VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
____________________________
NGUYỄN MINH LẬP
QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI - 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MINH LẬP
QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHÈO TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẾN TRE
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. VÕ KHÁNH VINH
32
NGƯỜI NGHÈO TẠI TỈNH BẾN TRE
2.1. Thực trạng tác động của các yếu tố quản lý công tác xã hội đối với người
32
nghèo
2.2. Thực trạng quản lý công tác xã hội đối với người nghèo tại tỉnh Bến Tre
41
2.3. Đánh giá về quản lý công tác xã hội đối với người nghèo tại tỉnh Bến Tre và
49
những vấn đặt ra
Chương 3. TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
56
NGƯỜI NGHÈO TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẾN TRE
3.1. Nhu cầu tăng cường hiệu quả quản lý công tác xã hội đối với người nghèo
56
3.2. Định hướng tăng cường quản lý công tác xã hội đối với người nghèo ở tỉnh
58
Dịch vụ xã hội
BCĐ.GN
Ban chỉ đạo giảm nghèo
QLTH
Quản lý trường hợp
NVXH
Nhân viên xã hội
ASXH
An sinh xã hội
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Biểu đồ 2.1: Phần lớn người nghèo hiểu hoạt động giảm nghèo là hoạt động từ thiện
................................................................................................................................... 34
Biểu đồ 2.2: Người nghèo được hướng dẫn .............................................................. 35
Biểu đồ 2.3: Thực trạng hoạt động nâng cao năng lực đối với người nghèo ............ 36
Biểu đồ 2.4: Hoạt động truyền thông trong công tác giảm nghèo ............................ 37
Biểu đồ 2.5: Thực trạng về nhân viên công tác xã hội cấp xã, huyện ...................... 39
Biểu đồ 2.6: Thực trạng đáp ứng nhu cầu của người nghèo ..................................... 40
Biểu đồ 2.7: Thực trạng cơ sở xây dựng kế hoạch công tác giảm nghèo cấp xã,
huyện ......................................................................................................................... 42
CTXH [37, tr. 3]. Từ đó đến nay khi triển khai thực hiện tại tỉnh Bến Tre, CTXH
với người nghèo và quản lý công tác này ở địa phương đặt ra nhiều vấn đề về lý
luận và thực tiễn cần phải nghiên cứu nhằm rút ra bài học kinh nghiệm bổ sung vào
lý luận vốn còn rất mới mẻ và đề ra các giải pháp quản lý phù hợp, thiết thực nhằm
nâng cao hiệu quả giảm nghèo bền vững.
Từ những vấn đề đã nêu, trên cở sở lý thuyết, lý luận và những phương pháp,
kỹ năng CTXH đã được trang bị trong Chương trình Cao học CTXH kết hợp với
1
phân tích thực tiễn, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý công tác xã hội đối với
người nghèo từ thực tiễn tỉnh Bến Tre” làm đề tài Thạc sĩ công tác xã hội.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về CTXH với người nghèo nói chung, quản lý CTXH với người
nghèo nói riêng là những vấn đề mới trong bối cảnh nghiên cứu hiện nay. Tuy vậy,
trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học cũng đã có một số đề tài khoa học liên quan đến
một vài khía cạnh của vấn đề nghiên cứu như:
Trên thế giới đã có công trình nghiên cứu: Công tác xã hội và xóa đói giảm
nghèo (Social work and poverty reduction) được nghiên cứu tại Umuebu–Nigeria.
Các quan điểm và ý kiến của các NVXH chưa được thể hiện trong việc lập kế hoạch
và thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo ở Nigeria. Do đó, nghiên cứu đưa các
quan điểm, nội dung và ý kiến của các NVXH có thể đóng góp cho các chương
trình giảm nghèo thành công ở Nigeria. Nghiên cứu này là một nguồn kiến thức cho
các nhà hoạch định chính sách ở Nigeria, ngân hàng thế giới và cộng đồng quốc tế
về những lợi ích của việc kết hợp các quan điểm và ý kiến của các NVXH trong
việc lập kế hoạch và thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo.
