ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC X HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ HÀ THU NGUYỆT
HOẠT ĐỘNG KIỂM HUẤN CỦA NHÂN VIÊN X HỘI
CHO SINH VIÊN NGÀNH CÔNG TÁC X HỘI,
TẠI CÁC CƠ SỞ X HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC X HỘI
Mã số: 60.90.01.01
Người hướng dẫn khoa học: TS. MAI KIM THANH
Hà Nội, 2015
1
MỤC LỤC
Tiêu đề Trang
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 3
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 10
4. Mục đích, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 11
5. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 12
6. Câu hỏi nghiên cứu 12
7. Giả thuyết nghiên cứu 13
8. Phương pháp nghiên cứu 13
NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 17
1.1.1. Khái niệm công cụ 17
1.1.2. Hệ thống lý thuyết 21
3
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Đánh giá về nhu cầu xã hội đối với KHV CTXH ở Việt nam
Bảng 2.2. Đánh giá về sự đáp ứng KHV ở Việt Nam so với nhu cầu xã hội
Bảng 2.3. Đánh giá về vai trò KVH đối với Việt Nam hiện nay theo nhóm
tuổi
Bảng 2.4. Đánh giá về mạng lưới KHV CTXH ở Việt Nam hiện nay
Bảng 2.5. Nhận xét về cán bộ làm KHV CTXH ở Việt Nam hiện nay theo
thâm niên công tác
Bảng 2.6. Mức độ cập nhật thông tin chuyên ngành đối với hoạt động KHV
CTXH về hoạt động kiểm huấn CTXH
Bảng 2.7. Hình thức hoạt động KHV CTXH ở Việt Nam theo giới tính người
trả lời
Bảng 2.8. Hoạt động kiểm huấn tại cơ quan làm việc
Bảng 2.9. Lĩnh vực hoạt động CTXH của cơ quan làm việc
Bảng 2.10. Thời gian dành cho công việc kiểm huấn
Bảng 2.11. Thâm niên công tác của NVXH tham gia điều tra
Bảng 2.12. Đánh giá về năng lực chung của KHV CTXH tại cơ quan làm việc
theo nhóm tuổi
Bảng 2.13. Thông tin về cán bộ được đào tạo kiểm huấn CTXH tại cơ quan
Bảng 2.14. Nhận xét về hệ thống tài liệu chuyên ngành kiểm huấn CTXH ở
Việt Nam hiện nay
4
DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu đồ 2.1. Hoạt động kiểm huấn CTXH tại các cở sở
Biểu đồ 2.2. So sánh đặc điểm cán bộ KHV của Nhà nước và cán bộ KHV
của các tổ chức ngoài nước
Biểu đồ 2.3. Kênh cập nhật thông tin chuyên ngành
Biểu đồ 2.4. Trình độ học vấn của NVXH tham gia điều tra
Biểu đồ 2.5. Nhận xét về đặc điểm cán bộ KHV CTXH ở Việt Nam hiện nay
và ngành học mình đang theo đuổi và trở thành những nhân viên xã hội
chuyên nghiệp. Chúng ta cần có những thầy, cô có chuyên môn, có kinh
nghiệm làm việc, có đạo đức nghề nghiệp tại cơ sở xã hội hoặc tại nhà trường
có khả năng hỗ trợ, quản lý và hướng dẫn sinh viên được gọi là kiểm huấn
viên.
Do vậy, việc đào tạo và xây dựng đội ngũ kiểm huấn viên cũng như
mạng lưới cơ sở xã hội hợp tác với nhà trường trong việc tổ chức và sắp xếp
thực tập cho sinh viên là điều quan trọng và cần thiết không thể thiếu được.
Không phải bất kỳ nhân viên xã hội nào cũng có thể làm kiểm huấn viên
hay bất kỳ một cơ sở nào cũng có thể là cơ sở để sinh viên thực tập. Do vậy,
các trường đều có đưa ra những tiêu chí để chọn kiểm huấn viên và cơ sở thực
tập trên những điều cơ bản như đạo đức nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn,
7
sẵn lòng dành thời gian hợp tác và đóng góp vào sự nghiệp chung là phát triển
ngành công tác xã hội và nâng cao chất lượng nhân viên xã hội.
