Quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng từ thực tiễn tỉnh ninh thuận - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG THỊ PHẤN

QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
TỪ THỰC TIỄN TỈNH NINH THUẬN
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. PHẠM HỮU NGHỊ

HÀ NỘI – 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
Thạc sĩ Công tác xã hội về “Quản lý Công tác xã hội đối với Người có công
với cách mạng từ thực tiễn tỉnh Ninh Thuận” là hoàn toàn trung thực và
không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này./.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

ĐẶNG THỊ PHẤN


......................................................................................................................... 66
3.5. Giải pháp về ra các quyết định trong việc hỗ trợ ..................................... 68
3.6. Giải pháp về lưu trữ sổ sách hồ sơ, lập các báo cáo ................................ 69
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 75


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NCCVCM

Người có công với cách mạng

BHYT

Bảo hiểm y tế

CTXH

Công tác xã hội

UBND

Ủy ban nhân dân

LĐ - TB và XH

Lao động - Thương binh và Xã hội

PL – UBTVQH


55

NCCVCM của nhân viên CTXH
Bảng 2.6. Độ tuổi của Nhân viên CTXH

58

Biểu đồ 2.1. Tần suất khám chữa bệnh của NCCVCM

35

Biểu đồ 2.2. Thu nhập ngoài trợ cấp ưu đãi của NCCVCM

39

Biểu đồ 2.3. Những khó khăn gia đình NCCVCM đang gặp phải

41

Biểu đồ 2.4. Mục đích của Hoạch định/lập Kế hoạch

52

Biểu đồ 2.5. Hiệu quả của Hoạch định

53

Biểu đồ 2.6. So sánh mức độ hiểu biết về đặc trưng cơ bản của tổ chức

54

biết bao nhiêu người con Ninh Thuận đã hy sinh xương máu, cống hiến cuộc đời
mình cho sự nghiệp cách mạng. Theo tiếng gọi của non sông, họ đã phải bỏ lại gia
đình, vợ con, quê hương để tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Họ đã không ngại

1


gian khổ, mất mát, đóng góp một phần sức của sức người giành lại độc lập tự do
cho nhân dân.
Những năm gần đây, Đảng, Nhà nước quan tâm ban hành nhiều Nghị quyết,
nhiều văn bản pháp luật về chính sách ưu đãi đối với Người có công và thực hiện
chính sách ưu đãi đối với Người có công. Vào những dịp Lễ, Tết, ngày truyền thống
Quân đội nhân dân Việt Nam, những ngày địa phương tổ chức những sự kiện đặc
biệt … NCCVCM được thăm hỏi, tôn vinh. Tuy nhiên, việc tổ chức CTXH đối với
NCCVCM vẫn chưa được quan tâm- nếu không nói là còn bỏ ngỏ.
Nghiên cứu một số hồ sơ chính sách xây dựng để hưởng chế độ của Người
hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày, hồ sơ Bà Mẹ Việt Nam anh hùng… chúng
tôi nhận thấy rằng nếu chúng ta làm tốt CTXH đối với NCCVCM thì việc thực hiện
chính sách đối với họ sẽ trọn vẹn hơn, NCCVCM sẽ không còn cảm giác bị “bỏ
rơi”, “bị quên” sau khi đã đóng góp sức người, sức của cho hai cuộc kháng chiến.
NCCVCM, chính sách đối với NCCVCM có được đưa vào chương trình hoạch
định của các địa phương; công tác tổ chức thực hiện chính sách đối với NCCVCM
có được chuyên môn hóa hay vẫn chỉ là kiêm nhiệm, nhân viên làm công tác thực
hiện chính sách đối với NCCVCM tại các địa phương, các nhà quản lý các địa
phương đã đủ quỹ thời gian quan tâm đến CTXH tại địa phương; nhân sự làm
CTXH tại các địa phương có ổn định hay vẫn còn chấp vá, thiếu tính chuyên
nghiệp; lưu trữ hồ sơ NCCVCM sao cho khi có chính sách mới, chúng ta có thể
thống kê được danh sách, đến tận nhà thân chủ để hướng dẫn làm hồ sơ… đó là
những băn khoăn của những người làm công tác quản lý CTXH như chúng tôi cũng
như những nhà nghiên cứu về CTXH cần định hướng sau này.

