Dịch vụ công tác xã hội đối với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ từ thực tiễn thành phố hồ chí minh - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ OANH

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO
DO PHỤ NỮ LÀM CHỦ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số : 60. 90. 01. 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. BÙI THỊ XUÂN MAI

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội với đề tài “Dịch vụ
công tác xã hội đối với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ từ thực tiễn thành phố Hồ
Chí Minh” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng
dẫn khoa học của PGS. TS Bùi Thị Xuân Mai.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực,
được trích nguồn và trích dẫn đầy đủ.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.



làm chủ ...............................................................................................................16
1.3. Một số lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với hộ nghèo do phụ nữ làm
chủ.......................................................................................................................21
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội với hộ nghèo do phụ nữ
làm chủ ...............................................................................................................27
1.5. Cơ sở pháp lý về dịch vụ công tác xã hội với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ .......29
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI HỘ
NGHÈO DO PHỤ NỮ LÀM CHỦ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH........................................................................................................................32
2.1. Thông tin chung về địa bàn và khách thể nghiên cứu .................................32
2.2. Thực trạng đời sống, nhu cầu của hộ nghèo do phụ nữ làm chủ và đặc điểm
tâm lý của phụ nữ nghèo làm chủ hộ ..................................................................36
2.3. Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ.......45
2.4. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với hộ
nghèo do phụ nữ làm chủ ...................................................................................64
CHƢƠNG 3: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM VIỆC CUNG CẤP
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO DO PHỤ NỮ LÀM
CHỦ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ......................................71
3.1. Định hướng bảo đảm việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với hộ
nghèo do phụ nữ làm chủ ...................................................................................71
3.2. Các giải pháp bảo đảm việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội với hộ nghèo
do phụ nữ làm chủ ..............................................................................................72
KẾT LUẬN ..............................................................................................................80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................81
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CTXH


XĐGN

Xóa đói giảm nghèo


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Tỷ lệ hộ nghèo theo giới tính của chủ hộ (%) ..........................................33
Bảng 2.2. Độ tuổi của chủ hộ (đơn vị:%) .................................................................35
Bảng 2.3. Tình trạng hôn nhân chủ hộ (đơn vị:%)....................................................35
Bảng 2.4. Nghề nghiệp của chủ hộ (đơn vị:%) .........................................................37
Bảng 2.5: Các nhu cầu của hộ nghèo do phụ nữ làm chủ .........................................40
Biểu đồ 2.1. Trình độ học vấn của chủ hộ ................................................................36
Biểu đồ 2.2. Thu nhập hộ gia đình (%) .....................................................................38
Biểu đồ 2.3. Nguồn thu nhập so với 5 năm trước (%) ..............................................39
Biểu đồ 2.4. Người đóng góp thu nhập nhiều nhất ...................................................39
Biểu đồ 2.5. Nhu cầu ưu tiên (%)..............................................................................41
Biểu đồ 2.6. Chủ động tìm kiếm sự giúp đỡ .............................................................43
Biểu đồ 2.7. Hiểu biết về nghề CTXH (%) ...............................................................65


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo số liệu của Ngân hàng thế giới (WB) thì hiện nay trên thế giới có
khoảng 1.3 tỷ người sống dưới mức nghèo khổ, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ
em. Phụ nữ chiếm số đông trong những người nghèo đói cũng là kết quả được khẳng
định qua Báo cáo phát triển con người của Chương trình phát triển Liên hợp quốc
(UNDP). Số liệu thống kê của UNDP cho thấy phụ nữ chiếm khoảng 70% tổng số
người nghèo trên thế giới - điều này tạo nên một nhận định rằng “nghèo đói mang
gương mặt phụ nữ”. Họ phải hứng chịu rủi ro đói nghèo cao hơn do có sự phân biệt
đối xử trong lực lượng lao động, thiếu quyền sở hữu và phải gánh trách nhiệm nặng

