Tổ chức hoạt động du lịch tại các di tích thờ Mẫu trên địa bàn Hà Nội (Qua nghiên cứu trường hợp Phủ Tây Hồ - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN QUANG TRUNG

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
TẠI CÁC DI TÍCH THỜ MẪU TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
(QUA NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP PHỦ TÂY HỒ) LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH Hà Nội - 2013

Hà Nội - 2013
LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tác giả luận văn đã nhận đƣợc sự giúp đỡ
rất nhiệt tình từ phía các thầy cô giáo, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè cả về
tinh thần cũng nhƣ kiến thức khoa học.
Đầu tiên, ngƣời viết xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới TS. Dƣơng
Văn Sáu - ngƣời đã hƣớng dẫn tận tình, tạo cho tác giả động lực mạnh mẽ, say
mê nghiên cứu với ý thức làm việc nghiêm túc trong suốt thời gian qua.
Đồng thời, tác giả cũng xin đƣợc gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban chủ
nhiệm, các thầy giáo, cô giáo trong khoa Du lịch học - Trƣờng Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ, hƣớng
dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu để luận văn này đƣợc hoàn thành.
Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn tới các đồng nghiệp, bạn bè và gia
đình đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ tác giả vƣợt qua những quãng thời
gian khó khăn nhất.
Xin chân thành cảm ơn! Tác giả luận văn
Nguyễn Quang Trung

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Tổ chức hoạt động du lịch tại
các di tích thờ Mẫu trên địa bàn Hà Nội. (Qua nghiên cứu trường hợp phủ
Tây Hồ)” là một công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân. Các tài liệu tham
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục đích của luận văn 4
4. Nhiệm vụ của luận văn 4
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 5
7. Đóng góp khoa học của luận văn 6
8. Bố cục của luận văn 7
Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1. Những vấn đề chung 7
1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 7
1.1.2. Cơ sở lý luận về tín ngưỡng và tôn giáo 16
1.2. Cơ sở thực tiễn của tổ chức hoạt động du lịch 26
1.2.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức hoạt động du lịch 26
1.2.2. Vai trò của tổ chức hoạt động du lịch 28
1.2.3. Những nội dung cần tiến hành khi tổ chức hoạt động du lịch 29
1.3. Du lịch tín ngƣỡng 32
1.3.1. Hoạt động du lịch tại một số thờ Mẫu ở Việt Nam 34
Tiểu kết chương 1 39
Chƣơng 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
DU LỊCH THỜ MẪU TẠI PHỦ TÂY HỒ (HÀ NỘI) 41
2.1. Một số tiên đề 41
2.1.1. Vị trí địa lý 41
2.1.2. Lịch sử và truyền thuyết 42
2.1.3. Phủ Tây Hồ trong tâm thức của người Việt ở Bắc bộ 45
2.2. Sự giao thoa văn hóa của tam giáo và tục thờ Mẫu 46


3.2.1. Giải pháp: Quy trình tổ chức du lịch tại các di tích thờ Mẫu 78
3.2.2. Giải pháp: Ứng xử văn hóa trong di tích thờ Mẫu 83
3.2. 3. Giải pháp đào tạo chuyên biệt và phổ cập 84
3.2.4. Giải pháp xúc tiến, quảng bá du lịch 86
3.2.5. Giải pháp phát triển cơ sở hạ tầng 87
3.2.6. Giải pháp liên kết vùng du lịch 88
3.2.7. Giải pháp bảo tồn các giá trị văn hóa 88
3.3. Những kiến nghị nhằm nâng cao tổ chức hoạt động du lịch tại các di
tích thờ Mẫu 90
3.3.1. Đối với cơ quan quản lý 90
3.3.2. Đối với địa phương 91
3.3.3. Đối với các đơn vị kinh doanh du lịch 91
Tiểu kết chương 3 93
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Xu hƣớng hội nhập kinh tế toàn cầu đang rút ngắn khoảng cách văn hóa
các quốc gia. Cộng đồng thế giới xích lại với nhau trong sự quan tâm chung
về nhiều lĩnh vực khác nhau. Kinh nghiệm của các nƣớc phát triển cho thấy
việc giữ gìn các giá trị văn hóa, bảo tồn những đặc trƣng của dân tộc, bên
cạnh đó vừa đẩy mạnh truyền thông đến cộng đồng thế giới nhằm phát triển
những giá trị xã hội và văn hóa bền vững. Trong xu thế hội nhập toàn cầu này
Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII đã có những