quyền địa phương các cấp. Các yếu tố này có thể ảnh hưởng tích cực, giúp thúc đẩy
sự phát triển các hoạt động CTXH một cách sâu rộng và lan tỏa rộng khắp trong
cộng đồng, nhưng ngược lại, các yếu tố này cũng có ảnh hưởng không tốt đến các
hoạt động CTXH, nó kìm hãm sự phát triển cũng như hiệu quả của các hoạt động.
Có nhiều bài viết của nhiều tác giả đăng trên Tạp chí Cộng sản, Trang thông
tin điện tử của Bộ LĐ- TB và XH, Báo Nhân dân Điện tử … tuy nhiên tất cả chủ
yếu đề cập việc thực hiện chính sách, công tác thăm hỏi, kiến nghị tăng mức chi, đề
xuất công tác truyền thông… mà chưa đề cập đến CTXH đối với NCCVCM.
Bài viết “ Còn nhiều việc phải làm trong tổng rà soát việc thực hiện chính sách
ưu đãi đối với người có công” của tác giả Nguyên Vũ nêu rõ: có đối tượng hưởng
3


nhiều loại chế độ chính sách trong khi cán bộ, ban rà soát chưa nắm chắc các chính
sách đối với từng nhóm đối tượng người có công, cho nên việc triển khai tại một số
địa bàn còn chậm và còn lúng túng khi xử lý một số trường hợp cụ thể, giải đáp cho
người dân về chính sách người có công chưa thỏa đáng; trình độ cán bộ phụ trách
công tác thương binh xã hội cấp xã ở một số nơi còn hạn chế; một số nơi cấp ủy,
chính quyền chưa vào cuộc tích cực, mới dừng ở việc ban hành văn bản, khâu kiểm
tra, đôn đốc, chỉ đạo cũng chưa được chú trọng; hoạt động thông tin, tuyên truyền
về cơ bản là tốt song ở một số địa bàn hiệu quả chưa cao. Qua đó tác giả xác định
những nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện, cụ thể là: tiếp tục chỉ đạo tăng cường công
tác tuyên truyền, phổ biến chính sách của Đảng, Nhà nước và kết quả thực hiện
chính sách ưu đãi đối với người có công; thông tin rõ các chế độ chính sách được
thụ hưởng của từng nhóm đối tượng. Tiếp nhận các thông tin phản ánh từ nhân dân,
nhất là những trường hợp trước đây chưa phát hiện hoặc do một lý do khách quan
mà người dân chưa phản ánh về các đối tượng hưởng sai chính sách đối với người
có công.
Bài viết “Tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công với nước hiện
nay và định hướng đến năm 2020” của nguyên Bộ trưởng Bộ LĐ- TB và XH Phạm

NCCVCM trên địa bàn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động quản lý CTXH đối với NCCVCM tại Ninh Thuận.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về đối tượng: đề tài tập trung nghiên cứu 3 hoạt động
của quản lý CTXH là xây dựng chương trình hỗ trợ đối với NCCVCM, tổ chức hoạt
động, tổ chức nhân sự CTXH tại địa phương; nghiên cứu nhu cầu và thực trạng đời
sống NCCVCM, các hoạt động hỗ trợ xã hội đối với NCCVCM để từ đó đề xuất
giải pháp hoàn thiện quản lý CTXH đối với NCCVCM.
- Phạm vi nghiên cứu về khách thể: đề tài nghiên cứu trên 48 NCCVCM tại 7
huyện/thành phố; 40 nhân viên CTXH cấp cơ sở và 20 cán bộ quản lý có liên quan
đến CTXH đối với NCCVCM; 10 cán bộ quản lý có liên quan đến tổ chức, kiểm tra
và quản lý đối với NCCVCM.
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: 7 huyện/thành phố thuộc tỉnh Ninh
Thuận.
5


- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: từ năm 2011 đến tháng 6 năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
- Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: từ những đánh giá thực trạng về
đời sống của NCCVCM, thực trạng của quản lý CTXH đối với NCCVCM ở góc độ
nhân viên CTXH, ở góc độ nhà quản lý CTXH trên địa bàn; rút ra được những lý
luận và đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý CTXH đối với
NCCVCM trên địa bàn.
- Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những lý
thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan như dịch vụ
hỗ trợ của CTXH đối với NCCVCM, hệ thống chính sách ưu đãi đối với