Xoá đói giảm nghèo và vai trò của nhân viên công tác xã hội (Poverty
eradication and the role for social workers): Trong thực tế tất cả các nước trên thế
giới, nhân viên CTXH đối mặt với những thiếu thốn nguồn lực là nguyên nhân dẫn
"thật sự xứng đáng". Tuy nhiên, việc chọn lựa phải dựa trên cơ sở nhu cầu của đối
tượng. Thandika Mkandawire cho rằng CSXH ở các nước đang phát triển để giải
quyết tình trạng nghèo đói. Đồng thời, ông cho rằng CSXH ở các nước nghèo nên
hướng vào khuyến khích cá nhân của nhóm đối tượng cụ thể. Mkandawire đặc biệt
chú trọng hiệu quả sử dụng nguồn lực CSXH khi giải quyết vấn đề nghèo đói.
Ở nước ta chưa có công trình nghiên cứu, lý luận về quản lý CTXH với
người nghèo, tuy nhiên, trên cơ sở các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo,
các hoạt động, các nghiệp vụ, các chính sách giảm nghèo, và sự phát triển nghề
CTXH đã hình thành hệ thống quản lý CTXH trong lĩnh vực giảm nghèo. Từ đó gợi
mở những vấn đề cần giải quyết để quản lý CTXH với người nghèo.
3
Trên đây là một số đề tài có liên quan đến đề tài nghiên cứu của chúng tôi,
nghiên cứu trên vô cùng hữu ích cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Chúng tôi sẽ sử dụng các giả thuyết nghiên cứu, kết quả và kết luận trong các
nghiên cứu kể trên để bàn luận và làm rõ trong nghiên cứu của mình nhằm đưa ra
các biện pháp quản lý CTXH với người nghèo hiệu quả trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý CTXH đối với người nghèo ở cộng
đồng thuộc phạm vi Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, trong tổng thể
hoạt động giảm nghèo theo Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo của nước
ta; trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp và nâng cao hiệu quả công tác quản lý CTXH
với người nghèo từ thực tiễn tỉnh Bến Tre.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu về quản lý CTXH đối với người nghèo thuộc Chương trình mục
tiêu quốc gia giảm nghèo tại tỉnh Bến Tre. Để đạt được mục tiêu đề ra, khi nghiên
cứu đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ như sau:
nghèo thuộc Chương trình giảm nghèo quốc gia tại tỉnh Bến Tre, đối với người
nghèo, bao gồm mức độ tiếp cận CTXH và tác động của nó trong tiến trình giảm
nghèo đối với người nghèo.
- Về khách thể: Nghiên cứu đối tượng tác động của quản lý CTXH đối với
người nghèo, gồm 100 hộ nghèo, 25 cán bộ cấp xã, 25 cán bộ cấp huyện và 15 cán
bộ cấp tỉnh có liên quan đến quản lý CTXH đối với người nghèo.
+ Đối với người nghèo: Nghiên cứu mức độ tiếp cận của CTXH và tác
động quản lý CTXH trong tiến trình giảm nghèo.
+ Đối với người tham gia thực hiện công tác giảm nghèo: Nghiên cứu
nhân viên trực tiếp làm công tác giảm nghèo nhận thức, thực hành, quản lý CTXH
khi thực hiện nhiêm vụ; Hệ thống và nội dung quản lý điều hành công tác giảm
nghèo các cấp (xã, huyện, tỉnh) nhận thức về vai trò CTXH trong hoạt động giảm
nghèo; Nhận thức về CTXH của những người có liên quan tham gia công tác giảm
5
nghèo (cán bộ các đoàn thể, tổ chức xã hội, tình nguyện viên,…); Triển khai thực
hiện CTXH đối với người nghèo.
- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu các hoạt động giảm nghèo diễn ra từ
tháng 01/2011 đến tháng 01/2016 với thời gian khảo sát trong 4 tháng (1/2016 đến
4/2016).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
- Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: Từ thực trạng của CTXH trong
hoạt động giảm nghèo và thực hiện quản lý công tác này của tỉnh Bến Tre, tổng kết
thực tiễn, đánh giá toàn diện đối chiếu với lý luận, bài học kinh nghiệm và đề ra giải
pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CTXH đối với người nghèo.
- Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: Nghiên cứu hệ thống những lý
thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan như: Lý
động của công tác này, cán bộ cấp xã để đánh giá nhận thức về CTXH và quản lý
CTXH ở cơ sở, cán bộ cấp huyện để đánh giá công tác quản lý CTXH đối với người
nghèo và cán bộ cấp tỉnh trực tiếp quản lý điều hành chương trình giảm nghèo của
tỉnh.
- Phương pháp quan sát là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu xã
hội học thực nghiệm thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập các thông tin
từ thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Trong đề tài tác giả sử dụng phương pháp này nhằm thu thập, bổ sung thông
tin còn thiếu và kiểm tra đối chiếu, so sánh các thông tin từ việc quan sát để đánh
giá độ tin cậy của các thông tin thông qua việc quan sát bối cảnh sống, thái độ, thể
trạng,... của người được điều tra, qua đó hình thành được câu trả lời đầy đủ và có
được những thông tin chính xác cho bảng hỏi cũng như bảng phỏng vấn sâu. Cụ thể
đề tài tập trung quan sát các hoạt động CTXH hoặc các hoạt động mang tính chất
CTXH. Quan sát về môi trường, không gian sống của người nghèo. Quan sát về thể
chất, thái độ giao tiếp và trạng thái tâm lý của đối tượng khảo sát với người điều tra,
7
nhằm xác định xem họ có gặp phải những vấn đề khó khăn về sức khỏe, tâm lý hay
không,…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa về lý luận
Qua nghiên cứu đề tài, tác giả kỳ vọng sẽ giúp người đọc có thể hiểu rõ lý
thuyết về quản lý CTXH, vị trí vai trò và tác dụng CTXH đối với người nghèo, làm
rõ thực trạng về CTXH đối với người nghèo trong Chương trình giảm nghèo quốc
gia, từ thực tiễn đó có thể bổ sung cho lý luận ngày càng hoàn thiện hơn.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp các nhà chuyên môn xây dựng,
trong khu vực đã thống nhất cao rằng: "Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân
cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những
nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của
từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận".
+ Theo Amartya Kumar Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ. Để tồn tại, con người
cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu; dưới mức tối thiểu này, con
người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn.
Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các tổ chức
quốc tế cho rằng nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn
nhận là sự thiếu hụt/ không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người.
Vì vậy, nghèo đa chiều có thể được hiểu là tình trạng con người không được
đáp ứng ở mức tối thiểu một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.
9
Định nghĩa mới của Ngân hàng Thế giới đề cập đến nghèo ở khía cạnh rộng
hơn không chỉ là thiếu thốn điều kiện về vật chất mà còn là những vấn đề khác như
giáo dục, sức khỏe hay khả năng dễ bị tổn thương. Theo tổ chức này “Nghèo là khái
niệm vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất; nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa
trên thu nhập mà còn gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức
khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có
quyền lực”.
Từ năm 2007, Alkire và Foster đã bắt đầu nghiên cứu về một cách thức đo
lường mới về nghèo đói, đơn giản nhưng vẫn đáp ứng tính đa chiều của nghèo đói.
Cách thức đo lường này đã được UNDP sử dụng để tính toán chỉ số nghèo đa chiều
(MPI) lần đầu tiên được giới thiệu trong Báo cáo Phát triển con người năm 2010 và
được đề xuất áp dụng thống nhất trên thế giới sau năm 2015 để theo dõi, đánh giá
đói nghèo. Chỉ số tổng hợp này được tính toán dựa trên 3 chiều nghèo y tế, giáo dục
và điều kiện sống với 10 chỉ số về phúc lợi. Chuẩn nghèo được xác định bằng 1/3
lường nghèo đa chiều được nghiên cứu, áp dụng sẽ khắc phục những hạn chế của
phương pháp đo lường nghèo bằng thu nhập [7, tr. 4-10]. Đặc biệt bối cảnh cơ cấu
kinh tế - xã hội thay đổi, đô thị hóa và di cư tăng nhanh hiện nay đang tạo ra một bộ
phận lớn người dân thuộc nhóm cận nghèo chưa có điều kiện tăng thu nhập hoặc
chưa được tiếp cận đầy đủ với các DVXH cơ bản, đang đối mặt với nhiều rủi ro
khiến họ có thể rơi vào tình trạng nghèo. Với mục đích tác động tốt hơn, toàn diện
hơn đến người nghèo, việc chuyển đổi đánh giá nghèo từ đơn chiều sang đa chiều
nhằm hạn chế việc bỏ sót những đối tượng tuy không nghèo về thu nhập, nhưng lại
nghèo về các chiều khác. Đây là phương pháp khắc phục những bất cập và hạn chế
của chính sách hiện tại. Phương pháp này giúp bảo đảm mức sống tối thiểu, đồng
thời đáp ứng các DVXH cơ bản, từng bước giảm nghèo bền vững.
- Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân trên đầu người trên tháng nhỏ hơn
hoặc bằng chuẩn nghèo. Để xác định hộ nghèo còn phải căn cứ vào tình trạng nhà ở
và giá trị tài sản và phương tiện sản xuất (nhà ở tạm bợ, tài sản không có giá trị,
thiếu phương tiện sản xuất) [10, tr. 7-8].
11
- Thoát nghèo là tình trạng hộ nghèo được cho là đã thoát nghèo vì đã có
thu nhập và tiếp cận dịch vụ xã hội vượt qua mức qui định của chuẩn nghèo. Ở
nước ta quy định xét thoát nghèo mỗi năm một lần và sau 5 năm chuẩn nghèo thay
đổi một lần. Thoát nghèo ở đây có thể hiểu là thoát nghèo theo tiêu chí nhưng đời
sống còn khó khăn. Nhiều hộ nghèo sau khi thoát nghèo có thể bị tái nghèo tình
trạng nầy gọi là thoát nghèo chưa bền vững.
1.1.2. Đặc điểm của người nghèo
Người nghèo là những người có cuộc sống bấp bênh vì không được tiếp cận
với các chính sách, dịch vụ. Họ thiếu các điều kiện đảm bảo các nhu cầu tối thiểu
của con người về ăn, mặc, ở, đi lại, học hành và chăm sóc sức khoẻ; tiếp cận với các
kết cấu hạ tầng và các nguồn lực xã hội kém; thiếu tự tin và dễ bị tổn thương; ít có
năm tháng, rối loạn tâm lý nặng hơn. Nguyên nhân rối loạn tâm lý sau này đó là sự
căng thẳng triền miên của nghèo đói vì không thấy lối ra.
1.1.3. Nhu cầu công tác xã hội đối với người nghèo
Nhu cầu con người phản ánh mong muốn chủ quan hoặc khách quan tùy theo
hoàn cảnh sống, yếu tố văn hóa, nhận thức và vị trí xã hội của họ. Để tồn tại, con
người cần được đáp ứng các nhu cầu thiết yếu cơ bản cho sự sống như ăn, mặc, ở, y
tế, giáo dục, giao tiếp xã hội,… Sự vận động và phát triển của xã hội loài người
nhằm mục đích đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của con người là động cơ thúc đẩy
con người tham gia hoạt động xã hội. Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow
tác giả của lý thuyết nhu cầu cho rằng nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ
tự bậc thang từ thấp tới cao, từ các nhu cầu thiết yếu nhất tới các nhu cầu thứ yếu,
cao hơn. Khi con người thoả mãn được nhu cầu cấp thấp rồi thì sẽ tiến tới thoả mãn
các nhu cầu cấp cao hơn. Theo thuyết nhu cầu của con người thành 5 thang bậc từ
thấp đến cao đó là: nhu cầu sống, nhu cầu an toàn, nhu cầu thuộc về một nhóm nào
đó, nhu cầu được tôn trọng và cuối cùng là nhu cầu hoàn thiện.
