VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THANH
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI SINH VIÊN
TỪ THỰC TIỄN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
KIÊN GIANG, TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành:.CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN KHẮC BÌNH
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Dưới sự hướng dẫn
của PGS.TS Nguyễn Khắc Bình. Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị
nào.
Tôi xin cam đoan các trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
và mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đều được cảm ơn.
Hà Nội, tháng 6 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh
Sinh viên
6
HSSV
Học sinh sinh viên
7
XH
Xã hội
STT
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI SINH VIÊN ........................... 10
1.1. Một số khái niệm cơ bản ........................................................................................ 10
1.2. Các lý thuyết áp dụng trong công tác xã hội đối với sinh viên ............................. 15
1.3. Công tác xã hội với sinh viên Trường Cao đẳng Nghề ……………………........ 22
1.4. Cơ sở pháp lý về hoạt động học sinh - sinh viên ................................................... 28
1.5. Các yếu tổ ảnh hưởng tới công tác xã hội với sinh viên trường Cao đẳng Nghề .. 30
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI SINH VIÊN
TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KIÊN GIANG.................................................... 33
Bảng 2.13
Bảng 2.14
Bảng 2.15
Bảng 2.16
Bảng 2.17
NỘI DUNG
Kết quả xếp loại đánh giá rèn luyện của SV
Tổng hợp HSSV bỏ học từ năm học 2012 – 2013 đến 2014 - 2015
Số lượng SV bỏ học và nguyên nhân bỏ học của Học kỳ I, năm học
2015 – 2016
Thống kê số lượng vi pham qui chế HSSV và bị kỷ luật
Nguyên nhân SV bị xét hình thức kỷ luật học kỳ I, năm học 2015
- 2016
Nhận thức về tầm quan trọng của việc hỗ trợ và giải quyết những vấn
đề xã hội xảy ra trong trường học đối với SV
Mức độ cần thiết của việc hỗ trợ và giải quyết những vấn đề xã hội
xảy ra trong trường học đối với SV (CTXH với SV) trong trường học
Mức độ thực hiện hoạt động tham vấn tư vấn cho SV tại trường.
Mức độ đáp ứng nhu cầu của nội dung tham vấn được thực hiện cho
SV tại trường
Mức độ thực hiện hoạt động đánh giá nhu cầu và cùng xây dựng kế
hoạch trợ giúp cho SV
Mức độ đáp ứng nhu cầu của nội dung, hình thức đánh giá nhu cầu và
cùng xây dựng kế hoạch trợ giúp cho SV
Mức độ thực hiện hoạt động biện hộ chính sách với việc bảo đảm
quyền lợi cho SV của nhà trường.
Mức độ đáp ứng nhu cầu của nội dung, hình thức biện hộ chính sách
với việc bảo đảm quyền lợi cho SV
Mức độ thực hiện hoạt động vận động, kết nối, giới thiệu nguồn lực
Nhưng trong những năm gần đây, nền giáo dục đang phải đương đầu với
những vấn đề phức tạp của xã hội đã len lỏi vào trường học – nơi có môi trường
giáo dục thuần khiết hình thành nhân cách con người. Việt Nam cũng như các nước
khác, đang phải đối diện và giải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh trong trường
học. Có thể đó là: SV bỏ học, bạo lực trong học đường, vấn đề về giới tính, tình
cảm…. rồi những vấn đề nảy sinh giữa GV và SV, giữa cha mẹ SV với thầy cô và
cán bộ nhân viên nhà trường.
Thực trạng trường Cao đẳng nghề Kiên Giang cũng không nằm trong ngoại lệ
1
đó, tình trạng SV bỏ học, SV nghiện game, vi phạm luật gia thông, bạo lực học
đường, vấn đề về giới, về tình cảm, mâu thuẫn nảy sinh giữa SV với SV, giữa SV
với GV hay giữa gia đình với GV và nhà trường… Đây là những vấn đề “nóng”
hiện nay, nó đã và đang được các nhà trường quan tâm. Hơn thế nữa là để trợ giúp
và thỏa mãn các nhu cầu như: Tìm nhà trọ, phương pháp học tập, nghiên cứu khoa
học cũng như bổ trợ các kỹ năng mềm khác, Tìm kiếm việc làm và hướng nghiệp
sau khi tốt nghiệp, Hỗ trợ giải đáp các thắc mắc trong học tập và rèn luyện….