các điều tra viên.
Với phương pháp này, đề tài sẽ phát 118 bảng hỏi dành cho 48 đối tượng là
NCCVCM, 20 cán bộ quản lý CTXH, 40 nhân viên làm CTXH, 10 cán bộ làm công
tác liên quan đến quản lý CTXH (thanh tra, tổ chức, cán bộ phòng Người có công
thuộc Sở) đối với NCCVCM trên địa bàn.. để tìm hiểu, thu thập thông tin chung về
thực trạng quản lý CTXH trên địa bàn, thực trạng CTXH đối với NCCVCM, thực
trạng đời sống của NCCVCM như điều kiện về nhà ở, kinh tế gia đình, các nhu cầu
của NCCVCM …, tìm hiểu về thực trạng hoạt động CTXH đối với NCCVCM trên
địa bàn.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: là một phương pháp thu thập thông tin xã hội
học thông qua việc tác động tâm lý học xã hội trực tiếp giữa người đi phỏng vấn và
người được phỏng vấn trên cơ sở mục tiêu của đề tài nghiên cứu. Ở đề tài này, tác giả
phỏng vấn thêm qua điện thoại trường hợp NCCVCM cần làm rõ thêm về điều kiện
sống, nhà ở, tình trạng sức khỏe; phỏng vấn qua điện thoại các anh chị làm công tác
quản lý CTXH tại các huyện/thành phố để tìm hiểu thêm mức sống của NCCVCM,
mức độ quan tâm và tính chuyên nghiệp của nhân viên CTXH và tổ chức thực hiện
công tác quản lý CTXH đối với NCCVCM trên địa bàn.
Tác giả sử dụng phương pháp này với mục đích nhằm tìm hiểu, thu thập thông
tin chuyên sâu về thực trạng quản lý CTXH đối với NCCVCM; thực trạng hoạt
7


động CTXH đối với NCCVCM trên địa bàn cũng như việc triển khai thực hiện
chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với NCCVCM.
- Phương pháp quan sát: là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu xã
hội học thực nghiệm thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập các thông tin
từ thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Trong đề tài này tác giả sử dụng phương pháp này nhằm thu thập, bổ sung
thông tin còn thiếu và kiểm tra đối chiếu, so sánh các thông tin từ việc quan sát để
đánh giá độ tin cậy của các thông tin thông qua việc quan sát bối cảnh sống, thái độ,

thiết và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện tính nhân văn sâu sắc. Quá trình tổ
chức, thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, bất cập ở địa phương. Với luận văn này,
tôi mong muốn sẽ cung cấp những thông tin cụ thể về thực trạng quản lý CTXH đối
với NCCVCM trên địa bàn; gợi mở một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hơn nữa
CTXH đối với NCCVCM. Đồng thời, cũng như là một thông điệp hướng sự quan
tâm và chung tay góp sức của cộng đồng, của các Hội Đoàn thể ở địa phương để
cùng thực hiện có hiệu quả hơn quản lý CTXH cho NCCVCM.
Giúp cho nhân viên CTXH nói riêng và các ngành khác nói chung hiểu biết
thêm về các chính sách, chế độ ưu đãi, các dịch vụ hỗ trợ của CTXH đối với
NCCVCM, hiểu về công tác hoạch định, tổ chức quản lý, tổ chức nhân sự, cách
thức ra quyết định và công tác lưu trữ, bảo quản hồ sơ, dữ liệu; về tổ chức quản lý
ca của nhân viên CTXH đối với NCCVCM.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
đề tài gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận của quản lý công tác xã hội đối với Người
có công với cách mạng.
Chương 2. Thực trạng quản lý công tác xã hội đối với Người có công tại tỉnh
Ninh Thuận.
Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác xã hội đối với
Người có công với cách mạng từ thực tiễn tỉnh Ninh Thuận.

9


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI
VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Người có công với cách mạng:

