BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG TRÌNH KX.02/06-10 ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP NHÀ NƯỚC
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ
PHÁT TRIỂN XÃ HỘI ĐỐI VỚI CÁC VÙNG DÂN TỘC
THIỂU SỐ TÂY BẮC, TÂY NGUYÊN, TÂY NAM BỘ -
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
(Mã số: KX.02.10/06-10)
BÁO CÁO
TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chủ nhiệm: TS Doãn Hùng
Cơ quan chủ trì đề tài: Học viện CT-HC Khu vực I
8165
HÀ NỘI – 2010 LỰC LƯỢNG CHÍNH THAM GIA ĐỀ TÀI
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghiên cứu về chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở
các vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ là một nhu cầu
khoa học cấp thiết đồng thời là đòi hỏi thực tiễn bức xúc, được chế định bởi
mấy lý do sau đây:
Một, Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ là nơi tụ cư xen cài giữa dân
t
ộc đa số (Kinh) với các dân tộc thiểu số, giữa dân tộc thiểu số này với dân
tộc thiểu số khác. Thực tế, đây là vùng đa tộc người. Nếu như phát triển xã
hội và quản lý phát triển xã hội ở vùng đơn tộc người đã khó thì phát triển xã
hội và quản lý phát triển xã hội ở vùng đa tộc người càng khó và phức tạp bội
phần, do mỗi tộc ngườ
i có đặc điểm riêng về văn hoá, phong tục, tập quán,
trình độ phát triển, nếp nghĩ, cách làm, không gian sinh tồn,… cùng vô vàn
các yếu tố khác chi phối. Đây là lý do thứ nhất quy định tính đặc thù trong
chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở vùng đa tộc người
mà cần phải có những nghiên cứu thấu đáo.
Hai, vùng dân tộc thiểu số có nhiều tiềm năng về khoáng sản, lâm sản,
trồng cây công nghiệp, cây d
ược liệu, thủy điện, du lịch lịch sử - văn hoá…
nhưng tiềm năng ấy chưa được khai thác có hiệu quả, thiếu tính bền vững. Sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá càng được đẩy tới thì nền kinh tế tế
đang được cơ cấu lại và theo đó làm thay đổi “đột ngột” kết cấu xã hội, đòi
hỏi việc hoạch
định, thực thi chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển
xã hội phải cân nhắc kỹ lưỡng cả yêu cầu bảo tồn giá trị truyền thống và phát
triển, đặc biệt đối với các khu vực tái định cư thuộc công trình thủy điện (Sơn
La, Than Uyên, Na Hang, Sê San…). Trong trường hợp như vậy, nếu áp đặt
năm 2004 với cái âm mưu thành lập “Nhà nước Đề ga” cũng như tình hình
phức tạp của khu vực người H’Mông ở Tây Bắc, người Khơme ở Nam Bộ,…
đang đặt ra những thách thức to lớn đối với Đảng và Nhà nước ta trong những
năm trước mắt và cả chiến lược phát triển lâu dài. Đây là lý do thứ tư đòi hỏi
cần xác
định những phương thức đặc thù về phát triển xã hội và quản lý phát
triển xã hội ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ.