Là một ngƣời nghiên cứu về văn hóa - du lịch, một ngƣời làm trong
ngành du lịch. Trên hết là tình yêu đất nƣớc, cùng sự nhiệt tình, say mê muốn
tìm hiểu văn hóa, tín ngƣỡng dân gian, đặc biệt là tín ngƣỡng thờ Mẫu của
ngƣời Việt. Tác giả đã nhận thấy rằng đề tài: “Tổ chức hoạt động du lịch tại
các di tích thờ Mẫu trên địa bàn Hà Nội. (Qua nghiên cứu trường hợp phủ
Tây Hồ), là một vấn đề khoa học cần thiết trong việc tổ chức hoạt động du
lịch đồng thời góp phần quảng bá văn hóa dân tộc Việt.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Các công trình nghiên cứu về tục thờ Mẫu đã và đang thu hút sự quan
tâm nghiên cứu của nhiều học giả. Các nhà nghiên cứu nhƣ GS. Ngô Đức
Thịnh, Đặng Văn Lung, Nguyễn Đăng Duy, Đỗ Thị Hảo, Mai Ngọc Chúc,
Nguyễn Đình San… đã công bố các công trình nghiên cứu về tục thờ Mẫu đã
phần nào đó giải mã những mật mã văn hóa dân gian, lịch sử trải qua các thời
kỳ của dân tộc. Có thể kể đến các tác giả và công trình nghiên cứu nhƣ:
- Vũ Ngọc Khánh, Tục Thờ Mẫu và Đức Thánh Trần, Nxb Văn hóa
thông tin. Cuốn sách với tổng số trang là 245 trang, tác giả nghiên cứu đã chỉ
rõ về thần tích, nguồn gốc và các nghi lễ trong tục thờ Đức Mẫu và Đức
Thánh Trần trong tâm thức của ngƣời dẫn Việt Nam từ bao đời xƣa.
- Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu Việt Nam, Nxb Tôn giáo. Cuốn sách với
tổng số trang 815 trang bao gồm các phần nội dung nghiên cứu về tín ngƣỡng
thờ Mẫu của các vùng trên cả nƣớc. 3
- Nguyễn Đăng Duy (1996), Văn hóa tâm linh, Nxb. Hà Nội, Cuốn sách
của tác giả nghiên cứu đã thể hiện quan điểm văn hóa tâm linh với việc đƣa ra
các khái niệm, quan điểm và hiện tƣợng trong cuộc sống sinh hoạt tâm linh.
Cuốn sách bao gồm 313 trang. Với các nội dung nghiên cứu của tác giả
Nguyễn Đăng Duy đã cho thấy nét cơ bản trong tín ngƣỡng Việt Nam với văn
hóa luôn song hành và tƣơng hỗ nhau cùng tồn tại và phát triển.

di tích thờ Mẫu hầu nhƣ chƣa đƣợc nghiên cứu. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài này.
3. Mục đích của luận văn
Luận văn nhằm đóng góp một phần trong việc nghiên cứu những giá trị
văn hoá tín ngƣỡng dân gian Việt Nam. Thông tin nghiên cứu này sẽ trở thành
một trong những tài liệu hữu ích trong việc tìm hiểu và nghiên cứu khoa học
nói chung và văn hóa tín ngƣỡng thờ Mẫu nói riêng ở Việt Nam.
Qua nghiên cứu hoạt động du lịch tại phủ Tây Hồ (Hà Nội). Luận văn
đƣa ra các Quy trình tổ chức hoạt động du lịch tại các di tích thờ Mẫu trên địa
bàn Hà Nội.
Luận văn chỉ ra những ứng xử văn hóa khi du khách tham gia chƣơng
trình du lịch hành hƣơng và vãn cảnh trong không gian thiêng liêng tại các di
tích thờ Mẫu trên địa bàn Hà Nội.
4. Nhiệm vụ của luận văn
Làm rõ các khái niệm tín ngƣỡng, tục thờ Mẫu, những cơ sở hình thành
và tồn tại của tín ngƣỡng thờ Mẫu của ngƣời Việt.
Thực hiện khảo sát thực trạng du lịch tại các di tích thờ Mẫu trên địa bàn
Hà Nội, nhằm thu thập thông tin phục vụ cho luận văn.
Quan sát các sinh hoạt tín ngƣỡng của nhân dân xung quanh các di tích
thờ Mẫu và các điểm du lịch có thờ Mẫu, nhằm đƣa ra các quy trình tổ chức
hành hƣơng và tham quan tại các di tích này.
Thực hiện thử nghiệm tổ chức một số chƣơng trình tham quan tại các di
tích thờ Mẫu trên địa bàn Hà Nội, nhằm đƣa ra những ứng xử đúng đắn với
du khách tham quan tại đây.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 5
Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề tổ chức hoạt động du lịch tại các di
tích thờ Mẫu trên địa bàn Hà Nội. Qua nghiên cứu trƣờng hợp phủ Tây Hồ.
Phạm vi nghiên cứu:

