VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN TƢỜNG LONG
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NẠN NHÂN BỊ
MUA BÁN TRỞ VỀ TỪ THỰC TIỄN TỈNH LÀO CAI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60900101
LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS: Phạm Hữu Nghị
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn tốt nghiệp được hoàn thành với với sự cố gắng, nỗ lực học tập,
nghiên cứu, tìm hiểu một cách nghiêm túc của bản thân. Trong quá trình nghiên cứu
tôi có sử dụng các tài liệu có liên quan và được trích dẫn đã ghi trong luận văn.
Tôi cam kết những nội dung trong luận văn là đúng sự thật không sao chép
của ai, tôi chịu trách nhiệm về những nội dung đã viết trong luận văn.
Hà Nội, tháng 6 năm 2016
Học viên
Nguyễn Tường Long
BCA: Bộ Công an
BLĐTBXH: Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội
BNG: Bộ Ngoại giao
BQP: Bộ Quốc phòng
BTC: Bộ Tài chính
CTXH: Công tác xã hội
COMMIT: Sáng kiến phối hợp cấp Bộ trưởng về phòng chống buôn bán người
IOM: Tổ chức Di cư Quốc tế
ILO: Tổ chức Lao động Quốc tế
NV CTXH: Nhân viên Công tác xã hội
PALS: Tổ chức Vòng tay Thái Bình-Pacifik Links
TNXH: Tệ nạn xã hội
UBND: Ủy ban nhân dân
UNODC: Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm Liên Hợp Quốc
UNIAP: Liên minh Châu Âu phòng chống buôn bán người
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mua bán người đã và đang trở thành vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu, có
xu hướng gia tăng ở mọi quốc gia trên thế giới. Nạn buôn người mang đến niềm bất
hạnh cho mỗi nạn nhân, gia đình và toàn xã hội. Nạn nhân bị mua bán người trở về
chịu sự tổn thương cả về thể chất lẫn tinh thần, gặp khó khăn trong việc tái hòa nhập
cộng đồng, trở thành gánh nặng ngân sách của Nhà nước, tác động xấu đến trật tự
an ninh, xã hội.
Theo Báo cáo tổng kết chương trình hành động phòng chống mua bán người
của Chính phủ Việt Nam giai đoạn 2011 đến tháng 6/2015, toàn quốc phát hiện
2.090 vụ buôn bán người, lừa bán 4.226 người dưới nhiều hình thức môi giới hôn
nhân, lao động, du lịch, đẻ thuê, mua bán trẻ sơ sinh, tăng 380 vụ và tăng 501 nạn
nhân bị mua bán so với giai đoạn 2005-2010. Tính riêng năm 2015, toàn quốc phát
Lào Cai” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Trên thế giới
Buôn bán người đứng thứ ba trong nhóm tội phạm, mang lại lợi nhuận cao
nhất thế giới sau buôn lậu ma túy và vũ khí. Việc buôn bán người mang lại 150 tỷ
USD lợi nhuận bất hợp pháp hàng năm. Diễn biến nạn buôn bán người ở từng quốc
gia, từng khu vực là rất khác nhau như: Thái Lan, Lào, Campuchia, Myanma,
Malaysia, Nhật Bản, Bỉ, Hà Lan, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ và Mỹ [4, tr. 9]. Đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu, bài báo phản ánh thực trạng, nhiều chương trình hành động
phòng chống buôn bán người được đưa ra.
Theo báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), hơn 21 triệu người lao
động đã bị lừa bán và bị cưỡng bức lao động. Báo cáo toàn cầu về nạn buôn người
của Cơ quan phòng chống ma tuý và tội phạm Liên hợp quốc (UNODC) cho thấy,
không một quốc gia nào “miễn dịch” với nạn buôn bán người. Có ít nhất 152 quốc
gia là điểm xuất phát và 124 quốc gia là đích đến của nạn buôn người với hơn 510
luồng buôn người trên khắp thế giới [34, tr.1,2].