cầu; đồng thời, các chương trình và hoạt động hỗ trợ giảm nghèo trên địa bàn thành
phố bị chồng chéo về đối tượng và nội dung hỗ trợ có khi lại phân tán, manh mún,
làm cho hiệu quả giảm nghèo chưa cao, chưa toàn diện và bền vững. Trong giai
đoạn 2016 - 2020, thành phố sẽ chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ
đơn chiều sang đa chiều, không chỉ quan tâm đến vấn đề thu nhập mà quan tâm và
hỗ trợ người nghèo toàn diện trên tất cả các bình diện liên quan đến sức khỏe, giáo
dục, hòa nhập xã hội, phát triển các kỹ năng, tăng cường năng lực… cho người
nghèo. [30] Để thực hiện tốt được các chính sách giảm nghèo theo hướng tiếp cận
đa chiều thì vai trò của nghề CTXH nói chung và hoạt động cung cấp dịch vụ
CXTH nói riêng là hết sức cần thiết. Trong đó, nhân viên CTXH sẽ giữ vai trò cầu
nối, làm việc với các nhóm đa ngành và điều phối các nguồn lực để đảm bảo rằng
các hộ nghèo, đặc biệt là các hộ nghèo do PNLC được tiếp cận các dịch vụ phù hợp
với đặc điểm và nhu cầu của mình.
Từ những lý do nêu trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Dịch vụ công tác
xã hội đối với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” để
có được đánh giá khách quan về thực trạng các dịch vụ CTXH cũng như các yếu tố
ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ CTXH với hộ nghèo do PNLC tại Tp. HCM;
từ đó đề xuất những biện pháp dưới góc độ CTXH nhằm đảm bảo việc cung cấp
dịch vụ CTXH đáp ứng nhu cầu thực tiễn và đảm bảo chất lượng.

2


2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nghèo đói là vấn đề toàn cầu, không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế
kém phát triển. Vấn đề nghèo đói luôn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu
ở tất cả các quốc gia trên thế giới và ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực khác nhau.
Do vậy, những nghiên cứu về người nghèo nói chung và phụ nữ nghèo nói riêng
không phải là mới trong bối cảnh nghiên cứu hiện nay.
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

khuyến nghị khoa học làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách XĐGN. [6]
Nghiên cứu về vấn đề phụ nữ làm chủ hộ, tác giả Vũ Mạnh Lợi (1996) đã
khái quát được bức tranh về hộ gia đình do PNLC ở Việt Nam, trong đó có chỉ ra
những yếu tố quyết định của hiện tượng chủ hộ là nữ bao gồm tuổi, tình trạng hôn
nhân, nơi ở, sự hiện diện của cha mẹ hay con cái đã trưởng thành trong hộ và số
năm đi học. Năm 2011 trong bài viết “Chủ hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam là
ai?”, tác giả nghiên cứu sâu hơn về các nguyên nhân dẫn đến số lượng phụ nữ là
chủ hộ gia tăng, trong đó chỉ ra nguyên nhân lớn nhất là do sự biến đổi mạnh mẽ về
thiết chế hôn nhân và gia đình. Đồng thời, tác giả cũng nêu ra một số hiện tượng
đáng lưu ý như: tỷ lệ goá bụa ngày một cao ở phụ nữ lớn tuổi, di dân của nam giới
khiến nông thôn nhiều nữ giới, tình trạng ly thân, ly hôn ở các gia đình trẻ, xu
hướng phụ nữ trẻ quyết định lựa chọn cuộc sống làm mẹ đơn thân ngày một nhiều.
[19] [20]
Tác giả Trịnh Thị Ngọc Lan (2013) đã có một nghiên cứu sâu hơn về hộ
nghèo do PNLC trong đề tài luận văn thạc sỹ “Tác động của chính sách xóa đói
giảm nghèo đối với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ”. Tác giả nghiên cứu tác động của
chính sách XĐGN đối với hộ nghèo do PNLC thông qua việc phân tích thực trạng tổ
chức, triển khai thực hiện các chính sách XĐGN cũng như những thuận lợi và khó
khăn trong quá trình thực hiện. Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích được sự thay đổi
trong đời sống vật chất và tinh thần của các hộ nghèo do PNLC dưới tác động của
chính sách XĐGN và đưa ra các khuyến nghị về chính sách và với các chủ thể triển
khai thực hiện chính sách XĐGN với hộ nghèo do PNLC. [16]
Những nghiên cứu nêu trên đều là những nghiên cứu tiếp cận từ hướng
nghiên cứu xã hội học và chủ yếu liên quan đến phụ nữ nghèo và phụ nữ làm chủ
4