Năm 2010, Đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam về phát triển
nghề Công tác xã hội được chính thức phê duyệt và đi vào họat động đã khiến
ngành công tác xã hội bước vào giai đoạn đổi mới và phát triển mạnh mẽ.
Nhu cầu hoàn thiện và nâng cao các hoạt động của công tác xã hội ngày càng
trở nên cấp thiết, trong đó có hoạt động kiểm huấn của nhân viên công tác xã
hội cho sinh viên tại các cơ sở. Hoạt động kiểm huấn của nhân viên công tác
xã hội tốt sẽ giúp cho sinh viên biết cách và thành thạo hơn trong việc nối kết
giữa lý thuyết học tại lớp và thực tế tại cơ sở, hơn thế nữa còn có điều kiện
hiểu rõ hơn về công việc và ngành nghề mình đang theo đuổi, cũng như đạo
đức của ngành…
Đặc biệt, kiểm huấn CTXH ở Việt Nam còn khá mới mẻ, chưa mang
tính chuyên nghiệp; bởi vậy, việc nghiên cứu và đưa ra đề xuất nhằm nâng
cao hiệu quả của hoạt động kiểm huấn còn chưa nhiều. Do vậy, việc nghiên
về hoạt động kiểm huấn trong lĩnh vực CTXH là một đòi hỏi vừa mang tính
cấp thiết, về cơ bản vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn. Do đó tôi
tác xã hội còn được hiểu là các cơ sở an sinh xã hội giàu có tài nguyên trợ
giúp và tăng sức mạnh cho thân chủ. Vai trò của quản trị xã hội là vận dụng
khả năng nhân sự tạo ra các kiểu tổ chức xã hội là các kiểu mẫu lãnh đạo, sự
sáng tạo và lòng cảm thông [28].
Quản trị được Herman Stein định nghĩa là “một tiến trình xác định và
đạt các mục tiêu của một tổ chức thông qua một hệ thống phối hợp và hợp
tác”. Nó được xem như là một tiến trình, một phương pháp hay một loạt các
mối quan hệ giữa và trong những người cùng làm việc để đạt các mục tiêu
9
chung trong một tổ chức. Nó là một tiến trình liên tục hướng tới sự tăng
trưởng và phát triển của tổ chức.
Mary Parker Follett (1868-1933) – Một nhân viên công tác xã hội Mỹ,
nhà nghiên cứu về lý thuyết hành vi (Behaviourism) định nghĩa: “Quản trị là
việc hoàn thành công việc thông qua người khác”. Định nghĩa này nói lên rằng
những nhà quản trị đạt được mục tiêu của tổ chức bằng cách sắp xếp, giao việc
cho những người khác , chứ không phải hoàn thiện công việc bằng chính mình.
Với quan điểm này Mary Parker Follett đã không coi quản trị là một công việc
đòi hỏi nhà quản trị phải nỗ lực làm việc và tham gia vào quá trình làm việc
chung với những người thuộc quyền quản lý của họ.
Koontz và O' Donnell trong giáo trình “Những điều cốt yếu của quản
lý” định nghĩa: “Có lẽ không có lĩnh vực hoạt động nào của con người quan
trọng hơn là công việc quản lý, bởi vì mọi nhà quản trị, ở mọi cấp độ và
trong mọi cơ sở đều có một nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì một môi
trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể
hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu của mình” [27].