Trong cuốn Cẩm nang pháp luật quốc tế và quốc gia về phòng, chống buôn bán
người của Bộ Tư Pháp xuất bản năm 2010 có viết “Buôn bán người được xếp vào
loại tội ác chống lại con người, bởi nó xâm phạm nghiêm trọng tới quyền con
người, trong đó có những quyền cơ bản nhất như quyền tự do đi lại, quyền được bảo
vệ an toàn tính mạng, sức khỏe, quyền lao động” [4, tr. 10].
Bắt đầu từ năm 2013, Liên hợp quốc lấy ngày 30/7 hàng năm là ngày Thế
giới phòng chống buôn bán người. Phát biểu về vấn đề này, Tổng thư ký Liên Hợp
2
Quốc Ban Ki-moon trong thông điệp cho ngày thế giới phòng chống buôn bán
người kêu gọi ủng hộ cho Quỹ Tín thác Tình Nguyện Liên Hợp Quốc Hỗ trợ cho
Nạn nhân bị Buôn bán: Một thể chế làm việc mới phối hợp với các tổ chức phi
chính phủ trên toàn cầu nhằm hỗ trợ nạn nhân của vấn nạn này, cung cấp nơi ở, các
đến những nhà hoạch định chính sách và những người làm công tác hỗ trợ nạn nhân
bị buôn bán [19,tr.5].
2.2. Tại Việt Nam
Cuốn sách Tìm hiểu các chuẩn mực quốc tế và pháp luật của một số nước về
phòng, chống buôn bán người được Vụ pháp luật Hình sự- Hành chính viết năm
2010 đã mô tả rất rõ những thông tin cần thiết liên quan đến pháp luật quốc tế và
kinh nghiệm lập pháp của các nước về phòng, chống buôn bán người. Nhóm tác giả
cho rằng: “Tội phạm buôn bán người, đặc biệt là buôn bán phụ nữ, trẻ em đang là
một vấn nạn nhức nhối, diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng ở quy mô toàn
cầu. Cùng với ma túy và vũ khí, nạn nhân bị buôn bán đã trở thành một loại hàng
hóa đem lại lợi nhuận cao trong thị trường của bọn tội phạm.”[5, tr 9]
Trong tài liệu “Công tác xã hội với nạn nhân mua bán người” do Th.s
Nguyễn Hiệp Thương chủ biên được viết dưới góc nhìn của công tác xã hội, tài liệu
đã đưa ra cái nhìn khái quát về các vấn đề của nạn nhân bị mua bán gặp phải và quy
trình hỗ trợ nạn nhân bằng các phương pháp công tác xã hội. Tác giả cho rằng:
“Mua bán người luôn được hiểu như là một hệ quả của nghèo đói do đại đa số
những phụ nữ và trẻ em bị buôn bán đều xuất phát từ các vùng nông thôn và từ các
gia đình nông dân nghèo. Cha mẹ thông thường có trình độ học vấn thấp, giáo dục
gia đình kém. Nhiều gia đình còn gặp phải các vấn đề như rượu chè, bạo lực, tàn tật,
cha mẹ đơn thân, ly dị hoặc có cuộc sống không hạnh phúc. [27, tr. 14] Qua cái nhìn
của tác giả đã cho ta thấy rằng cốt lõi nguyên nhân gốc rễ của buôn bán người đó
chính là sự nghèo khổ.
Cuốn sách “Cẩm nang pháp luật quốc tế và quốc gia về phòng, chống buôn
bán người” do Vụ Pháp luật Hình sự- Hành chính, Bộ Tư pháp tổ chức biên soạn đã
khái quát những nội dung cơ bản về các văn kiện pháp luật, các chính sách xã hội
quốc tế và Việt Nam về buôn bán người giúp những người làm công tác với nạn
nhân và mọi người có được sự hiểu biết và kiến thức cơ bản về vấn đề buôn bán
người [4, tr. 5-6].
Nghiên cứu “Công tác xã hội đối với phụ nữ, trẻ em bị mua bán trở về từ
nữ, trẻ em tại ngôi Nhà Nhân Ái, Chi cục phòng chống TNXH, trung tâm Công tác
xã hội và cán bộ hỗ trợ, tiếp nhận nạn nhân [33, tr. 1].
