGĐ ở nước ta thời gian
qua

47

2.3. NNBY – Mô hình nhà tạm lánh đầu tiên tại Việt Nam

52

Chương 3: HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ NẠN NHÂN BỊ BẠO LỰC GIA
ĐÌNH TẠI NGÔI NHÀ BÌNH YÊN

2


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1. Công tác xã hội: CTXH
2. Ngôi nhà bình yên: NNBY
3. Bạo lực gia đình: BLGĐ
4. Luật Phòng, chống Bạo lực gia đình: LPCBLGĐ

3


DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Bảng 1.1: Các hình thức bạo lực trong suốt chu trình sống của một người phụ nữ
Hình 1.1. Các giai đoạn của vòng tròn bạo lực
Hình 2.1. Bạo lực chồng chất trong đời – bạo lực thể xác, bạo lực tinh thần và
bạo lực tình dục do người chồng gây ra đối với phụ nữ đã lập gia đình ở
Việt Nam
Hình 2.2. Tần suất bị thương của phụ nữ bị bạo lực gia đình
Hình 3.1. Cơ cấu tổ chức của NNBY
Hình 3.2. Số lượng người tạm trú ở tại NNBY tính theo năm

4


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
BLGĐ chống lại phụ nữ là hiện tượng phức tạp, mang tính toàn cầu và có

phụ nữ là nạn nhân bị BLGĐ và được cộng đồng đánh giá cao. Một khi trong đời
sống xã hội, hiện tượng bạo hành vẫn còn là điều nhức nhối thì sự có mặt của
NNBY như một động thái tích cực nhằm góp phần đẩy lùi tệ nạn nói trên, giúp
chị em phụ nữ vượt qua sóng gió cuộc đời, vươn lên tự chủ trong cuộc sống.
Đề tài “Công tác xã hội đối với nạn nhân bị bạo lực gia đình từ thực tiễn
hoạt động của Ngôi nhà bình yên” được thực hiện nhằm tìm hiểu những hoạt
động CTXH trong việc trợ giúp cho nạn nhân bị BLGĐ nói chung và hoạt động
hỗ trợ chuyên nghiệp tại NNBY nói riêng. Từ kết quả những phân tích này, luận
văn sẽ đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trợ giúp của NNBY đối
với các nạn nhân cũng như những đóng góp của NNBY trong công cuộc phòng,
chống BLGĐ đối với cộng đồng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Năm 2005, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) phối hợp với Trường Dược nhiệt
đới của Mỹ đã thực hiện một nghiên cứu đa quốc gia với chủ đề “Women’s
Health and Domestic Violence against Women” (Sức khỏe phụ nữ và BLGĐ
chống lại phụ nữ). Nghiên cứu đã tiếp cận với phụ nữ trên 10 quốc gia bao gồm
Băngladet, Brazin, Ethiopia, Nhật, Peru, Namibia, Samoa, Serbia và
Montenegro, Thái Lan và nước Cộng hòa Tanzania.

6


Năm 2004, cuốn sách “Healing the trauma of domestic violence” (Hàn gắn
những khủng hoảng/ sang chấn của BLGĐ) của Esward. S. Kubany xuất bản tại
Canada đã đề cập đến các kĩ thuật giúp những phụ nữ là những nạn nhân bị
BLGĐ có thể vượt qua được những khủng hoảng, sang chấn do bạo lực đem lại.
Với cách tiếp cận vào thủ phạm gây bạo lực, cuốn sách “Stop domestic
violence” (Chấm dứt bạo lực) của David. B Waxler xuất bản tại Mỹ năm 2006
đã đề xuất cách thức trị liệu nhóm dành cho nam giới là thủ phạm gây BLGĐ;