những chuyên gia, những ngƣời nghiên cứu, am hiểu hoặc có liên quan đến
đối tƣợng đƣợc nghiên cứu. Những nhận định đó có tính bổ trợ cơ sở khoa
học cho những lập luận, hay nhận định của tác giả trong nghiên cứu
Phương pháp thử nghiệm: Luận văn có sử dụng phƣơng pháp thử nghiệm
xây dựng các sản phẩm du lịch, chƣơng trình du lịch văn hóa tín ngƣỡng
trong việc tổ chức hoạt động du lịch từ đó đề xuất giải pháp áp dụng vào thực
tế nhằm kiểm chứng hiệu quả đạt đƣợc của vấn đề đƣợc đƣa ra có tính khả thi.
Phương pháp miêu thuật: Khi nghiên cứu đề tài tác giả có sử dụng
phƣơng pháp miêu thuật là việc thuật lại những sự việc, hiện tƣợng quan sát đƣợc
hay nói cách khác là sự tái hiện lại những sự vật, hiện tƣợng, trạng thái con ngƣời
nghiên cứu tín ngƣỡng đã chứng kiến và trải nghiệm.
Phương pháp giải mã: Trong quá trình nghiên cứu đề tài có sử dụng
phƣơng pháp giải mã văn hóa nhằm làm rõ các hiện tƣợng, hình tƣợng, kiến
trúc, mĩ thuật trong tín ngƣỡng thờ Mẫu, cung cấp thông tin cần thiết cho nội
dung nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành: Tác giả sử dụng phƣơng pháp
nghiên cứu chuyên ngành du lịch học để khai thác và làm rõ nội dung về tổ
chức du lịch, tƣ vấn, hỗ trợ tổ chức, hƣớng dẫn các chƣơng trình du lịch tới du
khách tham quan. Bên cạnh các phƣơng pháp nêu trên tác giả còn sử dụng
một số phƣơng pháp khoa học khác nhằm hỗ trợ thực hiện đề tài một cách
hiệu quả nhất.

7. Đóng góp khoa học của luận văn
Về mặt khoa học:
Kết quả luận văn sẽ góp thêm tƣ liệu cho việc nghiên cứu văn hóa tín
ngƣỡng dân gian – tục thờ Mẫu. Đồng thời củng cố thêm những hiểu biết về
văn hóa tín ngƣỡng dẫn gian. Hiểu một cách sâu sắc những giá trị văn hoá
thông qua tục thờ Mẫu, góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về văn hóa - lịch
cuộc sống hiện đại hóa đất nƣớc và nó cũng trở thành một nhu cầu thiết yếu 8
của xã hội. Về lợi ích kinh tế, du lịch đã trở thành một sự bùng nổ, một ngành
kinh tế mũi nhọn của nhiều nƣớc trên thế giới và Việt Nam cũng không là
ngoại lệ. Vậy nghĩa từ của Du lịch đƣợc hiểu nhƣ thế nào trong quá trình đẩy
mạnh tổ chức hoạt động này trong xã hội.
Để đáp ứng nhu cầu đó của du lịch ngƣời làm công tác du lịch cần phải
đƣợc đào tạo, cần có vốn hiểu biết về văn hóa, đặc biệt là những hiểu biết về
văn hóa liên quan đến du lịch nhƣ những di tích lịch sử, những lễ hội, tín
ngƣỡng dân gian, kể cả văn hóa ẩm thực, văn hóa địa phƣơng dân cƣ nơi có
những điểm tham quan du lịch.
“Về nguồn gốc chữ nghĩa, từ du lịch là một từ gốc Hán, thì du lịch có ý
nghĩa là đi chơi và trải nghiệm đời sống (du = đi chơi; lịch = trải nghiệm).
Như vậy, tự nghĩa gốc từ du lịch đã nói lên mục đích của du lịch không chỉ đi
chơi mà còn để học hỏi và trải nghiệm” [32, tr.10]
Du lịch là (kinh tế). 1, Một dạng nghỉ dƣỡng sức tham quan tích cực
của con ngƣời ở ngoài nơi cƣ trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh
lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa, nghệ thuật…2, Một ngành
kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về
thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng
thêm tình yêu đất nƣớc mang lại hiệu quả rất lớn; du lịch có thể coi là hình
thức xuất khẩu hàng hóa và lao động dịch vụ tại chỗ [39, tr.684].
„„Du lịch nhìn chung là Đi chơi và Trải nghiệm. Con người biết đi từ
thời tiền sử, khi đã đứng được trên hai chân. Lúc đầu đi là để kiếm cái ăn,
sau là đi công chuyện, đi chơi hoặc kết hợp cả hai” [2, tr.20].
“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài
nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm
hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.”[14, tr.15]