Quản trị công tác xã hội là một phương pháp của công tác xã hội có liên
quan tới việc cung ứng và phân phối các nguồn tài nguyên xã hội giúp con
người đáp ứng nhu cầu của họ và phát huy tiềm năng bản thân. Người ta cho
rằng khi chuyển đổi các chính sách xã hội thành các chương trình và dịch vụ,
nhà quản trị công tác xã hội áp dụng một sự tổng hợp các phương pháp công
Kiểm huấn có vai trò, vị trí quan trọng trong các cơ quan, tổ chức của
CTXH, là một quá trình liên tục trong mối quan hệ giữa người kiểm huấn,
người được kiểm huấn và cơ quan, tổ chức của họ. Kiểm huấn có liên quan
trực tiếp đến trách nhiêm báo cáo, thực hành, giải trình công việc, nâng cao
11
năng lực, phát triển chuyên môn và việc hỗ trợ các bên để họ hỗ trợ lẫn nhau
hiệu quả hơn. Kiểm huấn không chỉ giới hạn trong cơ quan quản lý mà còn
liên quan trực tiếp tới thân chủ. Kết quả của công tác kiểm huấn được biểu
hiện qua sự thay đổi theo chiều hướng tích cực của thân chủ mà người NVXH
mới vào nghề hay các thực tập sinh đã hoàn thành thời gian thực hành, thực
tập nghề nghiệp của họ
Trước đây, có nhiều nhóm nghiên cứu CTXH còn chỉ ra rằng, công tác
kiểm huấn hiện nay chưa đi vào chiều sâu, hoạt động kiểm huấn mang nặng
tính giám sát, kiểm soát hơn là việc dõi theo các hoạt động. Công tác kiểm
huấn trong các trường đào tạo CTXH và các cơ sở thực tế có các nhân viên xã
hội với vai trò là kiểm huấn viên mới vào nghề là một tiêu chuẩn bắt buộc của
nghề CTXH. Một số ít nhà thực hành tự do cho là nhân viên xã hội đã trở
thành những "người thọc gậy vào công việc của người khác", rằng ít cần đến
hoạt động kiểm huấn và cho rằng NVXH cần độc lập nhiều hơn nữa [19].
Theo tài liệu của tác giả Trịnh Thị Trinh, năm 2010 Khoa CTXH, trường
Đại học Lao động – xã hội đã phân tích và chỉ khá rõ về công tác đào tạo và
nghiệp vụ kiểm huấn CTXH ở Việt Nam thì, công tác kiểm huấn nhiên viên
tại các cơ sở xã hội chưa được quan tâm, vì công tác xã hội chưa phải là một
lĩnh vực nghề phổ biến, mang tính chuyên nghiệp. Tuy nhiên, trong những
năm gần đây, một số trường trọng điểm đào tạo và nghiên cứu về CTXH, như
trường: Đại học KHXH-NV Hà Nội; Đại học Lao động – Xã hội; Đại học
Công đoàn; Đại học Thăng Long; Học viện Phụ nữ Việt Nam đã triển khai
những mô hình đào tạo và nghiên cứu về CTXH, có đưa hoạt động kiểm huấn
vào giảng dạy và nghiên cứu; nhằm hướng tới xây dựng một đội ngũ kiểm
huấn viên CTXH tại các cơ sở xã hội và cộng đồng. Đội ngũ NVXH sẽ kiêm
cần hiểu biết các chính sách, đường lối tổ chức, các nguồn lực và trở ngại của
cơ quan, tổ chức. Kiểm huấn viên còn thực hiện vai trò giáo dục, truyền đạt,
13
hướng dẫn các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm cho nhân viên theo phương
pháp giáo dục chủ động; Kiểm huấn viên còn là người hỗ trợ tạo điều kiện,
giới thiệu các mô hình, phương pháp làm vệc hiệu quả, giới thiệu các nguồn
lực giúp nhân viên vận dụng tốt các cơ hội nghề nghiệp của họ. Đặc biệt,
kiểm huấn viên hòa còn trong vai trò là người hòa giải những bất đồng giữa
nhân viên xã hội với thân chủ, với nhà quản lý, với đồng nghiệp Sẽ được
nhà kiểm huấn chia sẻ, hỗ trợ, giúp đỡ [22].