Theo chúng tôi để giải quyết những vấn trên cần phải có nhiều giải pháp đồng
bộ nhằm bảo vệ SV, giúp SV thoát khỏi những hủng hoảng và tổn thương mà
CTXH trường học là một phương thức của ngành CTXH áp dụng trong bối cảnh
thân chủ là SV và thầy cô cũng như cộng đồng. Mô hình này trên thế giới áp dụng
đã khá lâu, đem lại những kết quả tích cực góp phần giảm thiểu những tác động xấu
của các vấn đề xã hội nảy sinh trong trường học.
Ở Kiên Giang nói chung và trường Cao đẳng nghề Kiên Giang nói riêng đã có
nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này nhưng chủ yếu là tiếp cận bằng Tâm lý học
hay Quản lý giáo dục mà chưa có đề tài nào tiếp cận vấn đề bằng phương pháp
CTXH học đường. Xuất phát từ lý do này, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Công tác xã
hội đối với sinh viên từ thực tiễn Trường Cao đẳng Nghề Kiên Giang, tỉnh Kiên
thực hành và những người học học về CTXH học đường biết được các chương trình
được cải thiện và được hứa hẹn đó mà hướng đến các lớp học, trường học, gia đình,
hàng xóm và cộng đồng nhằm tạo ra sự biến đổi. Nội dung của một chương được
dành cho lượng tri thức và những kỹ năng cần thiết để thực hiện chức năng có hiệu
quả hơn trong môi trường duy nhất về tổ chức và môi trường chính trị của trường
học. Cũng có một số chương khác đề cập đến vai trò nổi bật và thiết yếu của hội
học đường như là nhà tham vấn cũng như đề cập đến vai trò của nhân viên xã hội
trong quá trình thiết lập và duy trì các hoạt động hợp tác động trường học được thiết
kế nhằm tăng cường sự thành công của các vấn đề đang gặp phải. Để giải quyết
việc cần quan tâm hơn mối quan tâm đến vấn đề bạo lực ở trường học, cuốn sách
này cũng đưa thêm những mô tả mang tính ví dụ về các chương trình phòng ngừa
bạo lực và “ lấy người học làm trung tâm”.
Việc tăng cường và quan tâm đến khả năng đánh giá cũng như việc các nhân
viên học đường có thể đánh giá được những hoạt động dành riêng của họ. Do đó,
cuốn sách này cũng đưa ra những công cụ đánh giá mà có thể được sử dụng nhằm
đánh giá được tính hiệu quả của các hoạt động can thiệp. Với những phần ghi chú
cụ thể, chương 12 sẽ dành hướng đến phát triển những giải pháp mang tính chuẩn
mực được hướng đến đánh giá những biến đổi trong lớp học, trường học, gia đình,
3
hàng xóm và các cấp độ cộng đồng, đồng thời cũng có kết luận về những sự hướng
dẫn để có được các chương trình lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá được dựa trên
các chiến lược chương trình chất lượng toàn diện.
Để giúp người đọc được biết đến những nghiên cứu gần đây nhất và những
vấn đề đang diễn ra, cuốn sách này cũng đưa ra các nguồn thông tin trên Internet
cũng như những phần tài liệu tham khảo ở cuối từng chương. Các trường hợp minh
hoạ và các câu hỏi để thảo luận cũng được trình bày để giúp người đọc hiểu sâu hơn
và có thể áp dụng được tài liệu này tốt hơn.
tâm sinh lý, mối quan hệ thầy cô, vấn đề gia đình… đều có thể gặp nhân viên
CTXH để bộc lộ nhằm được giúp đỡ. Nhân viên CTXH học đường đã áp dụng các
phương pháp chuyên ngành của CTXH cá nhân, CTXH nhóm, tham vấn… để giải
quyết vấn đề của trẻ có hiệu quả.
