VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
------------------------------
NGUYỄN THANH XUÂN
QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ
CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số
: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. VÕ KHÁNH VINH
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
ghi trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 75
PHỤ LỤC .............................................................................................................. 77
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AHLĐ
BB
CM
CS
CĐHH
HĐKC
HĐCM
NCC
LĐ-TBXH
LLVTND
LTCM
NVTQ
TB
TNXP
TKN
VNAH
: Anh hùng lao động
: Bệnh binh
: Cách mạng
: Chính sách
: Chất độc hóa học
: Hoạt động kháng chiến
: Hoạt động cách mạng
44
Bảng 2.4
Hoàn cảnh gia đình của người có công
44
Bảng 2.5
Tình hình chi trả trợ cấp cho người có công trong từng năm
45
Bảng 2.6
Tình hình chi trả chế độ hàng tháng cho người có công
46
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện tại cả nước ta có khoảng 8,8 triệu người có công với cách mạng
được hưởng chế độ ưu đãi một lần và hàng tháng, chiếm khoảng 10% dân số.
Trong đó, khoảng 1,47 triệu người hưởng trợ cấp hàng tháng, hàng chục nghìn
con thương binh, con liệt sĩ được hưởng chế độ ưu đãi về giáo dục, đào tạo,
chăm sóc y tế, hơn 1000 cán bộ lão thành cách mạng được hỗ trợ cải thiện nhà ở.
Thành phố Cần Thơ là nơi số lượng dân cư tập trung tương đối đông,
phân tán. Trong chiến tranh, nhân dân thành phố Cần Thơ đã cùng với nhân dân
vực chăm sóc người có công với cách mạng ở các địa bàn khác như: Đề tài “Vai
trò của nhân viên công tác xã hội trong nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
của Đảng và Nhà nước ta đối với người có công với cách mạng ở huyện Vĩnh
Lộc, tỉnh Thanh Hóa hiện nay” của sinh viên Lê Thị Hương, Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội; đề tài: “Thực trạng thực hiện chính sách ưu đãi đời sống người có
công với cách mạng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa và một số giải pháp khắc phục
giai đoạn 2010 – 2015” của sinh viên Cao Thị Thuận, Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn; đề tài: “Hiệu quả của việc thực hiện chính sách ưu đãi đến
đời sống thương binh, trên địa bàn phường Trường Thi năm 2010” của sinh viên
Hoàng Thị Thu Hoa, Trường Đại học Hồng Đức, Thanh Hóa…
Những đề tài trên tiếp cận vấn đề ở khía cạnh tìm hiểu thực trạng công
tác chăm sóc người có công hay đánh giá hiệu quả của chính sách ưu đãi xã hội
đối với người có công dưới góc nhìn của những người làm chính sách và đối
tượng là những người có công với cách mạng. Cho đến nay vẫn chưa có đề tài
nào nghiên cứu sâu sắc việc đưa công tác xã hội vào việc trợ giúp riêng cho đối
tượng người có công tại thành phố Cần Thơ.
Vì thế, đề tài “Quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách
mạng từ thực tiễn thành phố Cần Thơ” là đề tài tìm hiểu việc đưa quản lý
công tác xã hội vào trợ giúp cho đối tượng người có công với cách mạng tại
thành phố Cần Thơ.
2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực trạng quản lý công tác xã hội đối
với người có công với cách mạng tại thành phố Cần Thơ.Từ đó, nhận diện những
vấn đề mà người có công cần sự trợ giúp từ công tác xã hội, đưa ra các giải pháp
hỗ trợ phù hợp để tăng cường quản lý công tác xã hội vào hoạt động trong lĩnh
Chính sách người có công với cách mạng có nội dung rộng, nhiều loại
đối tượng thụ hưởng khác nhau, điều kiện, tiêu chuẩn xác nhận đối tượng khác
nhau. Tùy từng đối tượng, Nhà nước quy định mức trợ cấp, phụ cấp khác nhau;
trong phạm vi của luận văn này không thể bao quát đầy đủ được, do đó, tác giả
chọn một số vấn đề cơ bản lý luận để nghiên cứu, luận giải làm sáng tỏ quy định
về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng ở nước ta hiện nay, đó là:
quan niệm về người có công với cách mạng, quản lý nhà nước về công tác chính
sách người có công với cách mạng, khái quát tóm tắt chính sách người có công
với cách mạng.