Trong tài liệu "Sổ tay hướng dẫn kiểm huấn và thực tập của sinh viên tại
cơ sở" của khoa Phụ nữ học, trường Đại học Mở Bán công TP.HCM, tài liệu
này đã đề cập tới tầm quan trọng của công tác kiểm huấn tại các cơ sở xã hội,
những hoạt động hỗ trợ cho sinh viên khi tiến hành thực tập, thực hành dưới
cơ sở; đưa ra các tiêu chí cụ thể để lựa chọn kiểm huấn viên, như: Nhân viên
xã hội phải ít nhất đã được đào tạo 2 năm về công tác xã hội, có trình độ đại
học và đã có kinh nghiệm trong công tác kiểm huấn, có kỹ năng kiểm huấn
cho sinh viên thực tập, hiện đang làm việc tại các cơ sở xã hội hoặc các tổ
chức đào tạo, kiểm huấn viên giúp sinh viên hiểu rõ về quy trình thực tập
những nguồn lực trợ giúp khi đi thực tập, làm công tác giải thích, hỗ trợ sinh
viên. Ngoài ra, tài liệu này cồn đề cập tới vai trò và chức năng chính của một
kiểm huấn viên khi trợ giúp sinh viên. Có thể thấy rằng, tài liệu này đã cung
cấp cho những người làm kiểm huấn viên chuyên nghiệp những kiến thức, kỹ
năng chuyên môn phù hợp để hỗ trợ sinh viên. Ngoài ra, vai trò của kiểm
huấn viên còn giúp sinh viên trang bị thêm những kiến thức thực hành còn
thiếu, đó là những điểm mới mà tài liệu đã đề cập được. Song tài liệu còn
chưa nêu rõ được các hoạt động cụ thể của kiểm huấn viên khi trợ giúp sinh
viên dưới cơ sở thực tập, nêu lên những khó khăn, hạn chế và cách khắc phục
các khó khăn đó, góp phần nâng cao hiệu quả thực tập của sinh viên [6].
Trong tài liệu Quản trị ngành công tác tác hội của tác giả Trần Văn
sinh thái; thuyết nhu cầu xã hội; thuyết vai trò.
15
Đồng thời, với những kết quả mà nghiên cứu “Hoạt động kiểm huấn của
nhân viên xã hội đối với sinh viên ngành công tác xã hội, tại các cơ sở xã hội
trên địa bàn Hà Nội”, nghiên cứu sẽ góp một nâng cao vai trò và hiệu quả hoạt
động kiểm huấn trong lĩnh vực công tác xã hội, đặc biệt là hoạt động hỗ trợ sinh
viên ngành công tác xã hội khi thực hành, làm việc dưới các cơ sở xã hội.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở giúp cho việc phản biện chủ chương,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước liên quan đến quá trình hoạch
định, điều chỉnh, bổ sung những chính sách, chiến lược nhằm xây dựng đội
ngũ cán bộ công tác xã hội tương xứng với yêu cầu phát triển của đất nước,
cũng như đáp ứng được yêu cầu trước mắt về công nghiệp hóa - hiện đại hóa
ở Việt Nam.
Nghiên cứu đưa ra cái nhìn tổng thể về tình hình thực hiện vai trò của
nhân viên xã hội, đối với sinh viên công tác xã hội thực tập ở Hà Nội nói
riêng và sinh viên ngành công tác xã hội ở Việt Nam nói chung, góp phần
giúp các cơ sở có những điều chỉnh, quy hoạch, có chính sách hỗ trợ phù hợp
cho các đối tượng
Thông qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu thực tế nhà nghiên cứu có cơ
hội áp dụng những lý thuyết và phương pháp đã học vào thực tiễn cuộc sống,
có cái nhìn khách quan và vận dụng có hiệu quả kiến thức công tác xã hội để
xây dựng các mô hình phù hợp với từng đối tượng cụ thể. Từ đó, giúp nhà
nghiên cứu nắm rõ kiến thức, rèn luyện kỹ năng có thêm nhiều kinh nghiệm
trong những nghiên cứu tiếp theo và trong quá trình công tác của bản thân.
4. Mục đích, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Nêu lên được thực trạng hoạt động kiểm huấn của NVXH đối với sinh
viên ngành công tác xã hội, tại các cơ sở xã hội trên địa bàn Hà Nội. Từ đó,
đưa ra các phân tích, đánh giá nhận định và đưa ra các kết luận, khuyến nghị,
5.1. Đối tượng nghiên cứu
17
Hoạt động kiểm huấn của nhân viên công tác xã hội trong hỗ trợ sinh
viên ngành công tác xã hội.
5.2. Khách thể nghiên cứu
Sinh viên thực tập tại các cơ sở xã hội tại địa bàn Hà Nội.
Nhân viên xã hội hiện đang công tác tại các cơ sở xã hội tại địa bàn Hà
Nội.
5.3. Phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4/2014 đến tháng 12/2014.
Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu tại các cơ sơ xã hội tại địa bàn Tp.