Trước khi kết thúc dự án thí điểm trên, một cuộc lượng giá đã chỉ ra những
thành công công của việc đưa CTXH vào trường học như cải thiện mối quan hệ
giữa SV – SV – thầy cô giáo, giải quyết một số vấn đề cá nhân SV….
Ngoài ra, trong thời gian qua tổ chức SCS đã phối hợp hỗ trợ ngành dân số
Gia đình và Trẻ em TPHCM xây dựng 8 điểm tư vấn học đường tại 8 trường thuộc
các quận 3,8,10, Tân Bình, Gò Vấp đã mang lại hiệu quả rõ nét trong CTXH học
đường hiện nay.
Điều đó cũng cho thấy, hiện nay ở TPHCM đã có nhiều trường học phổ thông
đã quan tâm và đẩy mạnh mô hình này. Các trường cũng đã có tổ chức tham vấn
học đường và coi mô hình này như là biện pháp giúp học sinh “Hạ nhiệt” những vấn
đề thuộc tâm lý nhưng chỉ trong khuôn khổ tâm lý chứ chưa thực sự là CTXH. Theo
mạng lưới CTXH học đường thế giới thì nhân viên xã hội học đường là những
người được huấn luyện đặc biệt để giải quyết các vấn đề liên quan đến trẻ em, SV
và gia đình cũng như các thầy cô giáo của các em trong các trường học. Nhìn nhận
ở một góc độ nhà nghiên cứu, ThS. Đỗ Văn Bình cho rằng: ở Việt Nam, trong
những năm qua các vấn đề xã hội của HSSV ngày càng có xu hướng gia tăng, vai
trò giáo dục của gia đình, cộng đồng cũng như một số hạn chế của cơ chế chính
sách giáo dục đã được nhiều chuyên gia cũng như toàn xã hội quan tâm phân tích,
góp ý và một số thử nghiệm mô hình CTXH học đường đã được triển khai đạt kết
quả tốt.
Tác giả Nguyễn Khắc Bình trong báo cáo khoa học tại Hội thảo Quốc tế về
Chính sách công, Quản lý công và Chính sách an sinh xã hội năm 2015 tại Hà Nội
đã phân tích về tầm quan trọng của nhân viên công tác xã hội trường học. Tác giả đi
sâu phân tích công tác tổ chức hoạt động CTXH để trợ giúp học sinh, sinh viên
5
+ Đại học Hoa Sen đã xây dựng Trung tâm hỗ trợ SV với các nhóm: Đại học
Bách khoa Tp Hồ Chí Minh lại xây dựng trung tâm Hỗ trợ SV với nhiều các chức
năng khác nhau : tuyển sinh, hướng nghiệp, tham vấn học đường, kỹ năng …
6
Có thể thấy, việc triển khai các hoạt động CTXH với SV là một hướng đi cần
thiết và tất yếu trong xu thế cạnh tranh và hội nhập hiện nay. Trường Cao đẳng
Nghề Kiên Giang cũng cần quan tâm đến vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Trên nền tảng lý luận về CTXH đối với sinh viên trường Cao đẳng Nghề và
thực trạng CTXH đối với sinh viên tại Trường Cao đẳng Nghề Kiên Giang tỉnh
Kiên Giang để đề xuất một số biện pháp CTXH cho sinh viên nhà trường; góp phần
nâng cao chất lượng đào tạo nghề của nhà trường.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác lập lý luận về CTXH đối với sinh viên trong trường cao đẳng nghề.
- Đánh giá thực trạng CTXH đối với sinh viên tại Trường Cao đẳng Nghề
Kiên Giang.
- Đề xuất một số biện pháp CTXH đối với sinh viên tại Trường Cao đẳng
Nghề Kiên Giang.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
- Biện pháp CTXH đối với sinh viên Trường Cao đẳng Nghề Kiên Giang.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về thời gian: Từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 6 năm 2016.
* Phạm vi về không gian: Công tác xã hội cho sinh viên Trường Cao đẳng Nghề
Kiên Giang, tỉnh Kiên Giang
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
hoạt, tìm hiểu những khó khăn gặp phải và nhu cầu trợ giúp; những yếu tố tác động
đến nhu cầu trợ giúp.