các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội..
CTXH đối với NCCVCM là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp
NCCVCM và thân nhân của họ, cộng đồng nơi họ sinh sống nâng cao năng lực đáp
ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội; tìm kiếm, biện hộ và kết nối họ với
các nguồn lực hỗ trợ về vật chất, tham vấn tâm lý cho NCCVCM khủng hoảng tinh
thần, tổ chức kết nối giao lưu giữa NCCVCM với các tổ chức xã hội, với đồng đội
nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần, đồng thời góp phần hoàn thiện chính sách ưu đãi
xã hội cũng như truyền thông đẩy mạnh xã hội hóa công tác chăm sóc, tôn vinh
NCCVCM.
1.1.3. Khái niệm, đặc điểm của quản lý công tác xã hội đối với người có
công với cách mạng
Khái niệm quản lý và quản lý công tác xã hội đối với người có công với
cách mạng
Về thuật ngữ quản trị và quản lý: Rino J. Patti sử dụng hai thuật ngữ quản trị
và quản lý như nhau. Ông ta lưu ý rằng quản lý được nhân viên xã hội sử dụng ngày
càng nhiều để mô tả công việc mà họ làm. Đã có nhiều cố gắng phân biệt hai thuật
ngữ nhưng những khác biệt này không được chấp nhận hoàn toàn. Do vậy trong
Luận văn này có thể hiểu quản trị là quản lý.
Quản lý là những hoạt động cần thiết được thực hiện khi con người kết hợp
với nhau trong các tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung.
Các hoạt động quản lý không những phát sinh khi con người kết hợp thành tổ
chức, mà còn cần thiết, bởi vì nếu không có những hoạt động quản lý thì trong tổ
chức sẽ dẫn tới tình trạng mạnh ai nấy làm, lộn xộn theo kiểu "trống đánh xuôi, kèn
thổi ngược". Ví như 2 người cùng khiêng một khúc gỗ hay cùng bơi một chiếc
thuyền, thay vì hai người cùng bước hay cùng đưa mái chèo về cùng một hướng thì
mỗi người lại bước hay đưa đẩy mái chèo về mỗi hướng khác nhau. Những hoạt
động khiến hai người cùng bước hay đẩy mái chèo về cùng một hướng là những
hoạt động quản lý.
11



12


Đặc điểm 2. Sử dụng triết lý, mục đích và các chức năng của CTXH, các
phương pháp chẩn đoán xã hội, phân tích và tổng hợp các nhu cầu của cá nhân,
nhóm hay cộng đồng, và sử dụng việc tổng quát hóa nhằm thay đổi và phát triển các
mục đích và chức năng của cơ sở.
CTXH sử dụng triết lý con người là mối quan tâm hàng đầu của xã hội; giữa
cá nhân và xã hội có sự phụ thuộc tương hỗ; cá nhân và xã hội phải có trách nhiệm
với nhau; mỗi người cần được phát huy tiềm năng của mình và thực hiện nhiệm vụ
của mình đối với xã hội thông qua sự tích cực tham gia và xã hội có trách nhiệm tạo
điều kiện để cá nhân khắc phục trở ngại, phát huy tiềm năng bởi chính những trở
ngại đó làm mất cân bằng trong quan hệ cá nhân và môi trường xã hội. Vậy thì đối
với NCCVCM để các cô, các chú, các mẹ …vượt qua nỗi đau chia cắt, phân ly,
CTXH giúp NCCVCM vượt qua nỗi đau, phát huy tiềm năng, tham gia đóng góp
cho xã hội, cho cộng đồng và cộng đồng xã hội tạo điều kiện về chính sách vay vốn,
hỗ trợ nhà ở, phát triển sản xuất… giúp NCCVCM khẳng định được mình, đưa ra
quyết định thay đổi thái độ đối với cuộc sống.
CTXH với mục đích hướng tới tạo ra “thay đổi” tích cực trong xã hội, nhằm
nâng cao chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người đặc biệt là những nhóm người
yếu thế, NCCVCM. CTXH thúc đẩy sự biến đổi xã hội, tăng cường các mối tương
tác hài hoà giữa cá nhân, gia đình và xã hội hướng tới tiến bộ và công bằng xã hội.
Với các chức năng phục hồi, phòng ngừa, phát triển và biến đổi nhằm mục đích đưa
NCCVCM về trạng thái bình thường yêu con người, yêu hòa bình, yêu quê hương
đất nước, chia sẻ với khó khăn chung của đất nước, của ngân sách quốc gia, giúp
NCCVCM sử dụng tối đa tiềm năng và năng lực của mình đồng thời tăng cường
hiệu quả các nguồn lực xã hội của cộng đồng sẵn có.
Đặc điểm 3. Trọng tâm chủ yếu là tiến trình giúp đỡ cá nhân, nhóm và cộng
đồng. Đó là quá trình đánh giá xác định vấn đề mà NCCVCM đang gặp phải, phân

Mẹ Việt Nam anh hùng, dù chồng con hy sinh đã lâu, vẫn nghĩ chồng con
mình mới ra đi, vẫn còn sống đâu đó trên đất nước này, tâm trạng vừa cười móm
mém, tràn đầy hy vọng rồi sau đó lại khóc ngất khi thấy mọi người đến thăm nhân
các ngày Lễ, Tết; có mẹ vẫn còn đọc thơ khi tiễn chồng con ra đi mỗi khi có đoàn
đến thăm, thương vô cùng.