hộ. Hiện tại chưa có nhiều nghiên cứu khoa học trực tiếp liên quan đến hộ nghèo do
PNLC. Đặc biệt là chưa có nghiên cứu nào liên quan đến dịch vụ CTXH với hộ
nghèo do PNLC cũng như chưa có những hướng tiếp cận vai trò của nhân viên

Tác giả cũng đã phân tích vai trò của dịch vụ CTXH với nhóm đối tượng yếu thế và
chỉ ra hai khía cạnh của sự chuyên nghiệp là “con người chuyên nghiệp” và “môi
trường chuyên nghiệp”. [26]
Các nghiên cứu trên là những tài liệu tham khảo quý giá và vô cùng hữu ích
cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài. Chúng tôi sẽ sử dụng các giả thuyết
nghiên cứu, kết quả và kết luận trong các nghiên cứu kể trên để so sánh, bàn luận và
làm rõ trong nghiên cứu của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu một số vấn đề lý luận về dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC
và thực trạng dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC từ thực tiễn Tp. HCM, trên
cơ sở đó đề xuất những biện pháp dưới góc độ CTXH nhằm đảm bảo việc cung cấp
dịch vụ CTXH với hộ nghèo do PNLC nói chung và tại Tp. HCM nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài cần giải quyết được các nhiệm vụ sau:
Hệ thống hóa những khái niệm về hộ nghèo do PNLC, CTXH với hộ nghèo
do PNLC và dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC.
Đánh giá thực trạng đời sống, nhu cầu của hộ nghèo do PNLC và thực trạng
dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC.
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ CTXH với hộ nghèo do PNLC.
Đề xuất các biện pháp dưới góc độ CTXH nhằm đảm bảo việc cung cấp dịch
vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC nói chung và tại Tp. HCM nói riêng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Dịch vụ CTXH đối với hộ nghèo do PNLC từ
thực tiễn Tp. HCM.

6


4.2. Phạm vi nghiên cứu


5.2. Phương pháp nghiên cứu
Với nội dung nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã sử dụng kết hợp nhiều
phương pháp trong quá trình nghiên cứu để đảm bảo các thông tin thu được khách
quan và đảm bảo tính khoa học. Các phương pháp chúng tôi đã sử dụng trong
nghiên cứu này bao gồm:
* Phương pháp điều tra bảng hỏi
Đề tài thực hiện việc phỏng vấn bằng bảng câu hỏi trực tiếp đối với hộ nghèo
do PNLC để thu thập thông tin.
Số lượng mẫu là 70 hộ nghèo do PNLC được lựa chọn theo tiêu chí là đối
tượng thụ hưởng của khách thể nghiên cứu.
* Phương pháp phỏng vấn sâu
Bên cạnh phương pháp điều tra bảng hỏi, chúng tôi cũng tiến hành thu thập
thông tin bằng phương pháp PVS nhằm khảo sát sâu hơn những vấn đề mà phương
pháp bảng câu hỏi chưa hướng tới được. Đối tượng PVS bao gồm: 20 nhân viên,
cộng tác viên CTXH và 10 phụ nữ nghèo làm chủ hộ.
* Phương pháp phân tích tài liệu có sẵn
Phương pháp phân tích tài liệu là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyên
môn nhằm thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố
hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình
nghiên cứu. Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài sử dụng các thông tin có sẵn từ các
cuộc nghiên cứu, các bài viết, tài liệu, giáo trình… đã được công bố có nội dung liên
quan đến vấn đề mà đề tài nghiên cứu như giáo trình nhập môn CTXH, lý thuyết
CTXH, tài liệu hội thảo “Nghiên cứu tiếp cận và thử nghiệm phương pháp đo lường
nghèo đa chiều tại Tp. HCM”, kỷ yếu hội thảo “Nâng cao chất lượng đào tạo CTXH
với chuyên nghiệp hóa các dịch vụ CTXH”, báo cáo nghiệm thu đề tài “Các giải
pháp giảm hộ nghèo, tăng hộ khá ở Tp. HCM giai đoạn 2014 - 2020”…
* Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu xã
hội học thực nghiệm thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập các thông tin