+ Phương pháp nghiên cứu tiểu sử: Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập thông
tin về tiểu sử của khó khăn mà SV đang gặp phải; hoàn cảnh và điều kiện sống của
gia đình; cội nguồn và nguyên nhân sâu xa của vấn đề nảy sinh, tìm hiểu nguyên
nhân có thể ảnh hưởng đến nhu cầu cần trợ giúp của SV.
+ Phương pháp thực nghiệm tác động: Sau kết quả điều tra và phân tích thực trạng
CTXH đối với SV chúng tôi đề xuất các biện pháp tổ chức các hoạt động trợ giúp
SV vượt qua khó khăn nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho SV, tạo cho SV
một động lực để thành công.
+ Phương pháp thông kê toán học: Với sự trợ giúp của phương pháp này đê xử lý,
phân tích số liệu thu được một cách khách quan, khoa học.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
8
+ Ý nghĩa lý luận
Góp phần làm phong phú một số vấn đề lý luận về CTXH đối với SV về nội
dung, hình thức trợ giúp SV trong quá trình sinh hoạt, học tập và mong đợi của SV
đối với nhà trường. Phân tích và làm rõ các yếu tố chủ quan và khách quan tác động
đến các hoạt động CTXH đối với SV trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
+ Ý nghĩa thực tiễn:
Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý
nghiên cứu hoạch định chính sách và chỉ đạo thực tiễn về CTXH đối với SV tại các
cơ sở giáo dục nghề nghiệp nhằm giải quyết những vấn đề về SV trong trường học
hiện nay bằng các phương pháp chuyên nghiệp của CTXH cá nhân, CTXH nhóm,
tham vấn...đem lại những kết quả tích cực góp phần giảm thiểu những tác động xấu
của các vấn đề xã hội nảy sinh trong nhà trường.
7. Cơ cấu của luận văn
thể như người lớn.
Thời kỳ này điều kiện xã hội có vai trò quan trọng trong sự phát triển. Vai trò
của xã hội, hứng thú XH của thanh niên không chỉ mở rộng về số lượng và phạm vi
mà còn biến đổi cả về chất lượng. Ở nhiều gia đình thanh niên đã có nhiều thuận lợi
và trách nhiệm người lớn, cha mẹ bắt đầu trao đổi một số vấn đề trong gia đình và
các em đã quan tâm nhiều mặt đến sinh hoạt trong gia đình.
Thời kỳ này các em đã đủ tuổi để nhập Đoàn thanh niên cộng sản, tham gia
công tác tập thể XH một cách độc lập và có trách nhiệm hơn, 18 tuổi có quyền bầu
cử, có nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ lao động ...Tất cả đều có suy nghĩ về việc chọn
10
ngành nghề ...Do vậy gia đình, nhà trường, XH ...phải tìm cách tạo điều kiện cho
việc xây dựng một phương thức phù hợp, khuyến khích hành động có ý thức trách
nhiệm riêng, khuyến khích sự giáo dục lẫn nhau trong tập thể thanh niên mới lớn lên.
Đặc điểm tâm lý
Mỗi một lứa tuổi khác nhau đều có những đặc điểm tâm lý nổi bật, chịu sự chi
phối của hoạt động chủ đạo. Ở đây chúng tôi quan tâm đến SV những người có hoạt
động chủ đạo là học tập để tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp ở các
trường Cao đẳng, Đại học. Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng nhất ở lứa
tuổi thanh niên- SV là sự phát triển tự ý thức. Nhờ có tự ý thức phát triển, SV có
những hiểu biết, thái độ có khả năng đánh giá bản thân để chủ động điều chỉnh sự
phát triển bản thân theo hướng phù hợp với xu thế XH.
Ở lứa tuổi SV đã bước đầu hình thành thế giới quan để nhìn nhận, đánh giá
vấn đề cuộc sống, học tập, sinh hoạt hàng ngày. SV là những trí thức tương lai, ở
các em sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt. Học tập ở đại học, cao đẳng là
cơ hội tốt để SV được trải nghiệm bản thân, vì thế SV rất thích khám phá, tìm tòi
cái mới. Đồng thời học thích bộc lộ những thế mạnh của bản thân, thích học hỏi,
trau dồi và trang bị vốn sống, hiểu biết cho mình, dám đối mặt với thử thách để
vọng thành đạt, nhiều ước mơ và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách.