Năm, Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ có đường biên giới hàng
ngàn km tiếp giáp với Trung Quốc, Lào, Campuchia. Do đó, đây là “phên dậu
quốc gia”, có tầm quan trọng đặc biệt trên phương diện địa - chính trị, đảm
bảo an ninh chủ quyền biên giới, giữ vững và thúc đẩy quan hệ hữu nghị
truyền thố
ng với các nước láng giềng. Nơi đây đang xuất hiện những xu
hướng tích cực như thúc đẩy giao thương kinh tế, giao lưu văn hoá và mở
rộng đối ngoại nhân dân, nhất là hình thành các khu kinh tế cửa khẩu với sự
hợp tác chặt chẽ giữa các nước có chung đường biên giới. Bên cạnh đó cũng
nảy sinh hàng loạt vấn đề phức tạp như di dân xuyên quốc gia, buôn lậu hàng
hoá, buôn bán ma tuý, buôn bán người, kiể
m dịch động - thực vật,… Nhưng
5
nổi cộm nhất vẫn là vấn đề bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới với tính phức
tạp của nó, có phần do di tồn lịch sử, có phần mới nảy sinh do sự chi phối bởi
động thái chính trị - xã hội phức tạp của các quốc gia láng giềng. Đó là lý do
thứ năm đòi hỏi phải tính toán những đặc thù của chính sách phát triển xã hội
và quản lý phát triển xã hội ở
vùng biên giới, đóng góp luận cứ khoa học vào
hoạch định chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia trong tình hình mới.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
a. Nghiên cứu của người nước ngoài
Maspéro, mà kết quả nghiên cứu của họ đã được công bố trên Tập san của
Trường Viễn đông Bác cổ (BEFEO), Tập san Hội nghiên cứu Đông Dương
(BSEI), Tập san Pháp Á (FA) hoặc xuất bản thành chuyên khảo. Gần đây
có nghiên cứu của Donovan D., Rambo T.A, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức
Viên: “Những xu hướng phát triển ở vùng núi phía Bắc Việt Nam’’ [1997] với
việc xem xét cụ thể mỗi cộng đồ
ng tộc người gắn với hệ sinh thái tộc người
(rẻo cao, rẻo giữa, thung lũng) và từ đó chi phối đến đặc trưng văn hoá mà
mỗi chính sách phát triển xã hội tộc người cần phải tính toán đầy đủ. Furuta
Mooto (Nhật Bản) với Luận án tiến sĩ “Chính sách dân tộc của Đảng Cộng
sản Việt Nam” (Luận án Tiến sĩ) [1989] không chỉ quan tâm đến đặc điể
m
nhân chủng, văn hoá tộc người, mà hướng trọng tâm nghiên cứu thể chế,
chính sách phát triển xã hội tộc người và quản lý phát triển tộc người của
Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Ba là: Những nghiên cứu chuyên biệt về từng tộc người thiểu số ở cả 3
vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Bên cạnh những tên tuổi thời
thuộc địa như P. Guileminet, P.B. Lafont, Tơ lơi Djuat, J. Cuisiner, thì gần
đây có Gerald Hicke (Mỹ), Oscar Salemink (Hà Lan), Patricia Pelly (Mỹ
),
với một số nghiên cứu về các tộc người thiểu số ở Việt Nam, đặc biệt là Tây
Nguyên. Các công trình nêu trên chủ yếu nghiên cứu dưới giác độ nhân học,
rồi từ đó đề cập đến chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với phát
triển xã hội tộc người và quản lý phát triển xã hội tộc người. Một số tổ chức
phi chính phủ trong quá trình tài trợ cho các ch
ương trình, dự án xoá đói
giảm nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái, cải cách hành chính, ở vùng dân
tộc thiểu số nước ta, đã có các nghiên cứu cũng như báo cáo đánh giá. iêu
biểu cho nhóm nghiên cứu này là công trình của Công ty ADUKI Pty Ltd với
“Poverty in Vietnam” (“Vấn đề nghèo đói ở Việt Nam”) [1995]; hoặc các báo
a cơ chế thị
trường, của toàn cầu hoá, có nguy cơ phân rã các kết cấu xã hội truyền thống.
Do vậy, những nghiên cứu về vùng văn hoá thường đặt ra yêu cầu bảo tồn,
lưu giữ giá trị truyền thống trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã
hội. Tiêu biểu cho những nghiên cứu này là chuyên khảo của Ngô Đức Thịnh:
“Văn hoá, văn hoá tộc người và văn hoá Việt Nam” [2006]; củ
a Phan Hữu
Dật, Ngô Văn Thịnh, Lê Ngọc Thắng: “Sắc thái văn hoá địa phương và tộc
người trong chiến lược phát triển đất nước” [1999], các công trình của Trần
Văn Bính (chủ biên) [2004, 2005] về văn hóa Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây
Nam Bộ, của Trần Hồng Liên về văn hóa người Hoa ở Tây Nam Bộ [2005].
Dưới góc độ kinh tế vùng gắn với quy hoạch phát triển các vùng lãnh thổ có
các công trình của Viện Chiến lược phát triển [2004], c
ủa Nguyễn Xuân Thu
– Nguyễn Văn Phú (đồng chủ biên) [2006], Ngô Doãn Vịnh [1998].
Hai là:
Nghiên cứu về chính sách xã hội nói chung, trong đó có đề cập
đến chính sách phát triển xã hội đối với vùng dân tộc thiểu số.