thông tin chi tiết về mức độ phổ biến và các loại hình bạo lực đối với phụ nữ, các
hậu quả về mặt sức khỏe của BLGĐ, các yếu tố rủi ro, phòng ngừa bạo lực, cách
xử trí của phụ nữ khi gặp phải BLGĐ cũng như các dịch vụ trợ giúp mà họ đã sử
dụng.
Báo cáo “Ngăn chặn bạo hành trong gia đình: Phổ biến tài liệu hướng
dẫn tư vấn chống bạo hành cho các cộng đồng ở nông thôn” năm 2009 của tác
giả Lê Thị Phương Mai và cộng sự tại 5 xã thuộc 2 huyện của tỉnh Bình Dương.
Tác giả cũng đã nêu ra những hậu quả nghiêm trọng của bạo hành gia đình và
đưa ra một số giải pháp phòng chống bạo hành gia đình, chủ yếu hướng vào việc
tuyên truyền, tập huấn, tư vấn cho người dân trong việc phòng chống nạn bạo
hành trong gia đình.
Liên quan tới cách thức hỗ trợ cho nạn nhân, năm 2005, Lê Thị Phương
Mai đã nghiên cứu nội dung “Nhân viên y tế có thể giúp gì cho nạn nhân của
Bạo lực giới?”.

8


Ấn phẩm “Quy trình hỗ trợ người bị bạo hành tại cộng đồng” trong khuôn
khổ dự án mô hình lồng ghép phòng chống bạo hành giới dựa vào cơ sở y tế và
cộng đồng tại Cửa Lò do Trung tâm sáng kiến Sức khỏe và CCIPH thực hiện
năm 2008.
Từ tháng 8 năm 2009 đến tháng 11/2009, Mạng lưới phòng chống BLGĐ
tại Việt Nam (DOVIPNET) đã thực hiện nghiên cứu “Đánh giá việc thực thi
Luật phòng chống BLGĐ (PCBLGĐ) trong việc hỗ trợ nạn nhân của BLGĐ”.
Đánh giá này nhằm phát hiện những điểm tích cực trong việc thực thi Luật
PCBLGĐ, đồng thời chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong việc hỗ trợ những nạn
nhân của BLGĐ, đánh giá vai trò và sự phối hợp của các cơ quan chức năng
trong thực thi Luật.
Nghiên cứu “Đánh giá mô hình NNBY cho phụ nữ và trẻ em gái là nạn

- Đánh giá sơ bộ hiệu quả hỗ trợ của NNBY đối với các nạn nhân và ảnh
hưởng của NNBY đối với cộng đồng.
- Đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trợ giúp nạn nhân bị BLGĐ tại
NNBY.
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động CTXH trong việc hỗ trợ nạn nhân bị
BLGĐ tại NNBY.

10


4.2. Khách thể nghiên cứu:
+ Những nạn nhân bị BLGĐ đang nhận sự hỗ trợ tại NNBY;
+ Những nạn nhân bị BLGĐ đã nhận hỗ trợ tại NNBY nay đã hồi gia;
+ Cán bộ quản lý dự án NNBY;
+ Nhân viên CTXH tại NNBY.
+ Cán bộ y tế, pháp lý là đối tác của NNBY trong hoạt động hỗ trợ cho nạn
nhân.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động hỗ trợ của Ngôi nhà
bình yên từ khi thành lập năm 2007 đến nay.
- Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu các hoạt động hỗ trợ nạn nhân
bị bạo lực gia đình ở NNBY của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và những hoạt
động phòng, chống bạo lực gia đình tại Việt Nam hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích tài liệu: Thu thập và phân tích các tài liệu có sẵn
gồm: báo cáo, thống kê, công trình nghiên cứu có liên quan đến lĩnh vực BLGĐ
và NNBY trên thế giới và Việt Nam.

CTXH hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực gia đình tại NNBY.