Song do hạn chế của kinh nghiệm sống, SV cũng có hạn chế trong việc chọn lọc,
tiếp thu cái mới. Những yếu tố tâm lý này có tác động chi phối hoạt động học tập,
rèn luyện và phấn đấu của SV.
Nhu cầu của SV
Quan hệ bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau giữa người và người để hình thành
quan hệ tốt đẹp giữa thanh niên mới lớn và người lớn. Quan hệ đó có thể tốt đẹp nếu
người lớn thực sự tin tưởng vào thanh niên, tạo điều kiện cho họ được thỏa mãn tính
tích cực, độc lập trong hoạt động, tạo điều kiện để nâng cao tinh thần trách nhiệm
của thanh niên. Hoạt động Đoàn thể là hoạt động mà ở đó thanh niên được thể hiện
bản thân. Vì vậy chúng ta cần giúp đỡ tổ chức Đoàn một cách khéo léo, tế nhị để
hoạt động đoàn được phong phú, hấp dẫn và độc lập, họ tự quyết định mọi vấn đề.
Cần tổ chức các hoạt động cho thanh niên SV, SV như thế nào để lôi kéo họ vào
12
hoạt động chung, kích thích tinh thần trách nhiệm, giáo dục và tự giáo dục trong tập
thể SV.
1.1.2. Khái niệm Công tác xã hội trường học
Khái niệm Công tác xã hội
CTXH là một ngành khoa học, một nghề chuyên môn ứng dụng trong hệ thống
an sinh xã hội ở nhiều quốc gia trên thế giới từ gần một nửa thế kỷ nay. Tuy nhiên ở
mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi nền văn hóa khác nhau, sự phát triển CTXH không đồng
đều thì CTXH được hiểu và định nghĩa khác nhau. Dưới đây là một số định nghĩa
về CTXH:
Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp CTXH Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế
Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: “CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi
xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực
và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thỏa mái
tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội. CTXH là hoạt động
thực tiễn bởi họ luôn làm việc trực tiếp với đối tượng với nhóm người cụ thể mang
tính tổng hợp cao, bởi người làm CTXH phải làm việc với nhiều vấn đề khác nhau
như: tệ nạn xã hội , vấn đề nghèo, vấn đề gia đình...CTXH không chỉ giải quyết mọi
vấn đề của con người và xã hội mà chỉ nhằm vào những vấn đề thiết yếu trong cuộc
sống hàng ngày của con người .[9, tr. 27]
Khái niệm CTXH trường học
CTXH trong trường học là một lĩnh vực thực hành chuyên biệt của CTXH.
Nhân viên xã hội mang những kiến thức và kỹ năng được đào tạo bài bản đến hệ
thống trường học và những nhóm dịch vụ dành cho SV. CTXH trường học được
thiết lập nhằm tạo ra những bước tiến xa hơn trong mục tiêu giáo dục: xây dựng
một môi trường giảng dạy, học tập, việc thực hiện nhân quyền cũng như sự tự tin
cho SV. Các trường học cần nhân viên xã hội để nâng cao khả năng đáp ứng nhiệm
vụ đào tạo; đặc biệt là sự hợp tác của gia đình - nhà trường - xã hội là chìa khóa để
các trường hoàn thành sứ mệnh này” [ 5, pg. 6]
Nhìn ở góc độ khác, CTXH và trường học được gắn kết một cách gần gũi.