Tóm lại các nghiên cứu về buôn bán người, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở
về mới chỉ dừng lại dưới góc độ pháp luật, xã hội. Các nghiên cứu mới chỉ tìm hiểu
về thực trạng, nguyên nhân, những khó khăn thách thức với các nạn nhân bị mua
bán trở về. Rất ít nghiên cứu đề cập đến một mô hình tiếp nhận, hỗ trợ toàn diện,
đồng bộ, khoa học mang lại hiệu quả toàn diện, bền vững có tính thực tiễn cao.
5
Nghiên cứu “Công tác xã hội đối với nạn nhân bị mua bán trở về từ thực tiễn tỉnh
Lào Cai” là một đề tài còn mới mẻ, không trùng lặp ai và rất cấp thiết. Tại Lào Cai
chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nhằm làm sáng tỏ vấn đề lý luận và thực tiễn công tác xã hội đối với nạn
nhân bị mua bán trở về từ thực tiễn tỉnh Lào Cai. Phát hiện những thiếu sót, lỗ hổng
trong chính sách và công tác xã hội đối với nạn nhân của mua bán người, nhằm đề
xuất các giải pháp phù hợp, toàn diện và chuyên nghiệp nhất.
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận về nạn nhân bị mua bán và công tác xã hội đối với
nạn nhân bị mua bán trở về
- Đánh giá đúng thực trạng mua bán người và công tác hỗ trợ nạn nhân bị mua
bán trở về tại tỉnh Lào Cai trong 5 năm gần đây.
- Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến công tác hỗ trợ nạn nhân bị mua bán
trở về
- Định hướng và cách thức vận dụng công tác xã hội cá nhân trong việc tiếp nhận,
hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về một cách có hiệu quả.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Phạm vi nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu
- Mục đích: Hệ thống, khái quát những vấn đề lý luận liên quan đến nạn mua
bán người, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về
- Nội dung: Tiến hành thu thập các thông tin (tài liệu, báo cáo khoa học, báo
cáo đánh giá, tổng kết, công trình nghiên cứu…) có liên quan đến cơ sở lý luận của
đề tài
- Cách tiến hành: Đọc các tài liệu và nghiên cứu, phân tích số liệu, lượng
giá, sau đó hệ thống hóa thành cơ sở lý luận của đề tài.
- Kết quả: Qua việc thu thập và tham khảo các tài liệu liên quan, hệ thống
hóa được các nội dung nghiên cứu tại chương 1 về cơ sở lý luận của đề tài.
5.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
- Mục đích: Nhằm thu thập được các thông tin sâu, chi tiết về nguyên nhân
cũng như tác hại của nạn buôn bán người với các cá nhân, gia đình và xã hội.
Những chính sách, dịch vụ mà nạn nhân đã nhận được, tính phù hợp hay chưa phù
hợp. Những vấn đề kỳ thị và tự kỳ thị của nạn nhân phải đối mặt khi trở về.
- Nội dung: Đặt những câu hỏi cho cá nhân. Khuyến khích họ chia sẻ thông tin
về các vấn đề của mình.
7
- Cách tiến hành:
+ Số lượng đơn vị phỏng vấn: 20 người.
+ Cách tiến hành: Sau khi đã lựa chọn, tiến hành phỏng vấn và ghi chép lại
những thông tin thu thập được (trên cơ sở sự đồng ý của người được phỏng vấn)
dưới các hình thức: ghi âm, chụp ảnh, ghi chép nhanh bằng sổ tay cá nhân,...
- Kết quả: Những thông tin thu thập được tổng hợp và phân tích cho thấy các
quan điểm cá nhân về nạn mua bán người, công tác hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở
về được sinh động và xác thực hơn.
5.2.3. Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi
- Mục đích: Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi được sử dụng nhằm thu thập
mua bán trở về từ thực tiễn tỉnh Lào Cai đem lại hiểu quả như thế nào?
5.4 Giả thuyết nghiên cứu
- Thực trạng mua bán người tại tỉnh Lào Cai đang diễn biến phức tạp, với xu
hướng ngày càng tăng, nguy cơ gây bất ổn định an ninh chính trị, trật tự xã hội.