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp phân tích tài liệu
Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập, tổng hợp, phân tích tài liệu từ
các văn bản pháp luật, tạp chí, các báo cáo khoa học để xây dựng cơ sở lý luận
cho đề tài nghiên cứu. Việc xác định một số khái niệm chính của đề tài như:
Người có công, ưu đãi xã hội, chính sách xã hội, công tác xã hội đối với người
có công và tìm hiểu những quy định chung về chế độ ưu đãi đối với người có
công, tìm hiểu số liệu về quy mô, cơ cấu và thực trạng hỗ trợ xã hội cho người có
công trên địa bàn.
- Phương pháp điều tra bảng hỏi
Phương pháp này tác giả sử dụng trên khách thể là 200 người có công tại
địa bàn nghiên cứu nhằm thu thập thông tin, số liệu về thực trạng đời sống của
họ, thông qua đó phân tích và nhận diện những khó khăn mà đối tượng đang gặp
4
phải, làm cơ sở cho tác giả đề xuất những giải pháp ở phần sau. Số liệu được xử
lý sau khi điều tra và được phân tích tại chương 2 của luận văn.
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Kết hợp với điều tra bảng hỏi tác giả tiến hành phỏng vấn sâu cán bộ phụ
trách lĩnh vực người có công của các phòng Lao động - Thương binh và Xã hội
Kết quả nghiên cứu cũng góp phần giúp những người quản lý có thêm
cái nhìn toàn diện, tích cực trong công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách của
Đảng, Nhà nước đến mọi đối tượng chính sách và cán bộ viên chức, đồng thời tổ
chức thực hiện đầy đủ kịp thời chế độ chính sách đối với người có công.
Giúp cho đối tượng hưởng chính sách nhận ra vấn đề và tiềm năng giải
quyết vấn đề của mình. Bên cạnh đó, giúp họ hiểu rõ các chế độ ưu đãi đối với
họ và các dịch vụ trợ giúp của việc quản lý công tác xã hội.
Giúp cho nhân viên công tác xã hội nói riêng và các ngành khác nói
chung hiểu biết thêm về các chế đội ưu đãi, các dịch vụ hỗ trợ của công tác xã
hội đối với người có công và những yêu cầu cần thiết để trở thành nhân viên xã
hội chuyên nghiệp trong lĩnh vực chăm sóc, trợ giúp người có công.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu; Kết luận; Danh mục tài liệu, các phụ lục, luận văn có 3
chương sau đây:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý công tác xã hội đối với
người có công với cách mạng.
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác xã hội đối với người có công với
cách mạng tại thành phố Cần Thơ.
Chương 3: Nâng cao quản lý công tác xã hội với người có công với cách
mạng tại thành phố Cần Thơ.
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
1.1. Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của Người có công với cách mạng
1.1.1. Khái niệm Người có công với cách mạng
“Cách mạng” được dùng trong nhiều phạm vi, góc độ khác nhau, tùy
Trong đó được khái niệm một cách rõ ràng về từng loại đối tượng cụ thể:
Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 là người
được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng
trước ngày 01 tháng 01 năm 1945.
Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước
Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 là người được cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền công nhận đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát
ly hoạt động cách mạng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi
nghĩa 19 tháng Tám năm 1945.
Liệt sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc,
bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân
dân được Nhà nước truy tặng Bằng "Tổ quốc ghi công" thuộc một trong các
trường hợp sau đây: Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; Trực tiếp đấu
tranh chính trị, đấu tranh binh vận có tổ chức với địch; Hoạt động cách mạng,
hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết
đấu tranh hoặc thực hiện chủ trương vượt tù, vượt ngục mà hy sinh; Làm nghĩa
vụ quốc tế; Đấu tranh chống tội phạm; Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách,
nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của
Nhà nước và nhân dân; Do ốm đau, tai nạn khi đang làm nhiệm vụ quốc phòng,
an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Bà mẹ Việt Nam anh hùng là những bà mẹ có nhiều cống hiến, hy sinh vì
sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hay có thể
hiểu Bà mẹ Việt Nam anh hùng là người đã sinh ra và nuôi dưỡng những đứa
con liệt sĩ, theo quy định như sau:
8
- Có hai con trở lên là liệt sĩ
- Có hai con mà một con là liệt sĩ, một con là thương binh với thương
tật từ 81% trở lên.