Đó là “Giáo dục tại các trường học và CTXH cùng chia sẻ một mối quan tâm chung
về các vấn đề xã hội mà SV và gia đình đang gặp phải”. Nhiều SV gặp khó khăn
14
trong hoạt động phát triển và công tác xã trường học là một trong những lĩnh vực
nhằm phát hiện ra những vấn đề khó khăn ấy để giúp đỡ những SV này vượt qua
theo cách chuyên nghiệp [4, pg. 9]
CTXH trong môi trường học đường là một lĩnh vực trong cách tiếp cận
chuyên nghiệp để từ đó thấu hiểu và cung cấp sự trợ giúp cho những SV chưa thể
sử dụng khả năng học tập của mình một cách đầy đủ nhất, hoặc những vấn đề của
SV - như những đòi hỏi dịch vụ đặc biệt - cho phép các em có được những cơ hội
giáo dục cho mình. Một điều quan trọng của những dịch vụ này chính là nhấn mạnh
cũng được thoả mãn ở một mức độ khuôn khổ tối thiểu. Còn nhu cầu tương đối là
nhu cầu mà sự thoả mãn chúng đem đến cho con người niềm ao ước, ấp ủ. về
phương diện tâm lý học - xã hội, nhu cầu tương đối đem lại cho con người ta niềm
kiêu hãnh rằng, mình cao hơn đồng loại. Sự phát triển nhu cầu tuyệt đối tuỳ thuộc
vào trình độ phát triển kinh tế xã hội thoả mãn nhu cầu tương đối.
Năm 1943, nhà tâm lý học Abraham Maslow đã phát triển một trong các lý
thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong
nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục và CTXH. Đó là lý thuyết
về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người.
Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống
trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu
cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước. Hệ thống bậc thang nhu cầu cơ
bản của Maslow được tóm lại bằng những ý chính như sau:
Nhu cầu sinh lý: Đây là những nhu cầu sinh học. Chúng bao gồm nhu cầu khí
thở, thực phẩm, nước uống, tình dục, bài tiết, nhà ở và cơ thể có nhiệt độ tương đối
ổn định. Đây là những nhu cầu mạnh mẽ nhất, bởi vì nếu một người bị tước đoạt tất
cả các nhu cầu trên, thì nhu cầu về sinh học sẽ là cái đầu tiên con người tìm kiếm để
sống còn.
Nhu cầu an toàn: Khi tất cả các nhu cầu sinh học được thỏa mãn và không còn
làm cho con người lo lắng, bận tâm, thì nhu cầu cho sự an toàn có thể phát sinh. Nó
bao gồm: An toàn cho bản thể, an toàn làm việc, an toàn các nguồn lực, an toàn tinh
thần, an toàn cho gia đình, cho tài sản... Người lớn có ít nhận thức về nhu cầu an
toàn, ngoại trừ trong trường hợp xảy ra tình trạng khẩn cấp hoặc thời kỳ xáo trộn
trong cơ cấu xã hội (đối với trường hợp bạo loạn lan rộng, chiến tranh). Trẻ em
16
thường tỏ ra các dấu hiệu cần phải có được sự bảo bọc, chở che, an toàn từ những
người lớn.
tại thời điểm hiện tại, đặc biệt là các nhu cầu mọi mặt của SV, nhận ra khi nào thì
những nhu cầu cụ thể của SV chưa được thỏa mãn và cần đáp ứng.
Chẳng hạn: Con người thoả mãn nhu cầu ăn no rồi mới nghĩ tới thoả mãn nhu
cầu ăn ngon, thẩm mỹ.
Theo Charlotte Towle, nhu cầu về tâm linh, tôn giáo giúp người ta tin vào một
sức mạnh tồn tại bên ngoài con người, nó giúp người ta các giá trị tinh thần, đặc
biệt là các giá trị văn hoá dân tộc.
CTXH là hoạt động hướng tới giúp đỡ cá nhân, nhóm, cộng đồng thoả mãn
nhu cầu cần thiết, đế giúp họ hoạt động có hiệu quả hơn. Vì vậy muốn giúp đỡ cá
nhân, nhóm, cộng đồng đòi hỏi nhân viên CTXH phải có những hiểu biết nhất định
về đặc điểm tâm lý xã hội của SV và các hành vi của họ. Tại sao họ lại có những
hành vi như vậy? Hành vi đó nhằm đáp ứng nhu cầu gì?