- Công tác hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về tại Lào Cai đã đáp ứng được
nhu cầu của các nạn nhân bị mua bán trở về, đồng thời đã góp phần đẩy mạnh công
tác phòng, chống mua bán người, giúp ổn định xã hội. Tuy nhiên, công tác tiếp nhận
và hỗ trợ nạn nhân vẫn còn bộc lộ một số thiếu sót về cơ chế chính sách, các dịch vụ
hỗ trợ và đội ngũ nhân viên CTXH
- Cần có những định hướng và giải pháp tổng thể cũng như các giải pháp đặc
thù của CTXH, trong đó tập trung vào giải pháp đổi mới thể chế, để nâng cao hơn
nữa chất lượng công tác hỗ trợ nạn nhân bị buôn bán trở về tại tỉnh Lào Cai
- Phương pháp công tác xã hội cá nhân áp dụng trong việc hỗ trợ nạn nhân
tương đối chuyên nghiệp và đem lại hiệu quả cao.
5.5. Những khó khăn của nghiên cứu
Tiếp cận nạn nhân có sự khác nhau giữa các cơ sở hỗ trợ và địa phương theo
đặc điểm và nhu cầu, sự cá biệt hóa nạn nhân chưa được tôn trọng. Khó khăn trong
việc tiếp cận nạn nhân, sự mặc cảm, tự ty, không hợp tác của một số nạn nhân, sự từ
chối của chính người thân nạn nhân trong gia đình, cộng đồng. Sự khác biệt ngôn
ngữ đồng bào dân tộc thiểu số.
5.6. Vấn đề đạo đức nghiên cứu
Được thực hiện một cách nghiêm túc trong suốt quá trình nghiên cứu, trong
khi phỏng vấn nạn nhân và các nhân viên công tác xã hội bảo đảm tính tự nguyện,
không ép buộc, bảo mật thông tin cá nhân.
9
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
nghĩa phổ biến trong các văn kiện của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của
Liên Hợp Quốc về phòng chống buôn bán người hay Nghị định thư Palermo và luật
pháp Việt Nam hoặc các nghị đinh về Phòng, chống mua bán người. Các thuật ngữ
“mua bán” và “buôn bán” được sử dụng song song với ý nghĩa tương đồng do các văn
bản luật trên thế giới và trong nước chưa có quy định thống nhất về vấn đề này
1.1.1. Khái niệm buôn bán người, nạn nhân bị buôn bán, nạn nhân bị mua bán
trở về
1.1.1.1.
Khái niệm buôn bán người
Tại Điều 3, Nghị định thư của Liên Hợp Quốc về phòng, chống và trừng phạt
việc buôn bán người (đặc biệt là phụ nữ và trẻ em) quy định: a) "Buôn bán người"
có nghĩa là việc mua bán, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người nhằm
mục đích bóc lột bằng cách sử dụng hay đe doạ sử dụng vũ lực hay bằng các hình
thức ép buộc, bắt cóc, gian lận, lừa gạt, hay lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị
tổn thương hay bằng việc đưa hay nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý
của một người đang kiểm soát những người khác. Hành vi bóc lột sẽ bao gồm, ít
nhất, việc bóc lột mại dâm những người khác hay những hình thức bóc lột tình dục
khác, các hình thức lao động hay phục vụ cưỡng bức, nô lệ hay những hình thức
tương tự nô lệ, khổ sai hoặc lấy các bộ phận cơ thể; b) Việc một nạn nhân của việc
buôn bán người chấp nhận sự bóc lột có chủ ý được nêu tại Khoản a trên đây sẽ
không được tính đến nếu bất kỳ một cách thức nào nêu trong khoản a đã sử dụng;
c) Việc mua, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay nhận một đứa trẻ nhằm mục
đích bóc lột sẽ bị coi là "buôn bán người" ngay cả khi việc này được thực hiện
không cần dùng đến bất kỳ cách thức nào được nói đến trong khoản (a) điều này; d)
"Trẻ em" có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi ”.[18, tr. 5].