Hà Nội.
6. Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng hoạt động kiểm huấn của nhân viên xã hội đối với sinh viên
ngành CTXH tại các cơ sở xã hội trên địa bàn Hà Nội như thế nào?
Yếu tố nào tác động tới hoạt động kiểm huấn của NVXH đối với sinh
viên ngành CTXH?
Làm gì để nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm huấn của NVXH đối với
sinh viên ngành CTXH khi thực hành và làm việc tại các cơ sở xã hội trên địa
bàn Tp. Hà Nội?
7. Giả thuyết nghiên cứu
Hiện tại hoạt động kiểm huấn của NVXH đôi với sinh viên ngành CTXH tại
các cơ sở xã hội trên địa bàn Hà Nội còn gặp rất nhiều khó khăn, do lực lượng cán
bộ làm công tác kiểm huấn còn thiếu và yếu về chuyên môn nghiệp vụ.
Hiệu quả hoạt động kiểm huấn của NVXH đối với sinh viên ngành
CTXH phụ thuộc vào nhiều yếu tố tác động như: Mục đích hoạt động của cơ
quan, tổ chức (lĩnh vực cung cấp dịch vụ xã hội); chuyên môn, nghiệp vụ;
thâm niên công tác
Để nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm huấn của NVXH đối với sinh viên
ngành CTXH tại các cơ sở xã hội trên địa bàn Hà Nội, cần thực hiện một số
trên tạp chí khoa học xã hội, các khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ, tiến
19
sỹ; tài liệu các lớp đào tạo, tập huấn có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Nguồn tư liệu phục vụ đề tài bao gồm các tư liệu, tài liệu của Sở Lao động -
Thương binh và Xã hội, Sở Nội vụ tỉnh Tp. Hà Nội và của các cơ quan, tổ
chức hành chính Nhà nước khác.
8.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp phỏng vấn sâu là dạng phỏng vấn với mục đích là tập trung
thu thập những thông tin đa chiều và sâu hơn về vấn đề nghiên cứu ở khách
thể nghiên cứu, từ đó hiểu sâu hơn về bản chất của đối tượng được nghiên cứu
nhằm phục vụ cho đề tài nghiên cứu.
Để thu thập thông tin định tính, trong nghiên cứu này tác giả tiến hành
30 phỏng vấn sâu, đối tượng là những người hiện đang là nhân viên xã hội và
sinh viên ngành CTXH đang thực tập tại các cơ sở xã hội, trên địa bàn Tp. Hà
Nội. Cơ cấu như sau:
Cán bộ xã hội: 15 người.
Sinh viên ngành CTXH: 15 người.
8.2.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Bảng hỏi là một công cụ quan trọng trong nhận thức thực nghiệm. Nó là
sự thể hiện bên ngoài của chương trình nghiên cứu. Bảng hỏi là một hệ thống
các câu hỏi được xếp đặt trên cơ sở logic đảm bảo theo nội dung của vấn đề
nghiên cứu nhằm tạo điều kiện cho người được hỏi thể hiện quan điểm của
mình với những vấn đề thuộc về đối tượng nghiên cứu và người nghiên cứu
thu nhận được các thông tin cá biệt đầu tiên đáp ứng các yêu cầu của đề tài,
mục tiêu và nội dung nghiên cứu.
Cũng tuân theo những nguyên tắc cơ bản của việc xây dựng bảng hỏi, tuy
phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi có những yêu cầu tỷ mỉ và chi tiết
hơn nhưng tất cả các câu hỏi cần phải được diễn đạt sao cho khi đưa ra ai cũng
20
hiểu được ý nghĩ của nó và sẵn sàng cung cấp thông tin, việc trình bày cũng phải
Nữ 74 49,3
Tổng 150 100
Cơ cấu mẫu theo nhóm tuổi:
Nhóm tuổi Số lượng Tỷ lệ (%)
25 - 29 tuổi 46 30,7
30 - 34 tuổi 48 32,0
35 - 40 tuổi 56 37,3
Tổng 150 100,0
22
NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1. Khái niệm công cụ
1.1.1.1. Khái niệm kiểm huấn CTXH
Robinson là nhà quản trị CTXH tiên phong, vào năm 1936 bà đã khơi
dậy nhiều quan tâm đến việc hiểu và sử dụng hiệu quả tiến trình kiểm huấn
trong TCXH . Bà cho rằng, kiểm huấn là một kỹ năng quan trọng của người
nhân viên CTXH chuyên nghiệp “Kiểm huấn ở các cơ sở xã hội là nhiệm vụ
của nhà quản trị- chịu trách nhiệm quản lý, thực hành, giám sát công việc
chuyên môn theo nghĩa tổng quát, ngoài ra họ có chức năng thứ hai là truyền
đạt kiến thức hay huấn luyện những nhân viên, sinh viên thực tập mà họ
hướng dẫn”.