ba hình thái văn hóa của mỗi tộc người, bao gồm: tôn giáo, tín ngưỡng,
phong tục tập quán, kiêng cữ, văn học dân gian, âm nhạc hội họa, điêu khắc,
giáo dục, nghệ thuật dân gian, các tri thức khoa học, các nghi lễ, lễ hội, thờ
cúng tổ tiên, thờ Mẫu” [39, tr. 818]. 10
Qua đó, chúng ta cũng có thể quan niệm: “văn hóa du lịch”, là một hiện
tƣợng khách quan. Văn hóa và du lịch đều có những mối quan hệ mật thiết,
chúng tƣơng tác với nhau, cùng phát triển duy trì sự bền vững. Du lịch và văn
hóa có những mối tƣơng tác qua lại với nhau chúng đƣợc thể hiện nhƣ sau:
Sự tương tác giữa văn hóa và du lịch
- Các sản phẩm văn hóa khi phục vụ nhu cầu đƣợc làm vui và thỏa
mãn du khách qua việc mua sắm.
- Thỏa mãn nhu cầu của du khách về tinh thần, văn hóa giao tiếp
của con ngƣời bản địa.
- Nền nông nghiệp của một nƣớc.
- Hệ thống giáo dục của đất nƣớc đến du khách.
- Các thành tựu về khoa học kỹ thuật tiên tiến.
- Ngôn ngữ quốc gia đến các du khách quốc tế.
- Hoạt động khí hậu của một quốc gia với du khách.
- Tôn giáo và tín ngƣỡng của một quốc gia.
Sự tương tác giữa ảnh hướng từ du lịch vào văn hóa
- Có thể xâm hại với văn hóa bản địa của một quốc gia
- Có thể do lợi ích trƣớc mắt mà ngƣời ta trình diễn văn hóa nghệ
thuật sai lệch với ý nghĩa văn hóa.
- Do sự thiếu nhiều hiểu biết, văn hóa bị thƣơng mại hóa, kinh
doanh các sản phẩm văn hóa từ các loại hình du lịch.
- Do lợi nhuận dẫn đến sản xuất sản phẩm du lịch hàng loạt, làm cho
du khách nhàm chán và không thích sử dụng chúng.