Từ thuyết nhu cầu thấy rằng người nghèo gặp nhiều khó khăn, không đảm bảo
mức sống tối thiểu, khả năng tiếp cận các DVXH hạn chế, năng lực kém nên chưa
thích ứng với môi trường xã hội, không tự nhận diện mặt mạnh cũng như hạn chế
13
của mình, không tự giải quyết những khó khăn của mình, dễ rơi vào khủng hoảng,
bế tắc. Một bộ phận người nghèo trông chờ ỷ lại, chấp nhận số phận, tự cô lập thậm
chí vướng vào tệ nạn xã hội kéo theo hệ lụy như con em thất học, bất bình đẳng
trong gia đình, hạn chế trong giao tiếp với cộng đồng xã hội. Người nghèo thường
thiếu thốn các nguồn lực để đáp ứng yêu cầu cá nhân và gia đình, trong đó có
những người nghèo không có khả năng tự bảo đảm cuộc sống. Việc đáp ứng các
nhu cầu của người nghèo là động cơ thúc đẩy con người tham gia hoạt động sản
xuất, hoạt động xã hội, như nhu cầu cải thiện sinh kế để tăng thu nhập, nhu cầu về
đủ thức ăn, có đủ áo ấm để mặc, có chỗ ở an toàn... Và do nhiều nhu cầu không
được đáp ứng cộng thêm với những khó khăn cản trở khác do sự nghèo khó mang
lại, họ gặp rất nhiều vấn đề và cần có sự hỗ trợ giải quyết.
Thứ hai là CTXH phấn đấu cho sự công bằng xã hội. CTXH từ lâu đã luôn
sát cánh cùng với những người nghèo như biện hộ, vận động chính sách để người
nghèo có các cơ hội được cung cấp và chia sẻ các nguồn lực xã hội.
Thứ ba là CTXH hướng đến các quyền con người. Định hướng này có nghĩa
là CTXH tham gia vào hỗ trợ người nghèo có được cơ hội thực hiện các quyền con
người của mình.
Thứ tư là CTXH hướng tới sự phát triển xã hội. CTXH có vai trò hỗ trợ
người nghèo, cộng đồng và xã hội một cách tích cực để có thể đạt được sự phát triển
tối đa tiềm năng bản thân và từ đó cũng là đóng góp cho sự phát triển xã hội [11, tr.
109-110].
1.1.4. Khái niệm công tác xã hội đối với người người nghèo
- Công tác xã hội: CTXH là hoạt động để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng
đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo
những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu nào đó. CTXH thúc đẩy sự
thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, tăng năng lực cá
nhân, cộng đồng và xã hội, trên cơ sở vận dụng các lý thuyết về hành vi con người
và hệ thống xã hội, CTXH tương tác vào những điểm giữa con người với môi
trường của họ. CTXH như là một tiến trình giải quyết vấn đề, đáp ứng các nhu cầu,
kết nối nguồn lực xã hội và thúc đẩy khả năng tự quyết của thân chủ, nâng cao chất
15
lượng cuộc sống của thân chủ, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh
phúc cho người dân và xây dựng hệ thống ASXH tiên tiến.
- Công tác xã hội đối với người nghèo là tiến trình tác động tới người nghèo
bằng phương pháp CTXH nhằm giúp cho người nghèo khai thác tiềm năng, thế
mạnh, khắc phục hạn chế mà trước hết là nâng cao năng lực của bản thân người
định, tổ chức, lãnh đạo (điều khiển) và kiểm tra [2, tr. 6-7]. Như vậy quản lý và
quản trị xét về chức năng thì có sự tương đồng. Trong một số trường hợp không có
sự khác biệt nào giữa quản lý và quản trị. Hai từ này được xem là đồng nghĩa [2, tr.
11]. Trong Đề tài xin được thống nhất sử dụng thuật ngữ quản lý.
- Quản lý công tác xã hội là một tiến trình hành động liên tục của NVXH trong
việc sử dụng các kiến thức, kỹ năng quản trị để chuyển đổi các CSXH thành các
DVXH. Nó bao gồm hoạt động của những người lãnh đạo tổ chức và tất cả những
nhân viên trong tổ chức để hoàn thành mục đích chung của tổ chức. Tiến trình căn
bản bao gồm các yếu tố: xây dựng kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. Từ khái
niệm này có thể xác định quản lý CTXH phải thực hiện một số công việc cụ thể như
sau:
+ Thực hiện tiến trình quản lý CTXH là xây dựng kế hoạch, tổ chức lãnh
đạo và kiểm tra;
+ Chuyển đổi chính sách thành các DVXH cụ thể và đúc kết kinh nghiệm
thực tiễn để điều chỉnh, bổ sung, thiết kế CSXH, đây là tiến trình hai chiều trong
quản lý CTXH.