8
Đáng chú ý là nghiên cứu của Doãn Hùng (chủ nhiệm): Đảng lãnh đạo
thực hiện chính sách xã hội trong thời kỳ đổi mới [1999]; của Phạm Xuân Nam
(chủ biên): “Đổi mới chính sách xã hội - Luận cứ và giải pháp” [1997]; của
của Đặng Cảnh Khanh: “Gia đình trẻ em và sự kế thừa các giá trị truyền thống”
[2003]; của Lê Thị Quý: “Bình đẳng giới trong phát triển vùng đa dân tộc miền
núi’’ [2005]. Điể
m đáng ghi nhận trong những nghiên cứu này là các vùng
Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ luôn được xem là những nơi khó khăn
nhất nên được đề cập với tư cách những địa bàn đặc thù trong thực thi các
chính sách xã hội như xoá đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, giáo dục – đào
9
ghép giữa thiết chế quản lý quan phương với phi quan phương, nhất là ở hệ
thống chính trị cấp cơ sở, để nâng cao hơn năng lực và hiệu quả quản lý.
Bốn là:
Nghiên cứu các yếu tố “động” của đối tượng và chủ thể quản lý
phát triển xã hội vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ.
Yếu tố “động” trong quản lý xã hội chính là con người, gồm cả con
người với tư cách đối tượng quản lý và con người với tư cách là chủ thể quản
lý. Con người với cách là chủ thể quản lý xã hội vùng dân tộc thiểu số rất
đượ
c đặc biệt coi trọng, nhất là cán bộ, trí thức, già làng, trưởng bản. Thuộc
loại nghiên cứu này có công trình của Lê Hữu Nghĩa (chủ biên) [2001]; của
Lê Phương Thảo, Nguyễn Cúc, Doãn Hùng [2005]; của Doãn Hùng (chủ
nhiệm) [2004]; của Nguyễn Ngọc Hà (chủ nhiệm) [2005]; của Trịnh Quang
Cảnh [2005]; của Chu Thái Sơn [1997] Nhiều nghiên cứu đặt vấn đề hiệu
quả quản lý phát triển xã hội ở vùng dân tộc thiểu số vớ
i yêu cầu đan xen, kết
hợp giữa thiết chế quan phương và phi quan phương, giữa tri thức địa
phương và tri thức khoa học, giữa luật tục và luật pháp, giữa đơn vị hành
chính lãnh thổ và đơn vị dân cư (buôn/ làng). Đây là những hướng tiếp cận rất
được quan tâm trong sự phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở các
vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ.
Năm là:
Nghiên cứu quan hệ tộc người, các “điểm nóng” chính trị - xã hội
ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và những vấn đề đặt ra trong đổi mới
CSPTXH và QLPTXH vùng đa dân tộc.
Nhóm nghiên cứu này rất phong phú, đa dạng, với cả chuyên khảo và bài
viết công bố trên tạp chí, đáng chú ý là các công trình của Phan Hữu Dật [2001],
của Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên) [2006], của Trương Minh Dục [2005], của
Nguyễn Văn Huy, Lê Duy Đại [1999], củ
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
a. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề
tài là chính sách quản lý và phát triển xã
hội tộc người ở cấp độ vùng, được xem xét cụ thể trong trường hợp của Tây
Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ.
b. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
- Về mặt thời gian:
Đề tài tổng kết chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng công cuộc đổi mới hiện nay,
chủ yếu tập trung tổ
ng kết từ năm 2000.
- Về không gian:
Tên đề tài đã giới hạn địa bàn nghiên cứu là các vùng Tây Bắc, Tây
Nguyên và Tây Nam Bộ. Số liệu thống kê, điều tra chủ yếu dựa theo vùng
kinh tế theo sự phân định của Tổng cục Thống kê hiện nay. Tuy nhiên, trong
11
quá trình phân tích, đánh giá định tính đối với từng tình huống cụ thể đề tài
còn kết hợp với sử dụng các quan niệm vùng văn hoá, vùng sinh thái, vùng
địa lý, vùng ký ức – lịch sử… mà nhiều khi không đồng nhất với cách phân
định của Tổng cục Thống kê.