thƣờng là: tổ chức chính trị; Tổ chức chính trị - xã hội; Tổ chức tôn; Tổ chức
kinh tế; Tổ chức văn hoá, thể thao vv.).
“Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân
kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan đến du lịch” [14, tr. 15].
Hoạt động du lịch còn bao gồm cả việc tham quan vui chơi, nghỉ dƣỡng
của khách du lịch trong thời gian ấn định tại nơi có nhiều cảnh quan và dịch 12
vụ du lịch hấp dẫn. Tại đây du khách có nhu cầu du lịch với mục đích tìm
hiểu, sự khác biệt ở các địa phƣơng khác nơi mình ở, vừa để thỏa mãn nhu
cầu tìm hiểu văn hóa, khám phá thiên nhiên vừa giải trí ở những vùng đất mới
trong thời gian nhất định đó mà không bị lặp đi lặp lại cái mình đã biết.
Tổ chức hoạt động du lịch là việc hƣớng du khách tham gia vào hoạt
động tham quan du lịch đã đƣợc giới thiệu tổng quát trong các chƣơng trình
du lịch ngay từ khi các nhà kinh doanh du lịch, lữ hành thiết kế và chào bán
chƣơng trình đến khách hàng là những cá nhân, tổ chức có nhu cầu đi du lịch.
Trong khoa học du lịch khái niệm “tổ chức” cũng đƣợc sử dụng với cả
hai nghĩa đã đƣa ra trên đây. “Tổ chức” chỉ những đơn vị thực hiện các hoạt
động có liên quan tới ngành dịch vụ du lịch. “Tổ chức” với nghĩa thứ hai đƣợc
sử dụng nhƣ là một quá trình sắp xếp và thực hiện các hoạt động nhƣ: ăn, lƣu
trú, tham quan, hƣớng dẫn… mà những vấn đề này là những hợp phần tạo nên
hoạt động du lịch nói chung.
Với đề tài luận văn “Tổ chức hoạt động tham du lịch tại các di tích thờ
Mẫu trên đại bàn Hà Nội. Nghiên cứu trƣờng hợp Phủ Tây Hồ”, thì khái niệm
về “tổ chức” đƣợc nghiên cứu theo nghĩa thứ hai phản ánh đúng hƣớng và sát
với nội hàm của đề tài.
1.1.1.4. Sản phẩm du lịch và dịch vụ du lịch
Thực hiện tổ chức hoạt động du lịch phải kể đến việc nghiên cứu, thực

Các cơ sở kiến trúc thuộc hệ thống tín ngƣỡng, tôn giáo cũng đều có
những nét đặc trƣng dễ nhận thấy chẳng hạn nhƣ: Thiên chúa giáo thì có kiến
trúc nhà thờ phƣơng tây, thành Hoàng làng thì gắn liền kiến trúc thờ tự là ngôi
Đình, đối với Phật giáo có kiến trúc là các ngôi Chùa… trong khi đó tín
ngƣỡng thờ Mẫu cũng có hệ thống thờ tự khang trang, lộng lẫy trong không
gian thiêng liêng của thiên nhân đạo. Trong đó:
Đền thờ cũng chính là nơi tôn nghiêm, với hệ thống ban thờ đa dạng và
đƣợc sắp xếp theo nguyên tắc thiết chế riêng của tín ngƣỡng thờ Mẫu, thƣờng
các ngôi đền đƣợc quản lý theo quy mô của cấp nhà nƣớc.
Đền thờ: “là một nơi thờ nhiều nhà thờ, ban thờ điện thờ khác nhau là
công trình kiến trúc tín ngưỡng" [11, tr.92]. 14
Phủ thờ: “Khái niệm trong dân gian ở nước ta được hiểu khác rộng rãi:
Phủ là một cõi (cõi trời, cõi đất, cõi nước). Phủ là một nơi thờ gồm nhiều nhà
thờ, nhiều điện. Phủ có thể thờ ở một ban, một cái tĩnh ở trong nhà, phủ có
thể là một khu kiến trúc tín ngưỡng” [11, tr.278].
Hơn nƣớc Phủ là nơi di tích từ xƣa các vị thánh Mẫu đã giáng trần hiển
linh giúp dân cứu độ muôn loài. Thƣờng thì trong các phủ thờ chính là Mẫu
Liễu Hạnh và Tam tòa thánh Mẫu nhƣ có phủ Tiên Hƣơng (Nam Định), phủ
Văn Cát (Nam Định), phủ Nấp (Nam Định), phủ Tây Hồ (Hà Nội), cấp quản
lý là cơ quan nhà nƣớc.
Miếu thờ cũng nơi tu cấp lập thờ nhân vật lịch sử, thánh Mẫu Tam tòa Tứ
phủ công đồng,và các bị thần linh khác của tín ngƣỡng Mẫu. Miếu thƣờng do
cấp quản lý của địa phƣơng, dân gian thƣờng gọi là miếu làng.
Điện thờ là loại hình kiến trúc tín ngƣỡng cấp độ và phạm vi nhỏ hơn
thƣờng đƣợc xây dựng theo tƣ nhân, riêng biệt của một cá nhân hay một
nhóm ngƣời hƣng công xây dựng và chăm nom tu cấp tôn thờ thánh Mẫu và
hệ thống thần linh tín ngƣỡng Tứ phủ và Tam phủ. Cấp quản lý hoàn toàn là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status