12


- Luận văn trình bày một cách đầy đủ về cơ sở lý luận trong hoạt động
CTXH đối với nạn nhân bị bạo lực gia đình bao gồm các khái niệm cơ bản, các
nguyên tắc hỗ trợ nạn nhân và cơ sở pháp lý của hoạt động này.
- Luận văn đã minh chứng được tính chuyên nghiệp trong hoạt động hỗ trợ
nạn nhân tại NNBY thể hiện qua các dịch vụ hỗ trợ nạn nhân, vai trò của
NVCTXH, sự kết nối với cộng đồng.
- Luận văn đã phân tích được kết quả hoạt động của NNBY, những thuận
lợi và khó khăn trong quá trình hoạt động, từ đó, có những kiến nghị nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động và chất lượng dịch vụ của NNBY.
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
8.1. Ý nghĩa về mặt lý luận:
Nghiên cứu làm rõ thêm về phương pháp trợ giúp các đối tượng khó khăn
dưới cách tiếp cận CTXH, đặc biệt trong lĩnh vực CTXH với nhóm phụ nữ yếu
thế.
8.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn:
Kết quả của nghiên cứu giúp nâng cao nhận thức của xã hội và cộng đồng
về BLGĐ và vai trò của NNBY trong việc trợ giúp cho nạn nhân bị BLGĐ.
Những phát hiện của nghiên cứu khi phân tích các hoạt động của nhân viên
CTXH, dịch vụ CTXH của NNBY cũng sẽ giúp cho ban quản lý NNBY có thêm
thông tin và cơ sở để hoàn thiện dịch vụ hỗ trợ của mình.
Bên cạnh đó, sản phẩm của đề tài nghiên cứu có thể được vận dụng làm tài
liệu tham khảo các nhà nghiên cứu, nhân viên CTXH, cán bộ giảng dạy trong các
chuyên đề Giới và Phát triển, CTXH với phụ nữ yếu thế.v.v.

13

khả năng dẫn đến, những tổn hại về thân thể, tình dục hay tâm lý hay những đau
khổ của phụ nữ, bao gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, sự cưỡng
bức hay tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do,dù nó xảy ra ở nơi công cộng hay
trong cuộc sống riêng tư.”
Ở mỗi lứa tuổi, người phụ nữ có thể phải đối mặt với dạng bạo lực này hay
khác có tính đặc thù theo từng thời kỳ trong chu trình sống của mình. Lori Heise
nghiên cứu các dữ liệu về các loại bạo lực khác nhau đối với phụ nữ và đưa ra
tổng quan về bạo lực xảy ra trong cuộc đời phụ nữ như sau:

15


Bảng 1.1: Các hình thức bạo lực trong suốt chu trình sống của một người phụ nữ
[36, tr. 9]
Giai đoạn

Loại bạo lực

Trước khi sinh Nạo phá thai vì mục đích lựa chọn giới tính; đánh đập trong
quá trình mang thai với các ảnh hưởng về tình cảm và thể
chất đối với người phụ nữ, ảnh hưởng tới kết quả sinh đẻ;
mang thai ép buộc (ví dụ hiếp dâm hàng loạt trong chiến
tranh)
Sơ sinh

Tục giết trẻ sơ sinh gái; lạm dụng tình cảm và thể chất; sự
phân biệt trong nuôi dưỡng và chăm sóc y tế cho trẻ sơ sinh
gái

Thời thơ ấu

Có nhiều cơ sở để qua đó phân loại BLGĐ, trong luận văn này, tác giả đưa
ra hai cách phân loại như sau:
- Theo mối quan hệ của các chủ thể ta có:
+ Bạo lực theo chiều dọc hay còn gọi là bạo lực thế hệ là bạo lực giữa các
thế hệ trong gia đình với nhau. Bạo lực theo chiều dọc khá đa dạng, không phân
biệt giới tính và chiều hướng. Nó có thể là bạo lực theo hướng cha mẹ, ông bà
với con cháu nhưng cũng có thể theo hướng ngược lại.
+ Bạo lực theo chiều ngang có liên quan đến bạo lực trên cơ sở giới trong
gia đình. Đó là bạo lực giữa vợ và chồng, sự phân biệt giữa con trai và con gái
trong gia đình và nữ giới là nạn nhân.
- Theo tính chất của bạo lực, ta có thể phân loại các hình thức BLGĐ thành
4 nhóm như sau [15, tr.35]:
+ Bạo lực thế chất: là những hành vi ngược đãi, đánh đập hoặc sỉ nhục của
một hoặc một vài thành viên trong gia đình làm tổn thương tới nhân phẩm, sức
khỏe, tâm thần, tính mạng của một hoặc nhiều thành viên khác.