viên CTXH trong hoạt động giảm nghèo của Tp. HCM. Đề tài cũng góp thêm các

9


thông tin, số liệu thực tế cho các giảng viên đang giảng dạy môn CTXH với phụ nữ
có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có phụ nữ nghèo.
Đề tài cũng đã góp phần một phần nhỏ trong việc khẳng định sự cần thiết của
những người thực hành CTXH đối với công tác giảm nghèo, đặc biệt là giảm nghèo
theo hướng tiếp cận đa chiều. Đó cũng chính là một trong số những mục tiêu được
thể hiện trong Đề án 32 về phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 - 2020.
Qua việc nghiên cứu thực trạng dịch vụ CTXH, tác giả đã đóng góp một vài ý
tưởng trong việc cung cấp dịch vụ CTXH với hộ nghèo do PNLC. Những ý tưởng
này được rút ra từ những phát hiện trong quá trình nghiên cứu để đưa ra những định
hướng và giải pháp đảm bảo việc cung cấp dịch vụ CTXH cho hộ nghèo do PNLC.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì
nội dung của đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với hộ nghèo do
phụ nữ làm chủ
- Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với hộ nghèo do phụ nữ
làm chủ từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh
- Chương 3: Định hướng và giải pháp bảo đảm việc cung cấp dịch vụ công
tác xã hội đối với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh.

10


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO

1.1.1.2. Khái niệm hộ nghèo
Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới chuẩn nghèo. Chuẩn
nghèo là một khái niệm động, biến đổi theo không gian và thời gian. Về không gian,
chuẩn nghèo biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng như đô
thị, nông thôn, đồng bằng, miền núi. Về thời gian, chuẩn nghèo biến đổi theo trình
độ phát triển kinh tế - xã hội của từng giai đoạn lịch sử. Căn cứ vào mức sống thực
tế của các địa phương, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội công bố chuẩn nghèo
tính theo thu nhập bình quân đầu người cho từng giai đoạn cụ thể. Dựa theo chuẩn
nghèo quốc gia, các địa phương đưa ra chuẩn nghèo phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của địa phương.
Theo quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
19/11/2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn
2016 - 2020 đã đưa ra chuẩn nghèo như sau:
- Hộ nghèo ở khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000
đồng và thiếu hụt từ ba chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các DVXH cơ bản
trở lên.
- Hộ nghèo ở khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000
đồng và thiếu hụt từ ba chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các DVXH cơ bản
trở lên.
Hộ nghèo của Tp. HCM là những hộ (có hộ khẩu thường trú/KT3) có một
hoặc cả hai tiêu chí, gồm thu nhập bình quân từ 21 triệu đồng/người/năm trở xuống;
có tổng số điểm thiếu hụt của 5 chiều nghèo từ 40 điểm trở lên. Hộ cận nghèo là
những hộ (có hộ khẩu thường trú/KT3) có hai tiêu chí gồm có thu nhập bình quân từ
trên 21 triệu đồng/người/năm đến 28 triệu đồng/người/năm; có tổng số điểm thiếu
hụt của 5 chiều nghèo dưới 40 điểm (từ 0 đến 35 điểm).
12