14


Thương binh- đặc biệt là thương binh nặng, thương binh có vết thương đặc
biệt nặng, mặc dù trợ cấp ưu đãi nhận được hiện nay có thể trang trải chi phí sinh
hoạt hàng ngày nhưng những sang chấn tâm lý trong chiến tranh, vết thương tái
phát khi trái gió trở trời vẫn cần có sự giúp đỡ của nhân viên CTXH, sự can thiệp
chăm sóc sức khỏe, y tế, cần có sự hỗ trợ theo Chương trình hoạch định cụ thể…
Có thể nói rằng, NCCVCM không chỉ cần trợ cấp ưu đãi hàng tháng, mà
CTXH đối với NCCVCM nên tạo điều kiện để họ có thể hòa nhập cộng đồng, tạo
điều kiện để họ ổn định cuộc sống, ổn định tâm lý và tham gia các hoạt động xã hội.
Muốn vậy ở góc độ nhân viên CTXH phải tổ chức quản lý trường hợp cho từng
trường hợp NCCVCM và thân nhân của họ. Bên cạnh đó, để công tác hỗ trợ
NCCVCM được ổn định, đưa vào chương trình hoạt động chung, Nhà quản lý CTXH
cần chỉ đạo tốt công tác xây dựng chương trình hỗ trợ NCCVCM, làm tốt công tác tổ
chức quản lý CTXH, quản lý nhân sự .. CTXH đối với NCCVCM. Và tiếp cận ở góc
độ quản lý CTXH là chuyển chính sách thành dịch vụ cụ thể thì đây là nhu cầu cấp
thiết của NCCVCM ở nước ta nói chung và tại tỉnh Ninh Thuận nói riêng.
1.3. Nội dung quản lý công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng
Quản lý CTXH là một tiến trình hành động liên tục của nhân viên xã hội
trong việc sử dụng các kiến thức, kỹ năng quản lý để chuyển đổi các chính sách xã
hội thành các dịch vụ xã hội sao cho các chính sách xã hội đó có ý nghĩa và hiệu
quả, tạo nên sự phù hợp của chính sách xã hội với nhu cầu thực tiễn của người dân
trong cộng đồng. Nó bao gồm hoạt động của những người lãnh đạo tổ chức và tất cả

"chức năng hoạch định bao gồm những hoạt động quản lý nhằm xác định mục tiêu
trong tương lai và những phương tiện thích hợp để đạt tới các mục tiêu đó. Kết quả
của chức năng hoạch định là một bản Kế hoạch, một văn bản xác định những
phương hướng hành động mà đơn vị sẽ thực hiện".
Xây dựng chương trình hỗ trợ CTXH đối với NCCVCM nhằm mục tiêu nâng
cao mức sống vật chất và tinh thần cho NCCVCM, là việc nhân viên CTXH trên cơ
sở điều kiện đặc điểm tự nhiên, hoàn cảnh sống, tình trạng sức khỏe, tâm lý của
NCCVCM, trên cơ sở nguồn lực của Nhà nước, của cộng đồng, năng lực của
NCCVCM để phân tích vấn đề, đưa ra phương án giải quyết phù hợp nhằm đạt
được hiệu quả tốt nhất, đồng thời thực hiện được mục tiêu của tổ chức.
Bảy bước đi và các hoạt động liên quan có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong
xây dựng chương trình hỗ trợ CTXH đối với NCCVCM. Đó là:
16