11
lợi ích vật chất khác) đưa ra nước ngoài nhằm mục đích bóc lột (cưỡng bức bán dâm
hoặc các hình thức bóc lột tình dục khác, lao động hoặc dịch vụ cưỡng bức, nô lệ
hoặc làm việc như tình trạng nô lệ hoặc lấy đi các bộ phận trên cơ thể)”
12
Theo Điều 2, Luật Phòng chống mua bán người của Quốc hội Việt Nam số
66/2011/QH12 ngày 29/3/2011 quy định Nạn nhân của mua bán người là người bị
xâm hại bởi các hành vi “Tuyển mộ, vận chuyển, môi giới, chứa chấp, chuyển giao
hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ
thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác” [23, tr. 10].
Theo Tiến sỹ Rebecca Surtees (2013) Hậu buôn bán người – Học viện
nghiên cứu NEXUS đã nêu: “Nạn nhân là để chỉ một người đã trở thành nạn nhân
của một loại hình tội phạm và không bị đề cập tới cơ quan hay bất cứ đặc điểm nào
khác của người đó”. Nạn nhân bị buôn bán là người có đầy đủ các dấu hiệu xác
định là nạn nhân bị buôn bán theo Điều 3 của Nghị định thư hoặc theo Luật phòng,
chống mua bán người của từng nước [19, tr. 51- 52].
Từ những quan điểm trên, có thể đưa ra khái niệm một cách dễ hiểu nhất:
“Một người được xác định là nạn nhân của mua bán người khi người đó bị một đối
tượng dụ dỗ, rủ rê, lừa bán, đưa đi khỏi địa phương đến một địa phương khác trong
cùng một nước hoặc sang một nước khác và cuối cùng bị khai thác vì vụ lợi cá nhân
hay tiền bạc”.
1.1.1.3.
Khái niệm nạn nhân bị mua bán trở về
Hiện nay chưa có khái niệm nào đề cập đến vấn đề này, nhưng ta có thể hiểu
“Nạn nhân bị mua bán trở về là những người đã bị một người hay một nhóm đối
tượng dụ dỗ, lừa bán hay bắt cóc, ép buộc đưa đi khỏi địa phương này đến một địa
Nạn nhân bị mua bán trở về có những đặc điểm chung nhất về tâm lý, thể
chất, xã hội và pháp lý. Trải qua quá trình bị mua bán họ bị lừa dối, bị đánh đập, đe
dọa, ép buộc và cưỡng bức gây nên những tổn thương sâu sắc về cả thể chất lẫn tinh
thần. Họ trở thành những nạn nhân yếu thế trong xã hội, bị tước đoạt danh dự, các
quyền con người giấy tờ cá nhân và phải chịu những cái nhìn dò xét, khinh bỉ của
xã hội. Hơn ai hết những nạn nhân bị mua bán người cần được tất cả xã hội cảm
thông, nhìn nhận thấu đáo hơn. Với những đặc điểm riêng biệt khi phải chịu nhiều
tổn thương, nạn nhân bị mua bán trở về cần được hỗ trợ và tư vấn tâm lý để phần
nào giảm những tổn thương không đáng có.
1.1.3. Nhu cầu của nạn nhân bị mua bán trở về
Nạn nhân bị mua bán trở về cũng có đặc điểm nhu cầu chung như nạn nhân của
ma túy, mại dâm, bên cạnh đó họ còn có những nhu cầu hỗ trợ riêng như nhu cầu hỗ
trợ về tâm lý, phục hồi thể chất, hỗ trợ về nơi ăn, ở ban đầu, nơi ở lâu dài bảo đảm
14
an ninh; hỗ trợ pháp lý các thủ tục cấp hộ chiếu, xuất nhập cảnh, cấp lại hộ khẩu,
chứng minh thư nhân dân, bởi khi bị lừa bán đi khỏi gia đình địa phương, họ đã bị
bọn buôn người thu giữ hoặc hủy hết giấy tờ tùy thân, bị cơ quan chức năng địa
phương cắt hộ khẩu sau 6 tháng rời khỏi địa phương. Hỗ trợ cấp giấy khai sinh cho
con khi nạn nhân mang theo con về nước; hỗ trợ giáo dục kỹ năng sống; học nghề,
tìm việc làm, vay vốn, hỗ trợ vốn khó khăn ban đầu khi mới trở về. Hỗ trợ tái hòa
nhập gia đình, cộng đồng, phòng chống kỳ thị phân biệt đối sử, phòng chống tái
mua bán.