13


1.1.3. Khái niệm hộ nghèo do phụ nữ làm chủ và đặc điểm tâm lý của phụ
nữ nghèo làm chủ hộ
1.1.3.1. Khái niệm hộ nghèo do phụ nữ làm chủ
Để làm rõ khái niệm về hộ nghèo do PNLC, chúng ta cần làm rõ quan điểm
về chủ hộ trong gia đình. Theo Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam,
UNDP và The Royal Netherlands Embassy (2005): “Chủ gia đình là thành viên của
hộ gia đình, là người có vai trò điều hành, quản lý gia đình, giữ vị trí chủ yếu, quyết
định những công việc của hộ. Thông thường (nhưng không nhất thiết), chủ hộ là
người có thu nhập cao nhất trong hộ, nắm được tất cả các hoạt động kinh tế và nghề
nghiệp của các thành viên. Về mặt pháp lý, chủ hộ là đại diện hộ gia đình trong các
giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Cha mẹ hoặc một thành viên khác đã thành
niên có thể làm chủ hộ. Chủ hộ có thể ủy quyền cho thành viên khác đã thành niên
làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự (Điều 107, Bộ luật dân sự).
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng khái niệm hộ nghèo do PNLC là hộ
nghèo theo chuẩn nghèo của địa phương, trong đó người phụ nữ (có thể là chủ hộ
hoặc không là chủ hộ) nhưng họ đóng vai trò trụ cột, là lao động chính và tạo ra thu
nhập chính cho gia đình.
1.1.3.2. Đặc điểm tâm lý của phụ nữ nghèo làm chủ hộ
Theo số liệu thống kê về giới những năm đầu thế kỷ 21, tỷ lệ chủ hộ nữ trên
toàn quốc tăng lên theo tuổi và đạt 31.5% ở nhóm tuổi 55 - 59 và 37.8% ở nhóm
tuổi từ 65 tuổi trở lên. Nguyên nhân chủ yếu là bởi những biến đổi mạnh mẽ về thiết
chế hôn nhân và gia đình. Tỷ lệ goá bụa ngày một cao ở phụ nữ lớn tuổi. Hiện
tượng di dân của nam giới khiến nông thôn nhiều nữ giới. Tình trạng ly thân, ly hôn
ở các gia đình trẻ, xu hướng phụ nữ trẻ quyết định lựa chọn cuộc sống làm mẹ đơn
thân ngày một nhiều lên... Nhiều hộ gia đình do PNLC bị rơi vào tình trạng “khuyết
thiếu”, thường có ít nguồn lực kinh tế. Họ còn chịu thiệt thòi do các bất bình đẳng
về kinh tế trong lương bổng, phụ nữ vẫn thường phải làm các công việc được trả

phân phối thu nhập, chi tiêu trong gia đình. Phụ nữ nghèo làm chủ hộ cũng có rất
nhiều tiềm năng. Nhưng vì sự mặc cảm, tự ti về hoàn cảnh nghèo khó nên bản thân
họ không nhận ra hết những giá trị và tiềm năng sẵn có của mình. Một lý do khác là

15


chưa có ai giúp họ phát hiện ra tiềm năng và cũng như chưa có môi trường thuận lợi
để họ phát huy những tiềm năng đó.
1.2. Một số lý luận về công tác xã hội, công tác xã hội với hộ nghèo do
phụ nữ làm chủ
1.2.1. Các khái niệm
1.2.1.1. Khái niệm công tác xã hội
Theo định nghĩa của Hiệp hội Quốc tế của các nhân viên CTXH (IFSW) và
Hiệp hội Các trường đào tạo CTXH thế giới (IASSW, 2014): “CTXH là một nghề
thực hành và là một ngành khoa học nhằm thúc đẩy sự thay đổi và phát triển xã hội,
tăng cường gắn kết xã hội, trao quyền và sự tự do của con người. CTXH dựa trên
các nguyên tắc then chốt bao gồm công bằng xã hội, các quyền của con người, trách
nhiệm tập thể và sự tôn trọng những khác biệt. Dựa trên nền tảng các lý thuyết về
CTXH, các khoa học xã hội thu hút sự tham gia của mọi người và các thể chế để
giải quyết những thách thức cuộc sống và cải thiện phúc lợi”.
Ở Việt Nam, một trong những khái niệm được sử dụng khá phổ biến là khái
niệm của tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2010), theo đó “CTXH là một nghề, một hoạt
động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao
năng lực, đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi
trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và
cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh
xã hội”. [22]
1.2.1.2. Khái niệm nhân viên công tác xã hội
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai, Nguyễn Thị Thái Lan (2011): “Nhân viên