- Chọn lọc mục tiêu: Nâng cao mức sống vật chất và tinh thần cho
NCCVCM, tạo động lực cho NCCVCM để họ có thể cùng với nguồn lực hỗ trợ của
Nhà nước, của xã hội, vươn lên làm chủ cuộc sống, không trông chờ ỷ lại vào sự trợ
giúp của cộng đồng;
- Xem xét các tài nguyên cơ sở: nguồn trợ cấp ưu đãi, các nguồn lực khác
(nhân viên CTXH, mối quan hệ gia đình, cộng đồng, công tác huy động các quỹ của
địa phương, các quy định có liên quan đến NCCVCM của địa phương, của Trung
ương.. );
- Liệt kê các phương án: đối với từng trường hợp cụ thể sử dụng phương án
nào là phù hợp. Ví dụ: nhà ở NCCVCM còn tạm bợ, thiếu kiên cố, cần ưu tiên xây
mới; các hộ gia đình NCCVCM có điều kiện làm kinh tế nên có phương án hỗ trợ
vay vốn; gia đình NCCVCM có người bị khuyết tật, bị nhiễm chất độc hóa học cần
hỗ trợ về mặt y tế, điều dưỡng có thể kết nối với nguồn lực nào?
- Dự báo thành quả của mỗi phương án: dự kiến sẽ xây bao nhiêu nhà cho
NCCVCM từ nguồn tài trợ của ngân sách, từ nguồn huy động cộng đồng, Doanh

Cấu trúc của cơ sở

-

Tiến trình làm cho cơ sở được/trở thành có tổ chức
Theo Barnard: Tổ chức hình thành khi con người giao tiếp với người khác và

mong muốn hành động vì mục đích chung
Những yếu tố của một tổ chức (theo Barnard):
-

Sự giao tiếp (thông đạt, truyền thông)

-

Quyết tâm phục vụ

-

Vì một mục đích chung
Định nghĩa về tổ chức là một việc phức tạp. Hầu như mỗi nhà nghiên cứu

về quản lý đều đưa ra những định nghĩa của riêng mình dựa theo các lý thuyết tiếp
cận khác nhau.
"Tổ chức" theo từ gốc Hy Lạp nghĩa là "hài hoà", từ "tổ chức" nói lên một
quan điểm rất tổng quát "đó là cái đem lại bản chất thích nghi với sự sống".
Theo Chester I. Barnard thì tổ chức là một hệ thống những hoạt động hay nỗ
lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức.
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ thì "tổ chức" có các nghĩa sau đây:
- Làm cho thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, một cấu trúc và những chức

Hồ Chí Minh, cơ quan LĐ- TB và XH, UBND các cấp trong việc giải quyết hồ sơ
hưởng trợ cấp ưu đãi, tổ chức thăm hỏi, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần cho
NCCVCM, tạo động lực, giúp NCCVCM bằng nội lực của mình tự vươn lên, nâng
cao mức sống vật chất và tinh thần, cùng cộng đồng nơi sinh sống quyết định các
vấn đề có liên quan của chính họ và của cộng đồng.

19


1.3.3. Tổ chức công tác nhân sự trong công tác xã hội đối với Người có
công với cách mạng
Công tác nhân sự là một tiến trình quản lý quan trọng bao gồm tìm được
nhân sự, duy trì và làm việc với nhân viên và kết thúc công việc của họ khi cần
thiết. Sự hiệu quả và kết quả hoạt động của một cơ sở có liên quan trực tiếp với
nhân sự. Tổ chức nhân sự trong CTXH đối với NCCVCM đó là tiến trình tuyển
chọn nhân viên CTXH tốt nghiệp ngành nghề phù hợp qua thi tuyển hoặc xét tuyển,
kiểm huấn nhân viên CTXH, đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng các nghiệp vụ về thủ
tục hồ sơ trong giải quyết chính sách ưu đãi đối với NCCVCM, các nguồn lực của
cơ sở, nguồn lực có thể kết nối trong thực hiện CTXH đối với NCCVCM, vận dụng
các kỹ năng của CTXH để làm việc với thân chủ là NCCVCM, trên cơ sở đó đánh
giá hiệu quả công việc, hiệu quả quản lý CTXH của cá nhân, của cơ sở.
Mỗi cơ sở thường có chính sách nhân sự và phương thức tuyển chọn riêng.
Việc này trước hết bao gồm soạn một bảng mô tả công việc sau khi đã phân tích
công việc. Ray Johns cho rằng một bản mô tả công việc bao gồm:
Mô tả vị trí công việc, vị trí gì và chịu trách nhiệm với ai;
Nhiệm vụ và trách nhiệm;
Yêu cầu về năng lực chuyên môn; và
Các mối quan hệ
Tiến trình chủ yếu của công tác nhân sự bao gồm: Tuyển mộ; Tuyển chọn;
Bổ nhiệm; Định hướng; Thăng thưởng; Đánh giá; Chấm dứt công việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status