- Về mặt nội dung:
Đây là một đề tài đặc thù thuộc Chương trình KX.02/06-10 tiếp cận
phương diện xã hội theo cơ cấu dân tộc, được qu
ản lý ở cấp độ vùng. Vì vậy,
chính sách quản lý và phát triển xã hội các vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc,
Tây Nguyên và Tây Nam Bộ được giới hạn ở những nội dung sau:
Về mặt chủ thể quản lý: Bao gồm cả Trung ương và địa phương, cả hệ
thống quản lý nhà nước và quản lý phi nhà nước.
b. Cách tiếp cận.
- Tiếp cận khu vực học (areas studies) là phương pháp nghiên cứu liên
ngành giữa lịch sử, dân tộc họ
c, xã hội học, văn hoá học, nhân học thể chất
(Physical Anthropology), nhân trắc học (Anthro-metrics), nhân học xã hội,
nhân học văn hoá, chính trị học, hành chính học, kinh tế học, sinh thái học
nhân văn, tâm lý học tộc người, lịch sử di dân, quan hệ quốc tế, khoa học
vùng (regional science), địa kinh tế học mới (New Economic Geography), qui
hoạch phát triển vĩ mô…v.v.
- Tiếp cận liên vùng sử dụng cả nghiên cứu quá trình tộc người trong
quá khứ và nhữ
ng vấn đề của đời sống đương đại, để thấy những giao thoa lẫn
nhau giữa các vùng lãnh thổ mà cư dân các tộc người cư trú (thậm chí với cả
các vùng giáp ranh của các nước láng giềng (Lào, Campuchia, Nam Trung
Quốc).
- Tiếp cận liên cấp đòi hỏi phải xem xét ở cả 3 cấp độ vĩ mô, trung mô
và vi mô, đồng thời có sự đan xen, tác động qua lại lẫn nhau giữa các cấp
quản lý trong ho
ạch định các chính sách phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân
tộc thiểu số.
- Tiếp cận nội sinh kết hợp ngoại sinh với yêu cầu xem xét đầy đủ cả
yếu tố bên trong và các tác nhân bên ngoài, mà vấn đề cơ bản là phải chuyển
hoá được các nguồn lực bên ngoài biến thành năng lực nội sinh bên trong của
cộng đồng cư dân ở vùng dân tộc thiểu số.
- Tiếp cận tham gia đòi h
ỏi phải xem xét các DTTS không chỉ là đối
tượng thụ hưởng kết quả nghiên cứu, mà còn phải được tham dự vào quá
trình nghiên cứu để họ có điều kiện phản ánh nhu cầu, lợi ích của mình trong
mỗi giải pháp phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội.
c. Phương pháp nghiên cứu.
14
PHẦN THỨ NHẤT
Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về hoạch
định và thực thi chính sách phát triển xã hội và
quản lý phát triển xã hội vùng tộc người thiểu số
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ
QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÙNG TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ
I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ.
1. Quan niệm về tộc người, tộc người thiểu số và tộc người bản địa
trong quốc gia đa tộc người.
Tộc người (ethnic) - theo thuật ngữ thường dùng - là một cộng đồng
người được hình thành trong lịch sử trên một lãnh thổ nhất định, cùng có
chung đặc điểm tương đối bền vững về ngôn ngữ, văn hóa tạo thành một tính
cách tộc người và
đặc biệt là cùng có chung một ý thức tự giác tộc người,
được thể hiện ở tên tự gọi. Một tộc người có thể bao gồm nhiều nhóm địa
phương nhưng không nhất thiết phải có cùng một lãnh thổ, một cộng đồng
sinh hoạt kinh tế; vì vậy, một tộc người có thể ở nhiều quốc gia khác nhau.
tỷ lệ dân số quốc gia. Một tộc người chỉ được xem là thiểu số khi đặt dân số
tộc người đó với tổng dân số cả nước mà không xem xét ở phạm vi vùng hay
địa phương. Bởi vì, một tộc người thiểu số nào đó (của cả nước) nhưng đặt
trong phạm vi một địa ph
ương nhất định có khi lại chiếm đa số, như trường
hợp người Thái ở Sơn La hay người Nùng ở Lạng Sơn. Thuật ngữ “thiểu số”
hay “ít người” cũng đều hàm nghĩa giống nhau, một bên nghĩa Hán - Việt,
còn bên kia là thuần Việt. Tuy nhiên, khi nói “ít người” dễ hiểu lầm với các
tộc người thiểu số có dân số ít (thường dưới 10.000 người), nên thuật ngữ
“thiểu s
ố” ít được sử dụng. Còn nếu gọi “dân tộc thiểu số” ở nước ta thì được
ngầm định là “tộc người thiểu số”, tức 53 tộc người còn lại ngoài người Kinh.