hộ nghèo do PNLC rất đa dạng từ những nhu cầu tối thiểu đến các nhu cầu ở thứ bậc
cao hơn, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau như y tế, giáo dục, tư
pháp, công an, thông tin, nước sạch, việc làm… Do đó, để giải quyết các vấn đề xã
hội của hộ nghèo do PNLC cần có sự phối hợp liên ngành. Mỗi ngành đảm nhận
một hay một vài vai trò, trong đó ngành CTXH đóng vai trò trung tâm, cầu nối giữa
các ngành liên quan để đáp ứng được các nhu cầu đa dạng của hộ nghèo do PNLC.

17


1.2.3. Các phương pháp công tác xã hội với hộ nghèo do phụ nữ làm chủ
Công tác xã hội cá nhân: Là phương pháp mà nhân viên CTXH tác động đến
phụ nữ nghèo làm chủ hộ và các thành viên trong hộ nhằm giúp cho các thành viên
hiểu rõ về bản thân và vấn đề của chính họ, từ đó vận dụng các nguồn lực để giải
quyết vấn đề đang gặp phải. Các dịch vụ CTXH có thể cung cấp cho các hộ nghèo
do PNLC theo phương pháp CTXH cá nhân như quản lý trường hợp, can thiệp
khủng hoảng, tham vấn, tạo điều kiện để tiếp cận các DVXH cơ bản, tư vấn để
hưởng các chính sách, giới thiệu các tiềm năng trong cộng đồng, biện hộ, lập kế
hoạch trợ giúp, huy động và kết nối nguồn lực để các hộ nghèo do PNLC được
chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, tiếp cận giáo dục, trợ giúp pháp lý, đào tạo
nghề, giới thiệu việc làm...
Công tác xã hội nhóm: Là phương pháp mà nhân viên CTXH tác động đến
nhóm phụ nữ nghèo làm chủ hộ cùng vấn đề, cùng mục đích thông qua hoạt động
nhóm. Vai trò của nhân viên CTXH không chỉ nhằm vào từng thành viên trong
nhóm mà tác động đến mối quan hệ tương tác trong nhóm nhằm tạo ra những biến
chuyển tích cực của nhóm. Công cụ ở đây chính trong CTXH nhóm là sự tương tác
và ảnh hưởng qua lại giữa các thành viên trong nhóm để giải quyết vấn đề chung
của nhóm đồng thời hỗ trợ giải quyết vấn đề của các thành viên trong nhóm. Khi áp
dụng phương pháp CTXH nhóm với hộ nghèo do PNLC, nhân viên CTXH có thể sử
dụng các loại hình nhóm như: nhóm trị liệu, nhóm tự giúp, nhóm hành động, nhóm

Mỗi người đều có khả năng phân tích vấn đề và đưa ra những giải pháp tự giải quyết
những vấn đề khó khăn bằng chính nội lực, khả năng của bản thân. Hoạt động của
nhân viên CTXH là giúp đỡ các hộ nghèo do PNLC tăng thêm tính độc lập tự chủ và
có khả năng tự quyết. Vì vậy, nhân viên CTXH nên khuyến khích, tạo cơ hội cho hộ
nghèo do PNLC bộc lộ các tiềm năng, sức mạnh và sử dụng năng lực của chính
mình một cách thích hợp. Tuyệt đối tránh làm hộ, làm thay hoặc tạo cho các hộ
nghèo do PNLC có sự ỷ lại, dựa dẫm vào nhân viên CTXH.
Tôn trọng quyền tự quyết của hộ nghèo do PNLC: Trong giải quyết vấn đề,
nhân viên CTXH luôn tôn trọng quyền tự quyết của hộ nghèo do PNLC (trong giới
hạn luật pháp) về vấn đề của họ. Các ý kiến hộ nghèo do PNLC đưa ra trong khi bàn
bạc với nhân viên CTXH cần được tôn trọng. Nhân viên CTXH giúp hộ nghèo do
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status