đủ 10 năm trở lên công tác trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; Đã công
tác trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đủ 10 năm nhưng không đủ điều
kiện hưởng chế độ hưu trí; Làm nghĩa vụ quốc tế; Dũng cảm thực hiện công việc
cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh. Bệnh binh là quân nhân,
công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 41% đến 60% đã
được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công nhận trước ngày 31 tháng 12 năm
1994.
Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học là người được
cơ quan có thẩm quyền công nhận đã tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ
chiến đấu tại các vùng mà quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hoá học, bị mắc
bệnh làm suy giảm khả năng lao động, sinh con dị dạng, dị tật hoặc vô sinh do
hậu quả của chất độc hoá học.
Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù,
đày là người được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền công nhận trong thời
gian bị tù, đày không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng chiến, không
làm tay sai cho địch.
Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm
nghĩa vụ quốc tế được hưởng các chế độ ưu đãi quy định tại Điều 31 của Pháp
lệnh ưu đãi người có công cách mạng (về trợ cấp, bảo hiểm) là người tham gia
kháng chiến được Nhà nước tặng “Huân chương kháng chiến”, “Huy chương
kháng chiến”.
Người có công giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích giúp đỡ cách
mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm, bao gồm: Người được tặng Kỷ niệm
chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước"; Người trong gia
đình được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với
nước" trước cách mạng tháng Tám năm 1945; Người được tặng Huân chương
10
cháu, họ hàng, làng xóm, họ đứng trong hàng ngũ của Đảng, tiếp tục tham gia
nhiều phong trào của địa phương, hết lòng phục vụ nhân dân. Có những thương
binh, bệnh binh vẫn đảm nhiệm những trọng trách cao trong Đảng, chính quyền:
Bí thư xã, chủ tịch xã, Bí thư ấp, trưởng ấp…
Hầu hết đối tượng người có công ở thành phố Cần Thơ đều có cuộc sống
khá giả, trung bình trở lên, một số ít do bệnh tật nặng nề tâm lý thường hay chán
nản, cần có sự giúp đỡ của người thân, của cộng đồng, có tâm lý tự ti vì cho rằng
mình là gánh nặng của gia đình, xã hội, có khoảng cách với con cháu… Từ
những đặc điểm khác nhau của mỗi đối tượng lại có những nhu cầu khác nhau.
1.1.3. Nhu cầu của Người có công với cách mạng
Qua quá trình khảo sát nghiên cứu, tìm hiểu đối tượng, người có công ở
thành phố Cần Thơ đã được hưởng đầy đủ các chế độ ưu đãi của Nhà nước, với
những hộ nhà ở dột nát đã được thành phố trích kinh phí của Nhà nước và quỹ
đền ơn đáp nghĩa để xây mới hoặc sửa lại. Vì vậy trên địa bàn thành phố không
còn gia đình người có công nào phải sống trong những ngôi nhà không đảm bảo.
Trong mỗi gia đình người có công đã sắm sửa đủ các vật dụng tiện nghi cần
thiết: tivi, tủ lạnh, bếp gas…, đảm bảo mức sống trên trung bình, cao hơn hoặc
bằng với mặt bằng nhân dân trong xã.
- Nhu cầu về tinh thần
Khi được hỏi, bất kỳ người có công nào trong thành phố cũng mong
muốn thế hệ sau biết đến các truyền thống anh hùng của dân tộc, nhớ ơn đến
những con người đã vì tổ quốc mà hy sinh xương máu. Họ luôn mong mỏi được
tham gia những buổi nói chuyện về truyền thống của lịch sử dân tộc trong những
ngày lễ. Đó cũng là những lúc để họ sống lại những năm tháng hào hùng đã trải
qua. Mỗi năm, Nhà nước đã rất quan tâm tặng quà nhân dịp Lễ, Tết, kỷ niệm các
ngày lễ lớn. Với những người có công đây cũng chính là niềm vui, niềm tự hào
mà họ nhận được. Món quà tuy nhỏ nhưng mang ý nghĩa rất lớn về mặt tinh
thần, làm nguôi ngoai đi nỗi đau mà họ và người thân đã trải qua.
lại chiến trường xưa, thăm lại nơi bị tù đày, tham gia góp ý kiến xây dựng Đảng
và bộ máy nhà nước; giáo dục, bồi dưỡng truyền thống cách mạng cho thế hệ
trẻ…Công tác xã hội đối với người có công là nhu cầu rất cần thiết hiện nay.