“Sắc tộc thiểu số” trong nhiều trường hợp hay sử dụng thay thế cho thuật
ngữ “tộc người thiểu số”. “Sắc tộc” chỉ đặc trưng màu da của nhóm cư dân -
một dấu hiệ
u phân biệt chủng tộc này với chủng tộc khác. Chủng tộc khác với
tộc người ở chỗ, một bên là một quần thể (hay tập hợp quần thể) có dấu hiệu
đặc trưng bởi di truyền về hình thái - sinh lý mà nguồn gốc và quá trình hình
thành của chúng liên quan đến một vùng địa vực nhất định
1
, còn tộc người là
một cộng đồng cư dân có chung nguồn gốc lịch sử, đặc trưng văn hoá, ngôn
ngữ và ý thức tự giác tộc người. Khái niệm sắc tộc ít được sử dụng vì nó
thường gợi lên sự phân biệt chủng tộc.
Khái niệm “tộc người bản địa” cũng cần phải được làm rõ, vì trong rất
1. Lê Sĩ Giáo (chủ biên), Hoàng Lương, Lâm Bá Nam, Lê Ngọc Thắng: Dân tộc học đại cương,
Nxb Giáo dục, H, 2005, tr. 48.
16
Xét trường hợp Việt Nam, khái niệm “người bản địa” (hay người bản xứ) mới
ra
đời khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, chỉ toàn thể 54 tộc người sinh
sống lâu đời trên đất nước Việt Nam, được phân biệt với người Pháp xâm
lược và thống trị là người phi bản địa (hay kẻ thực dân). Còn khái niệm “tộc
người thiểu số” đã có từ lâu đời trong lịch sử, tiếp tục tồn tại sau quá trình phi
thực dân hoá. Do đó, việc sử dụng khái niệm “tộc người bả
n địa” thay thế cho
các “tộc người thiểu số” ở Việt Nam không phản ánh đúng bản chất quan hệ
17
tộc người. Kể cả sử dụng khái niệm này để chỉ các nhóm tộc người thiểu số
sinh sống lâu đời ở một địa phương nào đó nhằm phân biệt với người Kinh
mới nhập cư cũng không thích hợp, vì đây chỉ là việc xuất cư và nhập cư diễn
ra bình thường của dân cư, lao động gắn với quá trình phân bố lại nhân khẩu
và lao động trong mộ
t quốc gia dân tộc thống nhất, có chủ quyền, được luật
pháp quốc tế công nhận. Điều này cũng lý giải tại sao các quốc gia như Mỹ,
Úc, Canađa lại không ký vào “Tuyên ngôn về quyền của người bản địa” của
Liên Hợp quốc thông qua vào ngày 13-9-2007. Trên thực tế, từ sau quá trình
phi thực dân hoá, vấn đề “tộc người bản địa” chỉ có ở các quốc gia này - vốn
trước đó là thuộ
c địa di dân, rồi sau đó hình thành luôn quốc gia dân tộc với
người ngoại quốc đóng vai trò chủ thể. Còn các quốc gia còn lại chỉ có vấn đề
“tộc người thiểu số” được lý giải trên ba chiều cạnh: (i) vấn đề quan hệ giữa
các nhóm tộc người thiểu số trong một quốc gia - dân tộc vốn tồn tại từ lâu
trong lịch sử; (ii) vấn đề các nhóm tộc người thiểu số m
ới nhập cư từ các
nước khác, kể cả nhập cư bất hợp pháp, diễn ra gắn với dịch chuyển lao động
và nhân khẩu, đặc biệt là dòng nhập cư từ các nước đang phát triển sang các
với động cơ của mình. Trong phạm vi quyền tài phán, một nhà nước, một chính
phủ hoàn toàn có quyền thừa nhận hoặc phủ nhận một nhóm, một bộ phận dân
cư, một tộc người nào đó là “ngườ
i bản địa”, nếu điều đó phù hợp với lợi ích
của quốc gia- dân tộc của mình. Nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ tuyên bố rằng
ở đất nước họ không có “người bản địa” hay những vấn đề liên quan đến người
bản địa mà chỉ có người thiểu số về chủng tộc, ngôn ngữ, văn hoá, tôn giáo…
Mặt khác, các nhóm tộc người cực đoan cũng diễn giả
i khái niệm “tộc người
bản địa” và “quyền của tộc người bản địa”, trong đó đặc biệt là “quyền tự quyết
dân tộc”, gây nên những tác động to lớn và sâu rộng đến quản lý phát triển xã
hội các quốc gia đa tộc người cũng như làm phức tạp thêm bản đồ địa - tộc
người ở các khu vực và trên thế giới. Các vùng tộc người thiểu số Tây Bắ
c, Tây
Nguyên và Tây Nam Bộ của Việt Nam cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó mà
quá trình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội cần tính toán đầy đủ.
2. Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng minh triết Hồ Chí Minh về
tộc người và quản lý phát triển xã hội tộc người thiểu số.
a. Chủ nghĩa Mác - Lênin về quản lý và phát triển xã hội tộc người thiểu
số.
Dù đặt trọng tâm vào nghiên cứu các xã hội có nhà nướ
c, nhưng để hình
dung về logic hình thành và phát triển của nhân loại, K. Marx và F. Enghen
cũng đã đề cập đế các xã hội tiền nhà nước, thậm chí còn nói đến cả những
tộc người dã man. Đặc biệt các nghiên cứu về xã hội ngoài phương Tây, dù
chỉ mới đề cập một cách giản lược trong các bản thảo sau đó được xuất bản
với tiêu đề “Những hình thái kinh tế tiền tư b
ản chủ nghĩa” (Pre - Capitalist
Economic Formations) nhưng rất có ý nghĩa đối với khoa nghiên cứu nhân
học. Ngoài ra, vấn đề các xã hội tiền nhà nước còn được trình bày rải rác
tiền nhà nước, phân công lao động chỉ giản đơn tuỳ thuộc vào tuổi và giới tính
của từng thành viên trong cộng đồng. Mỗi cá nhân là một công cụ nỗ lực sản
xuất của nhóm. Một phần sản phẩm do hộ làm ra được dành cho việc sản xuất
trong tương lai và một phần được tiêu dùng ngay để nuôi sống gia đình. Khi
năng suất lao động tă
ng lên, nhờ cải tiến công cụ sản xuất, của cải dư thừa
xuất hiện, đã phá vỡ tính chất công hữu trước đó. Điều này đã dẫn tới các
cộng đồng dân cư trước đó bình đẳng về phương diện xã hội, bình quân về
phương diện phân phối kết quả sản xuất và các cơ hội khác, đã bị phân hoá
thành thủ lĩnh và thường dân. Tu
ỳ theo những điều kiện ngẫu nhiên của địa lý
và nhân khẩu mà hệ thống xã hội có thể biến đổi theo con đường này hay con
20
đường kia để ra khỏi chế độ nguyên thuỷ
1
.
Ba mô hình mà các tộc người thoát khỏi xã hội nguyên thuỷ để đến với
xã hội có nhà nước là: phương thức sản xuất châu Á, Hy - La và Giéc-manh.
Phương thức sản xuất châu Á mà K. Mark để cập tiêu biểu là ở Ấn Độ thời kỳ
tiền thuộc địa, được xem là phương thức ổn định nhất. Ở đó cá nhân không
bao giờ tách khỏi cộng đồng của mình. Công xã vẫn là một đơn vị tự c
ấp tự
túc về nông nghiệp và sản xuất thủ công, có tất cả những phương tiện để tự
sinh tồn và sản xuất một số lượng sản phẩm thặng dư. Nếu dân số gia tăng,
một phần cư dân cộng đồng sẽ tách ra và thành lập một làng mới với cùng cấu
trúc như làng cũ. Mức cầu đối với lao động của từng thợ thủ
công và chuyên
gia thì cố định. Những ông vua nuôi dưỡng hệ thống quản lý của mình bằng
cách thu sản phẩm thặng dư dưới hình thức cống nạp có thể sáp nhập những
21
hệ thống xã hội kiểm soát sự tiếp cận của con người đối với nguồn tài nguyên,
về tiến hoá xã hội là hệ quả của một động lực nội sinh của xã hội hơn là sự
thích ứng với môi trường,… có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ xem xét các
xã hội có giai cấp và nhà nước mà cả những xã hội tiền nhà nước hoặc tộc
người thiểu số trong qu
ốc gia đa tộc người.