17


+ Bạo lực tinh thần: là những lời nói, thái độ, hành vi ngược đãi hoặc sỉ
nhục của một hoặc nhiều thành viên trong gia đình làm tổn thương tới nhân
phẩn, sức khỏe, tinh thần của một hay nhiều thành viên khác. Bạo lực tinh thần
cũng còn là sự áp đặt, chỉ đạo hoặc xâm phạm tới nguyện vọng, ý thích, thị hiếu
riêng của mỗi người.
+ Bạo lực tình dục: là những hành vi cưỡng ép hoặc dùng bạo lực để thỏa
mãn tình dục của một người hoặc nhóm người đối với một hoặc một nhóm người
khác. Hành vi này có thể diễn ra một lần hoặc lặp đi lặp lại nhiều lần và diễn ra
cả trong quan hệ vợ chồng và bạn tình. Bạo lực tình dục còn bao hàm cả việc
cưỡng ép vợ sinh nhiều con hoặc đẻ con trai. Bạo lực tình dục là một dạng đặc
biệt trong quan hệ giới tại gia đình, nó vừa có thể diễn ra kín đáo, âm thầm, vừa

trạng phụ thuộc về tài chính;
i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
1.1.4. Nạn nhân bị bạo lực gia đình
Trong Từ điển tiếng Việt, từ nạn nhân được định nghĩa: “Người bị nạn
hoặc người phải chịu hậu quả của một tại họa hay một chế độ bất công“. Trong
Đại từ điển tiếng Việt, từ nạn nhân được định nghĩa: “1. Người bị tai nạn; 2.
Người, tổ chức gánh chịu hậu quả từ bên ngoài đưa đến“.
Với cách tiếp cận như trên, nạn nhân bị BLGĐ có thể được hiểu là người
phải chịu hậu quả từ hành vi BLGĐ của thành viên khác trong gia đình. Bên
cạnh đó, hành vi bạo lực gia đình cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình

19


của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với
nhau như vợ chồng.
Theo Khoản 1, Điều 5 của LPCBLGĐ, nạn nhân bị BLGĐ có những quyền
sau đây:
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính
mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình;
- Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo
vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật này;
- Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật;
- Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin
khác theo quy định của Luật này;
- Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
1.1.5. Vòng tròn bạo lực
Năm 1979, nhà tâm lý học Lenore Walker đã đưa ra quan điểm rằng mối
quan hệ bạo lực mang đặc điểm chung là sự lặp lại mang tính chu kì được gọi là
“Vòng tròn bạo lực”.