1.2. Nhu cầu, khái niệm công tác xã hội đối với nạn nhân bị mua bán trở về
1.2.1. Nhu cầu công tác xã hội đối với nạn nhân bị mua bán trở về
Ở nhiều quốc gia, Công tác xã hội (CTXH) đã được xem là một nghề mang
tính chuyên nghiệp với sự tham gia đông đảo của đội ngũ nhân viên xã hội được
đào tạo ở các trình độ cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ. Trong khi Việt Nam giai đoạn
2000-2005 về trước, CTXH chưa trở thành một nghề chuyên nghiệp. Tuy nhiên,
thực hiện tốt công tác xã hội đối với nạn nhân bị mua bán trở về vừa là một nhu cầu,
vừa là trách nhiệm của cộng đồng xã hội, là quan điểm đường lối chỉ đạo của Đảng
và Nhà nước trong vấn đề đổi mới xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
trong bối cảnh toàn cầu hóa. Do đó nhu cầu công tác xã hội đối với nạn nhân của
mua bán người là một nhu cầu thiết thực và nhân văn. Sự xuất hiện và phát triển của
nghề CTXH chuyên nghiệp là tất yếu khách quan, đáp ứng nhu cầu cấp thiết trong
việc kết nối các dịch vụ hỗ trợ một cách toàn diện, hiệu quả và bền vững cho nạn
nhân bị mua bán trở về nói riêng và các vấn đề xã hội nói chung; góp phần quan
trọng trong việc giải quyết các vấn đề của đối tượng yếu thế, điều chỉnh những
“khuyết tật” của xã hội, hướng tới xây dựng một xã hội phát triển hài hoà, bình
đẳng và hạnh phúc cho mọi người.
1.2.2. Khái niệm công tác xã hội đối với nạn nhân bị mua bán trở về
Theo Hiệp hội công tác xã hội thế giới: “Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự
thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực
và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái,
dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, Công tác
xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ. Nhân
quyền và Công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề”. [20, tr.19].
16
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam năm 1995 thì Công tác xã hội là khoa học
ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những
chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội.
Còn Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 kèm theo
Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg đưa ra khái niệm: Nghề công tác xã hội là những
hoạt động mang tính chuyên môn, được thực hiện theo các nguyên tắc và phương
pháp riêng nhằm hỗ trợ các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội và cộng đồng dân cư
trong giải quyết các vấn đề; giúp các đối tượng tự vươn lên trong cuộc sống và hòa
1.3.1. Nguyên tắc trong công tác xã hội đối với người bị mua bán trở về
Trong quá trình làm việc với nạn nhân bị mua bán trở về, nhân viên công tác
xã hội phải thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người: Việc mua bán người
thường do bọn tội phạm có tổ chức thực hiện, nên có nguy cơ đe dọa và xâm hại rất
lớn đến các quyền con người của nạn nhân. Do đó trong quá trình bảo vệ và hỗ trợ
nạn nhân cần tôn trọng các quyền con người như quyền tự do thân thể, tôn trọng
nhân phẩm, danh dự, quyền được sống, được bảo vệ khỏi bạo lực về thể chất, quyền
không bị khai thác, xâm hại tình dục, quyền được hưởng phúc lợi xã hội, quyền
được quyết định hôn nhân, quyền được quyết định các vấn đề của cá nhân… Việc
tôn trọng nạn nhân được thể hiện trong việc nhân viên CTXH đối xử công bằng với
nạn nhân, không phán xét tới hoàn cảnh hay trình độ hiểu biết của họ, luôn quan
tâm, lo lắng tới các nhu cầu của nạn nhân [7, tr. 20-23].