V.I. Lênin trong quá trình lãnh đạo Cách mạng Tháng Mười, tổ chức lại
các dân tộc vốn là thuộc địa của đế quốc Nga, đã nêu lên nhiều luận điểm có
giá trị về mặt khoa học lẫn thực tiễn. Liên bang Xô viết ra đời trên cơ sở xử lý
những di tồn lịch sử về quan hệ dân tộc đan gài với quan hệ tộc người giữa
n
ước Nga và các nước thuộc đế quốc Nga trước đây. Trong rất nhiều tác
phẩm quan trọng như “Ý kiến phê phán về vấn đề dân tộc”, “Quyền dân tộc tự
quyết”, “Chủ nghĩa xã hội và quyền dân tộc tự quyết”, “Sơ thảo đề cương về
các vấn đề dân tộc và thuộc địa”, “Những kết quả thảo luận về quyề
n tự
quyết”, … Lênin đã nêu nhiều luận điểm quan trọng cho giải quyết vấn đề dân
tộc đan gài với vấn đề tộc người. Ba luận điểm sau đây của Lênin có đóng
góp lớn cho lý luận về dân tộc - tộc người và quan hệ dân tộc - tộc người.
Luận điểm về các xu hướng của vấn đề dân tộc: (i) sự thức tỉnh c
ủa ý
thức dân tộc và của các phong trào dân tộc trong cuộc đấu tranh chống áp bức
dân tộc và thành lập các quốc gia dân tộc; (ii) phát triển và tăng cường quan
hệ giữa các dân tộc trong việc xoá bỏ những hàng rào ngăn cách các dân tộc
và trong việc thiết lập sự thống nhất quốc tế của tư sản, của đời sống kinh tế
nói chung, của chính trị, của khoa học
1
.
quyết dân tộc thì Lênin cũng lưu ý cần hiểu đúng đắn nguyên tắc quyền tự
quyết dân tộc. Tự quyết dân tộc không có nghĩa là nhất thiế
t mọi dân tộc phải
tách khỏi nước lớn trong mọi điều kiện. Ông lưu ý rằng, chúng ta đòi quyền
tự do tự quyết không phải là chúng ta mơ ước sự phân nhỏ kinh tế hay mơ
ước xây dựng các nước nhỏ bé, mà ngược lại vì chúng muốn những quốc gia
to lớn và sự xích lại của liên bang các dân tộc nhưng trên cơ sở thực sự dân
chủ, thực sự quốc tế, và tr
ở nên vô nghĩa nếu không có sự tự do tách ra. Từ
nguyên tắc này có nảy sinh vấn đề xây dựng các khu vực tự trị - một hình
thức để giải quyết vấn đề dân tộc trong một quốc gia đa tộc người. Khu vực tự
trị được xây dựng trên một vùng lãnh thổ nhất định với thành phần đặc biệt
của dân cư, do sự khác biệt về những điều ki
ện kinh tế, đời sống, ngôn ngữ,
đặc trưng về văn hoá. Ông cho rằng: “Hoàn toàn hiểu là người ta không thể
quan niệm một quốc gia hiện đại thật sự dân chủ mà lại không có quyền tự trị
như thế cho mọi vùng có những đặc điểm dù là không lớn lắm về kinh tế hoặc
về lối sinh sống, và có một thành phần dân tộc đặc biệt”
2
. Luận đề này rất có
ý nghĩa đối với việc tổ chức lãnh thổ ở những quốc gia mà có tộc thiểu số cư
trú một cách riêng biệt, mật tập cao kiểu như Liên bang Xô viết hay Trung
Quốc.
Ngoài ra còn có thể kể đến những luận điểm khác nữa như đoàn kết dân
tộc hay vấn đề dân tộc - tộc người chỉ được giải quyết triệ
t để khi không còn
1. V.I Lênin: Sơ thảo đề cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa. Tuyển tập, quyển II, Nxb Sự
thật,, H, 1959, tr.4, 27.