13
1.2. Khái niệm, đặc điểm và nguyên tắc của quản lý công tác xã hội đối với
Người có công với cách mạng
1.2.1. Khái niệm của quản lý công tác xã hội đối với Người có công với
cách mạng
Quản lý công tác xã hội là một phương pháp của công tác xã hội có liên
quan tới việc cung ứng và phân phối các nguồn tài nguyên xã hội giúp con người
đáp ứng nhu cầu của họ và phát huy tiềm năng bản thân. Người ta cho rằng khi
chuyển đổi các chính sách xã hội thành các chương trình và dịch vụ, nhà quản trị
công tác xã hội áp dụng sự tổng hợp các phương pháp công tác xã hội vào tiến
trình quản lý.
Vận dụng lý thuyết nhu cầu vào đề tài này có thể nhận thấy những nhu
cầu cơ bản mà người có công mong muốn trong việc thực hiện các hỗ trợ xã hội
là rất chính đáng và cần được đáp ứng đầy đủ, bên cạnh đó đánh giá các chế độ
ưu đãi, hỗ trợ xã hội hiện nay tại thành phố Cần Thơ và tìm hiểu những nhu cầu
cụ thể mà đối tượng còn thiếu hụt thuộc bậc thang nhu cầu nào. Thông qua đó,
tác giả xem xét đề xuất phương pháp tác động hiệu quả hơn bên cạnh các hỗ trợ
xã hội hiện có và đưa ra các giải pháp nhằm trợ giúp thõa mãn các nhu cầu đang
thiếu hụt của đối tượng mà đề tài hướng đến.
Lý thuyết hệ thống đã chỉ ra con người là một bộ phận của xã hội, chịu
sự tác động của các hệ thống xã hội. Sự thay đổi ở bất kỳ mắt xích nào trong hệ
thống xã hội cũng tạo ra ảnh hưởng đến hệ thống con người. Với đề tài luận văn
này lý thuyết hệ thống giúp tác giả xem xét việc hỗ trợ cho đối tượng có sự liên
kết của các hệ thống xã hội tại địa bàn nghiên cứu ở mức độ nào và hiệu quả của
nó. Trong tiến trình can thiệp giải quyết vấn đề, nhân viên công tác xã hội sẽ
Các phương pháp công tác xã hội không chỉ được sử dụng để cung cấp
dịch vụ mà còn trong tiến trình quản lý và các mối quan hệ với nhân viên.
Theo Tiến sĩ Bùi Thị Xuân Mai: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt
động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao
năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội đồng thời thúc đẩy
môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia
15
đình, cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo
an sinh xã hội” [1,tr 19].
Hiện nay, trên thế giới công tác xã hội hướng đến những đối tượng như:
Người cao tuổi; người nghiện ma túy, mại dâm; người khuyết tật, trẻ em có hoàn
cảnh khó khăn, cộng đồng nghèo; người nhiễm HIV/AIDS…
Ở Việt Nam, những đối tượng trên còn có nhóm người có công với cách
mạng, trong đó đặc biệt thương binh, bệnh binh cũng rất cần đến sự trợ giúp của
công tác xã hội. Người có công ở Việt Nam có số lượng khá lớn, đó là những
người đã đóng góp rất lớn cho cách mạng, cho đất nước, cho dân tộc, cho cộng
đồng. Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và có chính sách tôn vinh, ưu đãi với
người có công. Xã hội, cộng đồng luôn kính trọng, biết ơn Chính sách về người
có công là bộ phận quan trọng trong chính sách an sinh xã hội của nước ta.
Trong quá trình thực hiện chính sách đối với người có công vẫn còn rất nhiều
vấn đề đặt ra chưa đáp ứng được nhu cầu của người có công nói chung và
thương bệnh binh nói riêng.
1.2.3. Nguyên tắc của quản lý công tác xã hội đối với Người có công với
cách mạng
Tiếp cận dựa trên quyền trong công tác xã hội đối với người có công,
dựa trên người có công có tất cả các quyền: Quyền được chăm sóc về thể chất và
tinh thần; Quyền được tạo mọi điều kiện để phát triển; Quyền được tham gia xây
1.3.1. Xây dựng chương trình, kế hoạch công tác xã hội đối với Người có
công với cách mạng
Phân tích tình hình hay xem xét/ phân tích nội dung quản lý công tác xã
hội người có công sẽ cho thấy nhu cầu và vấn đề mà xã hội đang quan tâm. Kỹ
thuật thu thập dữ liệu hữu ích trong phân tích tình hình bao gồm các diễn đàn ở
cộng đồng, thảo luận nhóm tiêu điểm, phỏng vấn người cung cấp thông tin chủ
chốt, xem xét truyền thống và rà soát lại những dữ liệu hiện có.