Công việc chuyên môn mà người nhân viên xã hội đảm nhận là: Quản lý
ca, làm việc nhóm, nghiên cứu, hành chính, đi thực địa, học tập nâng cao…
Truyền đạt kiến thức là việc phổ biến những kiến thức thực tế, quy trình chăm
sóc đối tượng, kỹ năng tiếp cận đối với từng đối tượng cụ thể tại cơ sở…Đồng
thời nhà kiểm huấn có nhiệm vụ giám sát, đánh giá việc thực hành nghề
nghiệp cho các thực tập sinh và nhân viên mới vào nghề.
Tại các trường đào tạo về CTXH, các giảng viên vừa giảng dạy lý thuyết
trên lớp, vừa phải hướng dẫn thực hành, thực tập cho các sinh viên tạ cơ sở
điểm giữa con người với môi trường của họ. Nhân quyền và Công bằng xã hội
là các nguyên tắc căn bản của nghề" [9].
Nhân viên CTXH là người được đào tạo công tác xã hội (có bằng đại
học hay bằng thạc sỹ), sử dụng kiến thức hay kỹ năng để cung cấp các dịch vụ
xã hội cho các cá nhâ n, gia đình, nhóm, cộng đồng, tổ chức, hay xã hội, nhân
viên xã hội giúp đỡ con người tăng cường năng lực đối phó và giả quyết vấn
đề và giúp đỡ họ tìm kiếm được các nguồn trợ giúp cần thiết, tạo điều kiện
24
cho sự tương tác giữa các cá nhân và giữa con người với môi trường xung
quanh họ, làm cho các tổ chức có trách nhiệm với con người và tác động đến
các chính sách xã hội [24].
Nhân viên CTXH là người làm việc để giúp đỡ mọi người. Hầu hết họ
làm việc với con người và giúp họ quản lý cuộc sống của mình, hiểu và thích
nghi với ốm đau, khuyết tật, cái chết và cung cấp các dịch vụ xã hội, như
chăm sóc sức khỏe, giúp đỡ pháp luật. Những nhân viên xã hội khác làm việc
như những quản trị viên trong hệ thống dịch vụ xã hội, viết các chương trình
cho các tổ chức phi lợi nhuận, biện hộ cho các chính sách xã hội thuộc nhiều
cấp độ của chính phủ và tiến hành các nghiên cứu.
Nhân viên CTXH cung cấp các trị liệu và dịch vụ cho các cá nhân và gia
đình thông thường có bằng thạc sỹ CTXH. Những người làm việc trong lĩnh
vực nghiên cứu và chính sách thường có bằng tiến sỹ CTXH [26].
Ở hầu hết các nước, CTXH chuyên nghiệp được đào tạo ở bậc Đại học.
Đây là quan điểm được đề xuất trong bản báo cáo năm 2004 về các tiêu chuẩn
toàn cầu về đào tạo CTXH của IFSW và IASW. Tuy nhiên, những cơ quan
quốc tế này đồng thời cũng chấp nhận rằng ở một số quốc gia việc đào tạo
NVXH ở các cấp thấp hơn là một nguyện vọng để đạt được số lượng như yêu
cầu [11].
Trên thế giới để hành nghề CTXH chuyên nghiệp, một người phải trải
qua rất nhiều kỳ thi và kiểm tra ngặt nghèo. Nhờ đó họ được cấp chứng chỉ
hành nghề và tiếp tục tham gia các khóa học, trải qua các kỳ thi. Quá trình