2. V. I. Lênin: Ý kiến phê phán về vấn đề dân tộc, Sđd, tr. 50.
và trong thái âm có thiếu dương vậy. Lối tư duy phương Tây thường đối lập
các tộc người “văn minh” với tộc người “dã man”, giữa dân tộc “trung tâm”
với dân tộc “ngoại vi”, từ đó dễ dẫn tới áp đặt cách nghĩ của họ cho các tộc
người ngoài phương Tây. Vì vậy, cần phải “giải duy lý hoá” cách tư duy
phương Tây thì mới có khả năng tiếp cậ
n các xã hội tộc người thiểu số một
cách sát hợp.
Tiếp cận từ minh triết tộc người cho phép “giải duy lý hoá” lối tư duy
phương Tây nêu trên, mà minh triết tộc người của Hồ Chí Minh là một ví dụ
tiêu biểu. Minh triết hình thành không chỉ bằng lối duy lý, mà cơ bản bằng
nghiệm sinh của bản thân mỗi con người cũng như cộng đồng tộc người. Nếu
24
triết gia thường thể hiện tư tưởng của mình bằng những trước tác đồ sộ, bằng
tranh luận kiểu thắng - thua thì các nhà minh triết trong nhiều trường hợp
không hẳn như vậy mà lại thể hiện trong “vô vi” hoặc bằng hành động. Nếu
triết gia muốn nhận thức thế giới thì nhà minh triết cần ngộ, cảm, nếu như
triết gia thường thể hi
ện sự ganh đua giữa các trường phái thì nhà minh triết
quan trọng hơn là sự thoả đáng, sự hẳn hoi. Biết và ngộ là hai cấp độ khác
nhau. Biết không dễ, nhưng ngộ khó hơn rất nhiều. Biết rất nhiều nhưng chưa
hẳn đã ngộ được một điều giản đơn. Muốn giải quyết thỏa đáng vấn đề tộ
c
người thì cần phải tiếp cận từ góc độ minh triết. Tiếp cận các tộc người thiểu
số bằng lối duy lý kiểu phương Tây nhiều khi không chỉ khó nhận thức đời
sống mà còn dễ định hình nên các chính sách quản lý và phát triển xa lạ với
tâm thức tộc người. Tiếp cận từ góc độ minh triết tộc người sẽ cho phép thấu
hiểu và thấu cảm đượ
c đời sống xã hội tộc người. Minh triết Hồ Chí Minh
thuộc dạng thức như vậy, được thể hiện ở cả hình thức hữu ngôn và vô ngôn,
vào cấu trúc quyền lực bằng nhiều hình thức “cứng” và “mềm” khác nhau.
Đoàn kết dân tộc trở thành một nội dung trọng y
ếu trong tư tưởng minh triết
tộc người của Hồ Chí Minh, trong đó có sự đoàn kết giữa các tộc người thiểu
số với tộc người đa số, giữa tộc người thiểu số này với tộc người thiểu số
khác, khắc phục các định kiến tộc người và vị chủng tộc người, phòng và
chống các biểu hiện chia rẽ tộ
c người. Ngay từ năm 1946, trong Thư gửi Đại
hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plâycu, Hồ Chí Minh đã viết: “Ngày
nay nước Việt Nam là nước chung của chúng ta… Giang sơn, chính phủ là
giang sơn, chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả các dân tộc chúng ta
phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta.
Chúng ta phải yêu thương nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau
để
mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta.
Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết chúng ta không
bao giờ giảm bớt”
1
.
- Đa tộc người là một đặc điểm tốt, một vốn quý đối với nước ta
2
- mà
nguồn gốc của nó chính là sự đa dạng của sinh giới. Bên cạnh nét tương
đồng, mỗi tộc người còn có sắc thái riêng, được Hồ Chí Minh xem là một
trong những tiềm năng to lớn của đất nước và của mỗi tộc người cần được
khai thác phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bằng lối nhìn minh
triết, Hồ Chí Minh luôn phát hiện được hệ
giá trị của các tộc người thiểu số
như “rất trung thành, chịu khó”, “rất thật thà và rất tốt” mà những người cách
mạng cần nhận diện và phát huy đầy đủ. Các phẩm chất đó của đồng bào