việc đã không tệ hơn, dù họ bị thương tích nặng. Họ cũng thường phủ nhận sự
nghiêm trọng của thương tích và từ chối đi khám y tế ngay lúc đó.
Giai đoạn ngọt ngào: là giai đoạn ăn năn và yêu thương trong vòng tròn
bạo lực. Sau khi thực hiện bạo lực, thủ phạm tỏ ra bình tĩnh, yêu thương, ăn năn,
xin lỗi và hứa thay đổi. Người gây bạo lực thuyết phục nạn nhân và bản thân
mình rằng những hứa hẹn này là chân thật. Nạn nhân lúc này thường tin tưởng
vào sự hối lỗi của thủ phạm và đây chính là nguyên nhân khiến phụ nữ đôi khi
rút lại yêu cầu truy cứu với một hy vọng sai lầm rằng người gây bạo lực sẽ
không tiếp tục làm như vậy nữa.
Sau giai đoạn ngọt ngào này, khi đã được nạn nhân đồng ý tha thứ và thủ
phạm thể hiện sự ăn năn hối lỗi; mối quan hệ giữa nạn nhân và thủ phạm dần trở
lại giai đoạn ban đầu là tích lũy căng thẳng. Thời gian cho một chu kì có thể kéo
dài trong vài ngày hoặc cũng có thể lâu hơn là vài tuần hoặc vài tháng tùy vào
mối quan hệ giữa thủ phạm và nạn nhân.
1.1.6.Bình đẳng giới, Bất bình đẳng giới
Khoản 3, Điều 5 trong Luật Bình đẳng giới (năm 2006) có ghi “Bình đẳng
giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội
phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình. Nam
và nữ có quyền thụ hưởng như nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã
hội và gia đình.”

22


Ngược lại với khái niệm Bình đẳng giới, Bất bình đẳng giới được hiểu là
“Sự không ngang bằng nhau giữa cá nhân nam giới và phụ nữ, giữa các nhóm
phụ nữ và nam giới trong các cơ hội, việc tiếp cận các nguồn lực và sự sử dụng,
hưởng thụ những thành quả xã hội” [13, tr.195 – 196]
Sự khác biệt giữa nam và nữ có xu hướng đặt giá trị và quyền lực của
người nam cao hơn người nữ trong nhiều lĩnh vực trong cuộc sống và gia đình.

trợ giúp cho nạn nhân, gia đình nạn nhân và cộng đồng nâng cao năng lực và
chức năng xã hội để có thể giải quyết, phòng ngừa những vấn đề gặp phải do
BLGĐ; đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch
vụ để đáp ứng những nhu cầu của nạn nhân cũng như phòng ngừa BLGĐ.”
Để đạt được mục đích là đáp ứng nhu cầu nạn nhân BLGĐ và hỗ trợ họ
vượt qua được vấn đề của mình, CTXH được triển khai dựa trên ba phương pháp
cơ bản như sau:
- Công tác xã hội cá nhân:
Phương pháp CTXH cá nhân tác động trực tiếp đến nạn nhân BLGĐ để
giúp họ tự nhận thức vấn đề của bản thân, củng cố, khôi phục và phát huy năng
lực của bản thân để có thể tự giải quyết được vấn đề của mình trong trong mối
quan hệ tương tác với môi trường xã hội của nạn nhân đó.
Mục đích của CTXH cá nhân là phục hồi, củng cố và phát triển sự thực hiện
bình thường các chức năng xã hội của cá nhân và gia đình. Nhân viên CTXH
thực hiện điều này bằng cách giúp nạn nhân sử dụng các tài nguyên cần thiết.

24


Nguồn tài nguyên này có thể là những điểm mạnh cá nhân của nạn nhân đó như
sức khỏe, tính cách; mối quan hệ của nạn nhân với những người xung quanh.v.v.
Bên cạnh đó, những dịch vụ sẵn có trong cộng đồng cũng là nguồn tài nguyên
quý quá mà nhân viên CTXH có thể kết nối trong quá trình trợ giúp nạn nhân.
- Công tác xã hội nhóm:
Phương pháp CTXH nhóm được ứng dụng nhằm tạo dựng và phát huy sự
tương tác, chia sẻ kinh nghiệm, nguồn lực giữa các thành viên có chung một vấn
đề là BLGĐ. Từ đó, giúp củng cố, tăng cường chức năng xã hội và khả năng giải
quyết vấn đề nhằm thỏa mãn nhu cầu của từng thành viên và của nhóm. Thông
qua các buổi sinh hoạt nhóm, mỗi thành viên hòa nhập, phát huy tiềm năng, thay
đổi thái độ, hành vi và khả năng đương đầu với vấn đề của mình. Trong quá trình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status