+ Quản lý hệ thống CTXH: Bao gồm quản lý các tổ chức từ thấp đến cao
theo tiêu chuẩn, nội dung cần thiết như quản trị nhân lực, kiểm soát,... để bảo đảm
điều hành thực hiện mục tiêu của tổ chức với hiệu quả cao nhất;
+ Quản lý nghiệp vụ CTXH: Quản lý tác nghiệp của NVXH như quản lý
ca, hồ sơ, kiểm huấn,...
Như vậy, quản lý CTXH là biện pháp nghiệp vụ để thực hiện mục tiêu mà tổ
chức phải tác động đến các đối tượng xã hội. Tiến trình được thiết lập dựa trên cơ
sở lý thuyết về quản lý và nghiệp vụ CTXH. Tiến trình ngày càng hoàn thiện từ
tổng kết thực tiễn và hiệu quả ngày càng được nâng cao.
17
- Quản lý công tác xã hội đối với người nghèo là một tiến trình thực hiện
công tác hoạch định, tổ chức, kiểm tra, cụ thể là sự tác động dựa trên kiến thức, kỷ
bệnh nhân, QLTH trong trường học và cả trong lĩnh vực luật pháp (luật sư tư vấn
luật cho các học sinh...), QLTH đối với các đối tượng xã hội.
Mục đích chủ yếu của QLTH là nhằm tăng cường khả năng phát triển, giải
quyết vấn đề, ứng phó trong cuộc sống; tạo ra và thúc đẩy hệ thống hỗ trợ hoạt động
có hiệu quả và mang tính nhân bản để cung cấp tài nguyên và dịch vụ cho con
người; liên kết con người với hệ thống cung cấp tài nguyên, dịch vụ và cơ hội; cải
tiến phạm vi và năng lực của hệ thống cung cấp dịch vụ; góp phần cho sự phát triển
và hoàn thiện của CSXH.
Tóm lại, QLTH là một quá trình trợ giúp, đòi hỏi kỹ năng và kiến thức
chuyên môn, bao gồm các hoạt động đánh giá nhu cầu đối tượng (cá nhân, gia
đình), xác định, kết nối và điều phối các nguồn lực, dịch vụ nhằm giúp họ tiếp cận
nguồn lực để giải quyết vấn đề một cách hiệu quả.
Nhân viên xã hội thực hiện nhiệm vụ này trên cơ sở thực hiện các bước của
tiến trình QLTH gồm: Tiếp nhận và đánh giá sơ bộ ban đầu; thu thập thông tin; xác
định vấn đề của thân chủ; lập kế hoạch giúp đỡ; phân công trách nhiệm và phân bổ
nguồn lực; triển khai thực hiện kế hoạch; lượng giá. Để thực hiện nhiệm vụ này
nhân viên CTXH cần có các kỹ năng như kỹ năng điều phối, kỹ năng tổ chức cuộc
họp, kỹ năng biện hộ, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng tham vấn, kỹ năng thương
thuyết,... Nhân viên CTXH thực hiện vai trò cung cấp DVXH cụ thể, kết nối dịch
vụ, giáo dục, biện hộ, trị liệu, tư vấn nhóm và cá nhân, làm việc với cộng đồng
NVXH được yêu cầu ghi chép và lưu trữ hồ sơ theo qui định suốt quá trình thực
hiện đối với trường hợp được giao.
1.2.2.2. Xây dựng kế hoạch quản lý công tác xã hội đối với người nghèo
Xây dựng kế hoạch là một nội dung quan trọng nhất của quản lý, xây dựng
kế hoạch dựa trên cơ sở nghiên cứu quá khứ để ra quyết định trong hiện tại về công
việc phải thực hiện trong tương lai. Xây dựng kế hoạch là việc lựa chọn phương
19
20