Nguyên tắc được sự đồng thuận của nạn nhân: Tất cả các dịch vụ hỗ trợ cho
nạn nhân phải được sự đồng ý của họ. Nhân viên xã hội cần cung cấp cho các nạn
nhân mọi thông tin về các thủ tục, các chính sách pháp luật liên quan và các dịch vụ
của các tổ chức cung cấp để họ hiểu đúng và có sự quyết định cho riêng mình. Với
các nạn nhân là trẻ em thì nhân viên CTXH cần hỏi ý kiến của người bảo trợ cho bất
kì hoạt động nào liên quan. Các quan điểm của trẻ cần được tôn trọng, quan tâm và
cân nhắc…
Nguyên tắc giữ bí mật và quyền riêng tư: Đây là một nguyên tắc rất quan
trọng trong công tác xã hội với nạn nhân bị mua bán trở về, vì nạn nhân bị mua bán
là những đối tượng yếu thế, rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương. Việc giữ bí mật thông
tin của nạn nhân là trách nhiệm và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân hỗ trợ nạn
nhân. Mọi thông tin, trao đổi liên quan đến nạn nhân đều phải đảm bảo tính bảo mật
18
và quyền riêng tư cho nạn nhân. Việc giữ bí mật thông tin bao gồm các thông tin
liên quan đến danh tính, thông tin cá nhân, nhận dạng, hoàn cảnh, quá trình mua
+ Quá trình hình thành và phát triển công tác xã hội cá nhân gắn liền với quá
trình hình thành và phát triển công tác xã hội
+ Đối tượng giúp đỡ của công tác xã hội cá nhân trong nghiên cứu này đó là
các nạn nhân bị mua bán trở về có vấn đề về tâm lý, thể chất và những khó khăn về
sinh kế, trợ giúp pháp lý, khó có thể vượt qua trong cuộc sống.
+ Mối quan hệ một- một trong công tác xã hội cá nhân: Trong công tác xã hội
cá nhân mối quan hệ một- một được thể hiện trong cả tiến trình làm việc, trợ giúp
thân chủ. Nhân viên công tác xã hội làm việc trực tiếp với nạn nhân bị mua bán trở
về [12, tr. 2].
- Tiến trình Công tác xã hội cá nhân đối với nạn nhân bị mua bán (thân chủ)
Bước 1 Tiếp cận đối tượng: Nhân viên xã hội gặp gỡ thân chủ, xác định đối
tượng giúp đỡ. Trong việc này có 2 khả năng: Thân chủ tự tìm đến nhân viên công
tác xã hội hoặc Nhân viên công tác xã hội tìm đến thân chủ.
Bước 2 Nhận diện vấn đề: Là một hoạt động rất quan trọng nằm ở giai đoạn
đầu của một tiến trình làm việc với đối tượng. Các thông tin thu thập được trong
phần nhận diện vấn đề sẽ định hướng cho cả quá trình làm việc. Vì vậy kỹ năng
nhận diện vấn đề là một trong những kỹ năng chủ yếu cần phải có trong các hoạt
động của CTXH.
Bước 3 Thu thập thông tin: Nguồn thông tin được thu thập từ nhiều đối tượng
tham gia trong vấn đề như: thân chủ, gia đình, bạn bè, cộng đồng, chính quyền địa
phương, hồ sơ tài liệu có liên quan…
Bước 4 Đánh giá, sàng lọc: Đánh giá, sàng lọc tất cả những vấn đề mà thân
chủ cảm thấy cần giải quyết, xác định vấn đề ưu tiên. Các nhu cầu và các yếu tố cản
trở việc đáp ứng nhu cầu của thân chủ. Đánh giá tiềm năng của thân chủ, các nguồn
lực hỗ trợ, môi trường sống của thân chủ. Các yếu tố hỗ trợ và hạn chế việc giải
quyết vấn đề.
Bước 5 Lập kế hoạch trợ giúp: Lập kế hoạch, thời gian, mục tiêu trợ giúp.
Bước 6 Thực hiện kế hoạch: Trợ giúp và huy động nguồn trợ giúp về vật
chất. Trợ giúp thay đổi thái độ, hành vi, tâm trạng….
sách cho nạn nhân; xác minh, xác định nạn nhân; và thành lập các Trung tâm hỗ trợ
nạn nhân trở về (Thông tư Liên tịch số 116/2007/TTLT-BTC – BLĐTBXH ngày 27
tháng 9 năm 2007, hướng dẫn nội dung chi, mức chi cho công tác xác minh, tiếp
nhận và hỗ trợ nạn nhân là phụ nữ trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về tái hòa
21