Trong giai đoạn thiết kế, một kế hoạch chương trình được xây dựng cho
mỗi chương trình ưu tiên cao. Một kế hoạch chương trình (hay kế hoạch công
17
việc) chỉ rõ làm thế nào những kinh nghiệm học hỏi có chọn lọc có mục đích sẽ
cho ra một loạt những thành quả có giá trị cho một cá nhân, nhóm hay xã hội.
Trong giai đoạn thực hiện chương trình, các tài nguyên cần thiết để xúc
tiến chương trình đòi hỏi phải có và được triển khai. Các tình nguyện viên được
huấn luyện và huy động. Những kinh nghiệm học được, các hoạt động của
chương trình và những sự kiện khác cần hướng dẫn.
1.3.2. Tổ chức quản lý và công tác nhân sự trong công tác xã hội đối với
Người có công với cách mạng
Thực hiện đánh giá ban đầu về thực trạng người có công, nhu cầu và
nguyện vọng của họ. Giúp cho người có công xác định được vấn đề, nhu cầu của
mình; xem xét việc đáp ứng nhu cầu cơ bản của người có công. Cung cấp dịch
vụ tham vấn đề người có công vượt qua những khó khăn trong cuộc sống; tham
vấn gia đình người có công để hỗ trợ, giúp đỡ người có công.
Tìm hiểu các chính sách, các chương trình đối với người có công, kết nối
họ, giúp họ tiếp cận với các nguồn lực hỗ trợ phù hợp. Giúp gia đình người có
công, hỗ trợ họ và hướng dẫn cách thức chăm sóc về vật chất, tinh thần và tình
cảm cho người có công; đối với một số nhóm trong người có công, nhân viên xã
hồ sơ dưới nhiều hình thức khác nhau. Sự khác biệt có liên quan tới mục đích
của cơ sở và vấn đề đặc thù của từng hồ sơ.
Báo cáo có nghĩa “làm hoặc đưa ra một bản kê khai, thường là chính
thức”. Báo cáo căn cứ vào các hồ sơ, nghiên cứu và điều tra chính xác. Hồ sơ là
cơ sở để làm báo cáo. Việc báo cáo là một tiến trình quản trị được diễn giải như
là một tiến trình truyền thông. Mục đích của nó là:
- Nhằm mục đích báo cáo lên trên và báo cáo hướng ra bên ngoài, ghi
nhận sự tiến bộ, những nhu cầu và kế hoạch tương lai và miêu tả thành tích một
người nào đó và chứng minh một chương trình. Báo cáo lên trên còn là phương
tiện cho Lãnh đạo kiểm soát và hoạch định.
19
- Đối với mục đích hướng xuống nhân viên, báo cáo được làm để thông
tin cho nhân viên biết về các chính sách, các chương trình, nguồn lực, phương
thức và những vấn đề ảnh hưởng tới hoạt động của cơ sở.
1.4. Quan điểm chính sách, pháp luật về quản lý công tác xã hội đối với
Người có công với cách mạng
1.4.1 Quan điểm chính sách của Đảng và Nhà nước
1.4.1.1. Chính sách ưu đãi thương binh, gia đình liệt sĩ trong thời kỳ kháng
chiến chống Pháp
Ra đời trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
khi chính quyền cách mạng còn non trẻ, do hoàn cảnh kháng chiến khó khăn
gian khổ nên các văn bản pháp luật ưu đãi thương binh, gia đình liệt sĩ còn đơn
giản, nội dung còn mang tính hướng dẫn là chủ yếu, tính pháp luật chưa cao.
Cũng do khả năng kinh tế nên trợ cấp mới chỉ mang tính chất tượng trưng, chưa
có ý nghĩa thiết thực (trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp mới chỉ thực hiện
được chế độ hưu bổng thương tật quy định tại Sắc lệnh này và Sắc lệnh số
242/SL ngày 12 tháng 10 năm 1948).