SV vừa là một thực thể sinh vật vì đó là cơ thể sống, vừa là một thực thể xã
hội vì nó chứa đựng “tổng hoà các mối quan hệ xã hội” với một cơ chế tâm lý đặc
thù. Vì thế ba mặt: sinh lý, tâm lý và xã hội thường xuyên biến đổi và tác động qua
lại lẫn nhau trong suốt quá trình phát triển của mỗi SV nói chung, nhân cách nói
riêng và nói tới phát triến của con người là nói tới sự phát triển về thể lực, trí tuệ,
tình cảm, xã hội. Để đảm bảo các yếu tố trên được phát triển một cách hoàn thiện,
SV cần có các điều kiện cần thiết, có nghĩa là các nhu cầu cơ bản của con người cần
được đáp ứng, thoả mãn. Bởi theo Maslow, nhu cầu của con người được và nhất
thiết cần được sắp xếp theo thứ tự bậc thang từ thấp tới cao - từ các nhu cầu thiết
yếu nhất tới các nhu cầu thứ yếu, cao hơn. Sự thoả mãn nhu cầu của con người cũng
như các bậc thang đó. Khi con người thoả mãn được nhu cầu cấp thấp rồi thì sẽ tiến
tới thoả mãn các nhu cầu cấp cao hơn.
1.2.2. . Lý thuyết hệ thống - sinh thái
Lý thuyết hệ thống - Sinh thái là một lý thuyết rất quan trọng trong nền tảng
triết lý của CTXH. Lý thuyết này được V. Bertalanffy sáng lập với tên Lý thuyết hệ
thống tổng quát (General System Theory) năm 1968 và được áp dụng từ giữa những
năm 1970 đến nay. Theo lý thuyết này mỗi cá nhân đều là một thành viên của một
Ngoài ra tiếp cận này cũng chỉ ra được mạng lưới các hệ thống khác và tài
nguyên trong môi trường đó, khám phá sự tác động giữa chúng.... Để làm tốt nhiệm
19
vụ hỗ trợ cho SV thì nhân viên xã hội phải nắm rõ chức năng cũng như những
nguồn tài nguyên trong mỗi hệ thống: môi trường mà SV đó tồn tại, cộng đồng
đóng vai trò như là yếu tố môi trường và bản thân SV.
Ở góc độ tiếp cận thực hành CTXH cá nhân, mỗi SV được coi như là một hệ
thống với đầy đủ các yếu tố cấu thành, trong đó có hệ nhu cầu của họ.
Ở góc độ tiếp cận CTXH nhóm và phát triển cộng đồng, SV - tức là thân chủ
lại là một yếu tố của một hệ thống người lớn hơn, trong đó SV cần có những cách
thức phù hợp để thích nghi cũng như tận dụng những nguồn lực, những mối quan
hệ trong đó để bản thể hóa tạo điều kiện cho họ phát triển.
1.2.3. Tiếp cận dựa trên quyền
Tiếp cận dựa trên quyền con người là phương pháp tiếp cận lấy các tiêu chuẩn
về quyền con người làm cơ sở để xác định kết quả mong đợi và lấy các nguyên tắc
về quyền con người làm điều kiện, khuôn khổ cho quá trình đạt được kết quả đó.
Nguyên tắc này đảm bảo tôn trọng các quyền cơ bản của con người như quyền sống
còn, quyền được an toàn, quyền được tôn trọng,...
Sử dụng các tiêu chuẩn và nguyên tắc về quyền con người làm cơ sở và mục
tiêu cho hoạt động là đích mà cách tiếp cận dựa trên quyền con người hướng tới.
Khác với cách tiếp cận khác, tiếp cận dựa trên quyền con người không chỉ quan tâm
tới việc đạt được mục tiêu mà còn quan tâm thích đáng tới quy trình, cách thức
được lựa chọn để đạt được những mục tiêu đó với mục đích hỗ trợ SV tham gia tích
cực vào phát triển, chứ không phải chỉ là người hưởng lợi thụ động từ các chính
sách của nhà nước. Tiếp cận dựa trên quyền đối với SV bao hàm những nội dung cơ
bản sau:
Sử dụng những tiêu chuẩn và nguyên tắc cơ bản về quyền của SV làm tiêu chí